This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2006

Báo thù



Gió đã lặng. Những áng mây nặng nề giăng mắc bầu trời. Sương mù dày đặc. Có lẽ đang buổi chiều hoặc hoàng hôn, cũng giống như những buổi chiều đông, và lớp tuyết dưới chân anh ta vỡ vụn. Anh đang đi trên con đường mòn dẫn lên núi. Thật khó thấy những gì ở quá tầm mười bước chân.


Những con đường này chẳng có gì nguy hiểm. Tâm hồn anh nặng trĩu, anh đi và thầm nghĩ. Núi non trông rõ hơn, bầu trời xanh xanh như vừa mới được lọc xong. “Thời tiết sao mà tồi tệ thế, còn tâm hồn ta sao quá nặng nề thế!” và anh tiếp tục leo cao hơn. Anh ta 33 tuổi, bàn tay trái thiếu mất hai ngón và tên anh là Karl Klotz.

Qua một khúc ngoặt, anh bỗng nghe thấy một tiếng kêu rên, nghe rờn rợn như tiếng của một con ó hay một con kên kên đang hấp hối ở gần đâu đây. Anh kinh hãi đứng lại và nghe ngóng. Xung quanh im vắng như cõi tha ma, một sự tĩnh mịch nặng nề bao trùm không gian. Đột nhiên, tiếng rên rỉ ma quái ấy lại vang lên, rất gần, hình như trước mặt anh ta vậy.

Anh lao về phía trước chừng vài mét bọc quanh một chỗ ngoặt của con dốc dựng đứng để qua bên trái. Sương mù làm cảnh vật sáng lờ mờ. Anh ta nghe tiếng rên, ngay phía trước mặt. Một người đang ở dưới chân anh hai mét, bị mắc vào lùm cây, hai tay hắn bấu chặt vào nhánh cây cho khỏi bị rớt xuống vực sâu thăm thẳm phía dưới. Khuôn mặt hắn bị khuất, anh chỉ trông thấy cái gáy của hắn mà thôi. Sương mù che kín cái miệng vực đen ngòm và khủng khiếp bên dưới. Hắn lại ngoác miệng rên rỉ, những tiếng rên rợn người.

Klotz cúi mình xuống miệng vực. Một người đang trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm. Phải cứu hắn thôi! Mỗi người phải có bổn phận cứu giúp người khác. Klotz cúi mình xuống miệng vực, bối rối và thất vọng vì không biết phải làm thế nào cứu được người bị ngã ấy khỏi rơi vào cái khoảng không khủng khiếp bên dưới. Anh hét vọng xuống: “Ông ơi, ông! Làm thế nào bây giờ?”.

Hắn im lặng ngước mặt lên nhìn Klotz. Họ nhìn nhau chằm chằm. Một tia chớp dường như lóe lên trong đầu Klotz, anh chợt nhớ đến một kẻ tội lỗi. Anh gào to: “Anh tên gì?”.

Gã bên dưới nghĩ, chắc cái gã ở trên miệng vực điên rồi. Tên mình là gì thì có quan hệ quái gì trong lúc này. Tên hắn là Panter, nhưng biết tên để làm quái gì? Hắn gào to vọng lên trên, giọng nói vang lên như giọng của thần linh đang nổi giận: “Anh ơi! Cứu tôi! Kéo tôi lên bên trên đi! Lấy một cành cây hay cái thắt lưng của anh thòng xuống cho tôi nắm! Cứu tôi với!”.

Klotz gào lên: “Anh tên gì? Trước tiên tôi phải biết tên anh là gì đã”.

Gã bên dưới thầm nghĩ: “Quả là một thằng điên, một con quỷ.” Gã hét lên: “Panter, tên tôi là Theodor Panter! Cứu tôi với! Tôi giàu mà. Tôi có tiền, người ta phải cứu tôi. Tôi là người thượng lưu!”.

Klotz cười phá lên và hét vọng xuống: “Đúng vậy! Mày là kẻ thượng lưu, còn tao là kẻ hạ lưu. Mày không còn nhớ gì sao? Chắc mày không biết tên tao đâu. Nhưng tao biết tên mày. Mày giàu lắm, người ta luôn biết tên những người giàu có. Chắc mày còn nhớ cách đây ba năm, khi chuyến tàu bị đắm ở biển Atlantic, mày đi tàu và ở cabin hạng nhất, còn tao thì cabin hạng ba. Khi con tàu chìm dần, hành khách nhốn nháo gào thét, gió cũng gào thét, biển xanh và trắng trong dông bão. Thuyền trưởng ra lệnh, trước tiên là đàn bà và trẻ con xuống xuồng cấp cứu. Sau đó là hành khách ở cabin hạng nhất, rồi hành khách ở cabin hạng nhì. Thế rồi các xuồng cấp cứu đều chật ních! Còn bọn đi vé hạng ba như chúng tao thì sao? Đành phải mang phao và bơi giữa biển. Tao cũng lãnh một cái phao. Tao nhảy xuống biển và bơi, suýt bị chìm, tao bấu lấy mạn xuồng cấp cứu của chúng mày. Xuồng đã chật ních người, giữa biển cả mênh mông, giữa thần chết của biển. Chính mày hét lên: “Ê, lại một thằng nữa!”. Tao bấu bàn tay trái vào mạn xuồng, mồm nuốt đầy nước biển. Một thủy thủ bảo: “Để cho hắn leo lên đi”. Còn mày thì gào lên: “Xuồng đã đầy rồi”. Đồng thời mày lấy toàn bộ sức lực phang mái chèo vào bàn tay trái của tao. Thế là tao buông tay, đau đớn và tuyệt vọng, coi như đã đi đứt trăm phần trăm. Nhưng một chiếc tàu cứu hộ chạy đến, và tao sống, sống ngoài ý muốn của mày.”

Panter van vỉ: “Ông ơi, cứu tôi! Tôi mất hết sức lực rồi, cứu tôi với!”.

Bấy giờ Klotz thòng hai chân xuống vực, tay bấu víu lấy gốc cây bên miệng vực. Anh ta đạp gót giày đinh lên bàn tay của cái gã Panter bên dưới, đôi bàn tay gã đang níu kéo cành cây như níu kéo sự sống. Cành cây gãy, rơi vào khoảng không hun hút bên dưới, kèm với tiếng kêu thét kinh hoàng chấn động cả vùng núi tĩnh mịch. Và Karl Klotz bừng tỉnh dậy.

Klotz đang nằm trên trường kỷ trong căn phòng tươm tất của hắn tại Berlin. Chẳng phải đồi núi gì sất. Căn phòng hắn nhạt nhòa trong ánh hoàng hôn của chiều đông lạnh. Karl Klotz bừng tỉnh dậy mà tim vẫn còn đập thình thịch. Anh bước đến gần cửa sổ, miễn cưỡng nhìn lên bàn tay trái: hai ngón tay bị mất.

Anh ta nghĩ: Mình là thằng vất đi rồi. Không thể nào mà quên được chuyện này. Thật kinh khủng, sao cái gã trong giấc mơ lại ác độc đến vậy! Còn cái gã đi vé hạng nhất ấy – cái lão Theodor Panter – đâu phải là thằng ma cà bông mà là chủ nhà băng hoặc nhà sản xuất. Giá mà hắn đừng có đập nát tay mình, nhưng mà hắn đã cố ý đập. Thật là quá đáng. Báo thù chăng? Liệu báo thù có làm mình tiêu tan những đau đớn phải gánh chịu trong thời gian qua? Tuy nhiên, nay mai mà mình thấy hắn ở đâu, trên đường phố hay trong nhà băng, quán cà phê, xe lửa, hay văn phòng chẳng hạn, mình sẽ không giết hắn đâu. Mình chỉ tóm áo hắn, phun nước bọt vào mặt hắn, rồi nện một lượt hai tay vào mặt hắn để hắn phải mang vết bầm dập trong ba ngày.

Karl Klotz, 33 tuổi, hai ngón tay trái bị cụt, hiện là một nhân viên kế toán thất nghiệp. Anh ta vào một quán cà phê. Ngồi trầm ngâm hai tiếng đồng hồ bên tách cà phê, nghe tiếng nhạc thánh thót mà lòng sao vẫn nặng nề.
Anh biết rằng anh không còn tiền nữa, không còn quan hệ với ai, không còn cơ hội tìm một chỗ làm mới. Cuộc đời anh thực ảm đạm không lối thoát. Anh đứng dậy và rời khỏi quán cà phê, bỗng có tiếng gọi sau lưng. Đấy là Meier, một bạn học cũ. Hầu như trong danh sách học sinh của bất kỳ lớp nào cũng có tên Meier, viết na ná nhau như Maier, Mayer hoặc Meyer. Anh ta là người trầm lặng, không có gì nổi bật, sau này ra đời làm nghề thu thuế hay kế toán thương mại gì đó.

Meier là kế toán trưởng của một công ty kỹ nghệ. Được biết Klotz đang thất nghiệp, anh bảo Klotz ngày kia hãy đến gặp ông giám đốc. Công ty của anh đang cần tìm thêm một nhân viên kế toán có kinh nghiệm và năng nổ. Còn ngày mai thì đem đơn xin việc và giấy tờ đính kèm đến văn phòng của Meier. Anh ta sẽ nói giúp, chả là anh có quan hệ tốt với giám đốc mà.

Klotz vâng lời. Hôm sau anh cạo râu, hớt tóc cẩn thận%2
C ăn mặc tươm tất đến công ty. Meier đón tiếp niềm nở, và ghé tai nói nhỏ, sự việc hệ trọng đấy, ráng mà tạo ấn tượng tốt khi lần đầu gặp giám đốc Panter. Đồng thời Meier bảo cô thư ký vào gặp giám đốc và báo rằng có ông Klotz đến.

Klotz nhợt nhạt, lắp bắp hỏi: “Có phải giám đốc tên là Theodor Panter?” Meier khẽ nói: “Tất nhiên rồi. Ráng mà tranh thủ cơ hội nghe. Công việc có mòi tốt đấy”.

Nhưng rồi người ta cũng dẫn Klotz vào phòng của giám đốc. Một ông đang ngồi bên bàn giấy và lúi húi đọc. Ông ta ngước lên nhìn. Quả đúng là Theodor Panter rồi. Đích thị là hắn. Panter đang là giám đốc công ty cổ phần hữu hạn này! Hắn nói: “Mời ông ngồi, à không, ngồi đằng kia ạ. Ông đã làm việc trong một ngân hàng lớn nào chưa? Công việc ở đó là gì?”.

Klotz trả lời lí nhí, không phải trả lời cho câu hỏi của giám đốc, cũng không trả lời cho riêng mình. Anh ta ngồi đó, trên chiếc ghế bọc da trong căn phòng lịch sự của công ty đồ sộ này, và suy nghĩ lung tung trong đầu. Cái tên sát nhân. Nó đang ngồi trước mặt mình. Mình phải nói năng với nó thế nào đây. Mình phải lắng nghe nó nói, hẳn rồi, thưa ông giám đốc, ông nghĩ sao ạ, vâng hoàn toàn đúng theo ý ông thôi ạ... Chẳng có thằng nào rơi xuống vực trong sương mù cả. Mà nó ngồi đấy, béo tốt, tròn quay, thỏa mãn, một kẻ thành công! Hắn ngồi đó, giàu có và sung sướng như ông vua vậy. Còn mình ngồi trước mặt lão, nghèo đói và thất nghiệp. Một tên sát nhân ngồi trước mặt mình, hay chỉ đơn thuần là giám đốc mà thôi?

Mình phải đứng dậy, Klotz thầm nghĩ, và nhổ nước bọt vào mặt hắn. Mình phải thộp cổ áo hắn, nhưng không giết hắn, mà nện cả hai tay vào mặt hắn để hắn mang dấu vết cú nện này suốt ba ngày.

Klotz ngồi đấy và lắp bắp: “Hẳn rồi, thưa ông giám đốc! Ông cứ ra lệnh đi ạ! Vâng, lẽ đương nhiên là thế, thưa ông, hoàn toàn tùy theo ý kiến của ông thôi ạ!”. Klotz ngồi đấy, con tim đã chết.

Lão giám đốc nói với Klotz lần thứ hai, giọng lão khô khan: “Thôi, được rồi, ông Klotz. Bây giờ ông có thể ra về. Chúng tôi sẽ có thư báo tin cho ông rõ”.

Klotz hốt hoảng bật người đứng dậy, khúm núm như con chi chi, mồm lắp bắp, chả là hai năm nay anh thất nghiệp, không một đồng dính túi: “Vâng, xin đa tạ lòng tử tế của ông, thưa ông giám đốc! Kính chào ông ạ! Kính chào ông ạ!”. Rồi Klotz bước ra.

Anh đã ra tới ngoài đường, thầm nghĩ: Thế là ta đã không báo thù! Ta đã không báo thù! Ta đã không bước lên xác hắn. Không có báo thù. Báo thù chỉ có trong giấc mộng của kẻ bị chà đạp nhằm tự an ủi mình. Trong đời không có báo thù! Bởi vì kẻ bị chà đạp sẽ bị chà đạp thêm lần nữa! Còn kẻ chết sẽ bị chết thêm lần nữa.

Klotz ngồi xuống một băng đá, cây cối xung quanh anh ta xanh xanh và vô hồn vô cảm như những khách bộ hành qua lại. Anh ta nhìn lên bàn tay trái, tận gốc hai ngón tay bị mất. Anh cắn lấy bàn tay và khóc rưng rức.

Vào ngày sau, anh nhận được một lá thư ngắn gọn: “Rất tiếc, chỗ làm đã có người”. Ký tên: Giám đốc Panter.

Chiều đó, Klotz đến văn phòng công ty và nhận lại hồ sơ. Meier vội vàng ấn một cái gì đó vào tay Klotz và nói hơi tiêng tiếc: “Thực đáng tiếc! Mình thực sự lấy làm tiếc về vụ này”.

“Nhưng tại sao?” - Klotz hỏi đầy xúc động. Anh ta đã quên tất cả: biển, báo thù, cái chết và giấc mơ. Anh chỉ biết rằng hai năm nay anh đã thất nghiệp. Anh lắp bắp: “Nhưng tại sao?”.

Meier ghé mình sát vào Klotz và khẽ nói bên tai với vẻ mặt trọng đại: “Ừ, chính mình cũng không hiểu tại sao nữa, có điều ông giám đốc bảo rằng các bằng cấp của cậu đều tốt cả, nhưng ông ấy có ấn tượng là tác phong của cậu trông hèn hèn thảm hại làm sao ấy!”.

Klotz đột nhiên cười phá lên: “Ồ! Chẳng phải là tớ có ác cảm với bản thân lão ta sao?”. Thế là anh ta cầm lấy hồ sơ, chỉ cảm ơn Meier một tiếng rồi bước đi.

Meier đứng trông theo hồi lâu, và lắc đầu: Cái thằng Klotz này thật sự khó mà thông cảm được. Dầu sao nó cũng là bạn học của mình! Thế rồi Meier đi vào văn phòng giám đốc.
187

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2006

Bà Mụ Của Búp Bê



Tiếng khóa cổng lách cách, tiếng xe nổ. Tiếng càu nhàu của con dâu ông. Ðó là những âm thanh cuối cùng mà ông lão đợi - ông biết chúng đã đi làm, hai con bé đã đi học mà bây giờ ông và con Lỡ sẽ tự do trong ngôi nhà vắng lặng.

Ông chui ra khỏi cái hộp của ông, một cái buồng nham nhở, hai mặt tựa vào hông tường và bếp, một mặt che tấm ván ép, một mặt trống hoác làm cửa ra vào. Ông đã quen đổi chỗ từ hai mươi năm nay, khi con ông trở thành chủ nhân trong ngôi nhà của cha mình. Từ lầu đến trệt, từ phòng trước đến phòng sau, từ phòng rộng đến phòng hẹp và bây giờ kề bên bếp. Lần này thì chính ông đề nghị: "Bây để tau xuống nhà sau ngủ. Tau hay đi tiểu đêm mà cửa thì bây khóa...".

"Không khóa để ông đi ra, kẻ trộm đi vào à?". ' Con ông càu nhàu. Còn vợ nó thủng thỉnh: "Mùa hè, nằm đó khác chi hứng gió biển". Nằm đó là nằm ở khúc nhà ngang nối liền nhà trên với bếp. ở đó có mái nhưng tường không che chắn kín đáo như nhà trên. Thồng lộng. Con ông che tạm cho ông cái buồng này và bảo: "Rồi thư thư... con xây thành phòng". Tối đến khi cánh cửa thông đã khép, cắt ông với thế giới "trên nhà", ông thấy dễ chịu khi được một mình với yên tĩnh và bóng tối. Ông có thể ngắm cả mảng trời sao nhấp nhánh. Cả vầng trăng viên mãn tròn đầy. Cả lúc trăng mỏi. Cả những bóng cây vật vã vào nhau trong đêm mưa gió. Cũng còn dễ chịu hơn rón rén đái vào bô, từng tí, từng tí để tiếng nước tiểu không làm con dâu thức giấc, còn hơn níu tiếng đằng hắng cứ chực vọt ra khỏi họng. ở đây, ông có thể tự do đi lại, uống nước khi không ngủ được. Người già uống nhiều hơn ăn, ông có thể uống trà trừ bữa. Nhắc trà ông lại nhớ chén - cái chén sứ men lam bắt tuấn mã ông thường dùng nay đã cất trong tủ buýp-phê trên nhà. Ông có thói quen vừa uống trà vừa ngắm cái vẻ dữ dằn tuấn vĩ của tám con ngựa ở tám tư thế khác nhau. Nét vẽ sống động bằng màu xanh đậm mà vẫn trong như ngọc bích. Men trắng xanh lơ quý phái. Trà sóng sánh vàng bốc khói, tám con ngựa oai phong lẫm liệt. Uống trà trong chén ấy mới tuyệt làm sao! Nhưng chúng nói phải. Chén quá quý mà tay mình thì run - vỡ uổng lắm. Ðể còn mà ngắm - ông lão lại chép chép miệng móm mém rồi đi tìm con Lỡ. Nó đang kéo lê đôi chân cong vòng, nhỏ như cây sậy đi tìm ông. Nó ngủ trên kia nhưng khi cả nhà đi hết, nó lại được thả xuống cho ông. Con và dâu ông mắc một chứng bệnh kỳ dị - bệnh sạch. Ði làm về là chúng dọn dẹp lau chùi cho đến khi bóng như lau như li. Ðồ không dám dùng. Ngồi không dám dựa. Con cái không được chơi làm bẩn đồ đạc bóng lộn. Chúng làm lụng cực nhọc nhưng chúng không thuê người giúp việc vì sợ thêm người thêm bẩn. Vả lại đời nay biết đâu mà tin.

Con Lỡ toét miệng cười với ông. Ông đến bế nó. Ngó nó lết mà thương. Nhưng ông không bế nổi con bé. Hai ông cháu lảo đảo. Ông ngồi chỗm hỗm cho nó bá cổ. Con Lỡ nằm bẹp trên lưng ông và hai ông cháu đi đến chỗ để thức ăn. Con Lỡ vừa ăn vừa "khóc" như mọi khi. Cũng như mọi khi, nó vừa ăn vừa đút cho con búp bê trụi tóc, gãy tay của nó. Cha mẹ nó chẳng chờ đợi nó ở ngôi nhà này. Họ đợi một đứa con trai. Mẹ nó đã quay lưng khóc khi cô đỡ chìa ra một cô bé gái nhăn nheo, đau khổ như một bà cụ. Ðứa con gái thứ ba! Lại xấu xí! Lại gầy gò vì thiếu cân, thiếu tháng! Lại bị què sau trận sốt tê liệt khi lên hai!. Ðôi lúc người mẹ cùng ăn năn. Giá chăm chút nó như hai đứa trước, uống, tiêm phòng đầy đủ. Thôi thì lỡ rồi. Lỡ sinh. Lỡ quên. Ngưòi ta gọi nó luôn là con Lỡ. Nó lại bị cái gì đó ở tuyến lệ nữa. Nước mắt cứ ri rỉ ngay cả khi nó cười: Trong ngôi nhà sạch bóng, tươm tất này, nó và ông thật lạc điệu - xấu xí, vô dụng - ông đọc điều đó trong cái nhìn. ăn xong, hai ông cháu ngồi chơi trên chiếc ghế mây dưới bóng cây. Một già một trẻ có thể ngồi đó suốt buổi cho đến khi có tiếng khóa lách cách trở lại. Con Lỡ lắng nghe ông nói, không hiểu, không khen chê nhưng vẫn nghe. Nó thường bắt lấy chữ cuối của ông làm chữ đầu của nó. Tuổi tác có ý nghĩa gì khi mọi sự đều trở về. Tóc trở màu, con người lại bắt đầu như một đứa trẻ, yếu đuối, bất lực, sợ hãi, ngây thơ. Thường ông kể chuyện cho nó nghe, chuyện đời, chuyện xưa nay, bày cho nó đếm, nó đọc. Còn nó bày cho ông bán hàng bằng lá, chơi búp bê. Sáng nay mặt con Lỡ đầy vẻ nghiêm trọng. Nó cứ nhìn chăm chăm con búp bê cũ kỹ hai đời chị quẳng lại cho nó và bảo ông:

- Sáng nay con búp bê sẽ đẻ con.

- Sao cháu biết?

- Nó nói.

- Nó nói sao?

- Nó nói nó đau bụng. Con nó ở chật bụng nó.

Ông lắc đầu. Bao giờ con bé cũng ao ước con búp bê đẻ. Mẹ nó biết đẻ. Con mèo biết đẻ thì tại sao con búp bê không đẻ? Nó sẽ đẻ một con búp bê tóc vàng, má hồng và lành lặn. Ðôi khi cả một bầy búp bê cũng có!

Giá mình có thể "đẻ" cho nó một con thế nhỉ! Ông lão lẩn thẩn nghĩ. Tia mắt già nua đậu trên con bé Lỡ. Ðậu trên những chiếc lá vàng nâu nằm uể oải trên mặt đất.

- Ông thấy không? Con Lỡ lắc tay ông - Bụng con búp bê sáng nay bự chác. Nó đựng đầy con. Nhưng con nó làm sao ra được?

- Thì... thì... cũng như bà cho ra ba cháu. Mẹ cháu cho ra cháu. Có một bà tiên người ta gọi là bà mụ. - Thế bà mụ của búp bê đâu?

- Cháu đấy!

- Cháu không biết làm bà mụ. Bà mụ phải làm gì?

- Gối lên chân ông ngủ và đợi.

- Không, cháu không ngủ. Con bé lắc đầu quầy quậy.

Ông nhớ lại lúc con mèo mun đẻ. Con bé đã ngồi bên nó suốt buổi để đợi xem em-bé-mèo.

- Cháu không ngủ. Có bé lập lại, nhìn ông bướng bỉnh. Chính lúc ấy ông mới thấy mắt con bé đẹp vô cùng - trong như nước hồ thu, ươn ướt. "Giống hệt mắt bà ấy" - Ông lão thì thầm.

- Bà ấy nào?

- Bà cháu.

Rồi ông lão nhìn đăm đăm vào khoảng trống trước mặt, dường như bà hiện ra ở đó, mãi mãi ở tuổi thanh xuân với những dải nước màu đen sóng sánh, đôi mắt trong ngần, đôi má vàng óng nắng, phơn phớn lông tơ.

- Này ông! Sao con búp bê lâu đẻ thế?

Bóng bà tan biến. Con Lỡ nhìn ông chăm chú:

- Ơ! Mắt ông cũng có nước. Mặt ông lại nhăn thêm nữa. Một, hai, ba, mười, mười lăm... Nhiều quá. Chẳng ai nhiều như ông, đếm bắt mệt!

- Tại năm tháng đó cháu. Năm tháng đi qua để lại dấu vết. Ông đã sống nhiều năm tháng quá rồi!

Và bà lại hiện ra, một bà lão khô héo, cái lưng nằm mãi vì bệnh đến lở lói. Khuôn miệng cay đắng thốt những lời cay nghiệt. Ðôi mắt mờ đục chất ngất mệt mỏi.

- Thế ông cất năm tháng của ông đó à? Khi hết chỗ ông sẽ cất ở đâu?

- Khi đó ông chết.

- Ðừng... cháu sẽ chơi với ai? Miệng con bé méo xệch - ông đừng chết. Cháu sẽ cất giùm ông nếu ông hết chỗ. Ông đừng chết!

- Chưa chết đâu! Con búp bê gọi cháu kìa!

Con bé lại quên ông. Nó quay qua con búp bê mất tay:

- Này đau bụng hả? Mày đẻ con thôi. Mày đẻ một con búp bê tóc vàng đẹp như công chúa, không trụi tóc, không gãy tay. Con mày sẽ đẹp dùm mày.

Con-mày-sẽ-đẹp-dùm-mày. Chao ôi! Con Lỡ nói một câu hay quá. Ông nhìn cháu ngạc nhiên. Ông nhìn hai cẳng chân cong vòng, nhìn thân hình èo uột, mái tóc lơ thơ và chợt nhận ra nó không ngô nghê như hai chị nó, rằng ông quá hoài phí năm tháng để hiểu điều này. Trong bản chất mỗi con người, mỗi sự vật, có cái người ta không thể học được. Ôi con Lỡ của ông! Từ khi bà mất, lòng ông nguội lạnh. Chính con bé què quặt ốm yếu này đã hâm nóng nó lại. "Ai mạc ư tâm tử". Mọi sự đau xót không gì bằng nguội lạnh con tim. Thật đúng!

- Ðúng là con búp bê sắp đẻ phải không ông?

- ừ.

- Nhưng lâu quá! Con bé rên lên nhìn ông nôn nóng.

Con - nó-làm-đẹp-cho-nó. Con người được cứu vãn nhờ sự tái sinh. Ông không thể dập tắt niềm tin ấy của con Lỡ. Ông lão trầm ngâm suy nghĩ rồi đứng phắt dậy:

- Nó sẽ đẻ! Ông lão dõng dạc tuyên bố. Có điều cháu phải kiên nhẫn chờ. Ông đi mời bà mụ đây. Cháu sẽ giúp ông bằng cách ngồi yên trên ghế, không được rời con búp bê.

- Mau lên ông! Cháu sẽ ngồi yên mà! Con bé rối rít giục. Ông lão tất tả ra cổng rồi đột nhiên ông khựng lại, quay lui. Cả hai ông cháu tuyệt vọng nhìn cái ổ khoá cổng to tướng. Con Lỡ bắt đầu thút thít.

- Ðừng khóc! Ông có cách rồi.

Ông đi tìm cái ghế cao con ông vẫn dùng để tỉa hoa giấy. Nó được dựng gần tường. Ông kéo nó sát hàng rào, vụng về, khó nhọc. Ông dặn con Lỡ lần cuối trước khi leo lên:

- Nhớ ngồi yên. Ðừng tụt xuống té nghe!

- Dạ! Ði nhanh ông nghe!

Ông già bắt đầu trèo lên chiếc ghế cao. Chân ông run run, lóng nga lóng ngóng nhưng lòng ông rạo rực. Thằng bé nghịch ngợm trong ông hồi sinh - cái thằng cu Ðen thề không đặt chân xuống đất khi ở nhà một mình. Nó chỉ nhảy từ bàn qua ghế, từ ghế qua giường... Ông ngồi trên bờ tường nhìn xuống đường. Bây giờ ông phải xuống đó không có ghế. Ông bấu tay vào gờ tường và tụt xuống. Cứ nghĩ mình đi - ngược-lại. Ông vừa tụt xuống vừa lẩm bẩm và niềm vui lẫn sợ của thằng cu Ðen trèo tường đi chơi cứ làm tim ông đập thình thịch. Thời gian không thực có. Nhảy đi, cu Ðen! Nửa thước chứ mấy. Ông lão nhảy. Thằng cu Ðen táo tợn vỗ tay. Còn ông lão đau quá, khuỵu xuống. Ông nhăn mặt nhưng sực nhớ con Lỡ, ông đứng dậy, ông vịn tường bước khập khiễng. Ðể đỡ đau, ông tụt dép cầm tay. Có năm năm rồi ông không ra đường. Phố xá bây giờ lạ quá. ông lại là đứa con nít sợ lạc trước dòng người và xe cộ nườm nượp.

"Này nằm yên đó. Ông sẽ về bây giờ với bà mụ và mày sẽ hết đau bụng, sẽ đẻ cho tau một con búp bê tóc vàng, lành lặn - con Lỡ thầm thì. Nó cảm thấy buồn đái, nhưng nó nhớ lời ông dặn không được rời con búp bê, không được tụt xuống té. Mày cũng khó chịu thế chứ gì. Như tau buồn đái thế thôi". Con bé ôm bụng nhăn nhó. Con búp bê mở to đôi mắt biếc có hàng mi cong vút nhìn trời. "Chịu khó đi rồi con mày sẽ làm đẹp cho mày. Con mày sẽ không rụng tóc và gãy tay như mày. Con tau... không biết rồi con tau có làm đẹp cho tau không? Chân tau không như mọi người. Tau không làm đẹp cho mẹ và mẹ không thương tau!" Con bé thở dài. Hoa nắng bắt đầu nhảy nhót trên áo nó. Con búp bê nhắm mắt ngủ. Con bé cũng thiu thiu.

Khi con Lỡ mở mắt, điều kỳ diệu đã xảy ra. Ông nó ngồi cạnh nó. Con búp bê tóc vàng, má hồng nằm cạnh con búp bê trụi tóc, cụt tay. Còn nó, nó nằm trên vũng nước tiểu.

- Ôi! Nó đẻ rồi! Thế bà mụ đâu! Cháu muốn cảm ơn bà.

- Bà mụ đi rồi. Bà còn phải vội đi đỡ đẻ cho con búp bê khác.

- Sao ông không thức cháu?

- Rồi nó nhìn cái quần ướt sũng, bẽn lẽn: - Cháu không định tè trong quần, nhưng...

Ông vừa nhăn nhó vừa cười. Nom ông là lạ. Nửa như nó, nửa như ông.

Ông lão ngồi thở, ông còn mệt và còn đau chân lắm; khó lòng tưởng tượng những gì ông đã làm sáng nay. Nó cũng kỳ diệu và khó nhọc như con-búp-bê-đẻ-con vậy.

Con Lỡ nhìn sững con búp bê tóc vàng. Nó đẹp dễ sợ. Nó không như con mèo mới đẻ, lông bết dính và mắt nhắm tít. "Mày thích lắm nhỉ - Bây giờ mình có ba người - Ban ngày thêm ông là bốn. Tau sẽ giấu mày trong chăn - Chị tau mà thấy họ không để yên cho mày đâu".

Ðêm đó ông lão không ngủ được, ông gác hai cẳng chân đau nhức, mỏi nhừ lên thành giường. Ông đã đi bộ đến mấy con đường với cái chân đau. Chính thằng cu Ðen táo tợn, bướng bỉnh ấy kéo ông đi tới cửa hàng búp bê. Ông thò tay vào ngực - Bà vẫn nằm yên trong đó, gối đầu lên ngực ông. Chỉ có khác là bức chân dung hồi trẻ của bà lồng trong trái tim bằng ngọc bây giờ không được treo sợi dây chuyền vàng nữa - nó được thay bằng một sợi dây rút từ bao xi măng. Trong bóng tối đôi mắt đẹp như mắt con Lỡ nhìn ông cười có đuôi. Con Lỡ chắc ngủ ngon sau khi trò chuyện với lũ búp bê. Ông mơ màng thấy thằng cu Ðen kéo một toa tàu, một ông lão cà nhắc, một con bé cà thọt và một bà lão muôn thuở tuổi đôi mươi.

Trên nhà, con Lỡ ôm hai con búp bê ngủ. Nó mơ nó đẻ con. Ðẻ ra một con Lỡ con lành lặn, đôi chân tròn trĩnh xinh đẹp lộ trong chiếc áo đầm voan trắng. Con Lỡ con đẹp giùm mình. Mặc áo đầm giùm mình. Con bé ngủ thiếp với ý tưởng đó. Còn con búp bê trơ trụi tóc, gãy tay thì không ngủ. Nó thao thức nghĩ đến bà mụ của mình.161

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2006

Ăn tối ngoài tiệm



Đi ăn tối ngoài tiệm là một điều thú vị phải không các bạn? Người ta nấu nướng mọi thứ cho bạn, dọn lên trên bàn cho bạn thưởng thức...và rồi sau đó còn dọn dẹp, rửa chén cho bạn nửa chứ...Đã thì thôị..Tất cả những điều bạn phải làm chỉ là nhai, nuốt và sau cùng là trả tiền. Nhưng thưa các bạn...những điều tôi vừa kể trên đã cuốn theo chiều gió hết rồi...Và đây là câu chuyện của tôi...

Một chiều cuối tuần nọ, sau khi lãnh pay check, tôi bèn quyết định một cách hạnh phúc là thay vì nấu ăn ở nhà như thường lệ, tôi sẽ rủ cô bạn gaí đi ăn tối ngoài tiệm. Xin thưa với các bạn đó là lần đầu tiên tôi đi ăn ntoài tiệm. Khi tôi đến tiệm ăn thì trời ơi... tôi có cái cảm tưởng như là đang lạc vào bát quái trận đồcủa Hoàng Dược Sư trên Đào Hoa Đảọ..Người hầu bàn, ăn mặc còn sang trọng hơn tôi nũa, chào đón tôi:

"Xin chào quí khách, 2 người phải không ạ?" Tôi hãnh diện đáp:
"Vâng, 2 người ." Anh ta hỏi tiếp
"Hút thuốc hay không hút thuốc?

Tôi trả lời ra vẻ như không bao giờ hút thuốc:
"Không, tôi không hút thuốc."

Người hầu bàn tiếp tục hỏi:
"Ngài thích ngồi ở khu vực trong nhà hay ngoài trời?"

Tôi trả lời như là mình có một quyết định đúng đắn:
"Tôi thích ngồi ở trong hơn là ra ngoài."

Anh ta phụ họa:
"Đúng đấy, thưa ngài." Và hỏi tiếp:

"Ngài thích ngồi ở phòng ăn chính, ở bao lơn có mái che hay là trong khu nhà kiếng chan hòa ánh nắng của chúng tôỉ"

Đến đây thì tôi hơi lúng túng:
"Hmm...để coi..."

Anh ta đề nghị:
"Tôi có thể sắp cho Ngài ngồi ở khu nhà kiếng với phong cảnh tuyệt vời."

Tôi hưởng ứng và đi theo anh ta:
"Tôi nghĩ anh nói đúng đấỵ"

Anh ta lại hỏi tiếp:

"Bây giờ Ngài thích nhìn ra sân golf hay muốn nhìn cảnh mặt trời lặn trên bờ hồ hay là cảnh núi non hùng vĩ?" Tôi nghĩ thầm là lần này hãy để nó chọn phứt đi cho xong, đỡ phải lúng túng:
"Chổ nào anh thấy đẹp là được rồi!"

Thật ra anh ta đặt chúng tôi ngồi hướng về sân golf hay bờ hồ hay núi non gì đó tôi cũng cóc biết vì lúc đó trời đã tối bên ngoài.

Lúc sau, một người hầu bàn khác trẻ hơn, cũng ăn mặt bãnh hơn tôi, đến bàn tôi và nói:

"Kính chào quí khách. Tôi là Paul. Chiều nay tôi sẽ phục vụ quí khách. Quí khách có muốn ngồi ngắm cảnh thêm vài phút trước khi đặt món ăn hay không?"

Tôi nói ngay:
"Không, tôi đang đói lắm. Tôi là dân lao động. Mang lên cho tôi một dĩa thịt bò với rau và khoai tây nướng."

Anh ta hỏi thêm:
"Ngài muốn dùng thêm súp hay rau trộn?"

Tôi đáp ngay: "Rau"

Anh cứ hỏi:
"Chúng tôi có rau xanh nhiều loại, củ dền đỏ, cà chuạ..Ngài có thích trộn với tôm không?"
Tôi xẳng giọng: " Rau xanh thôi, OK?"
Anh ta đáp: " Vâng thưa Ngài. Có dầu giấm không?"

Tôi không muốn kéo dài cuộc khẩu cung này nữa:
"Bất cứ cái gì cũng được."

Anh ta cứ nói:
"Chúng tôi có dầu giấm kem Ý, phó mát xanh,giấm chua Pháp...

Tôi cướp lời:
"Đem bất kỳ thứ nào làm tôi ngạc nhiên là được..."

Anh ta vẫn đứng đó:
"Dầu giấm kem Ý là loại đặc biệt của chúng tôi. Như thế có được không thưa Ngàỉ"

Tôi cộc lốc" Yeah"

Anh lại hỏi: " Còn khoai tây thì sao?"

Tôi thừa biết cái gì sắp xảy ra nên không muốn anh ta đứng lải nhải nữa:
"Tôi chỉ muốn khoai tây nướng mà thôi, hiểu chưa? Không có cái giống gì kèm theo nữa hết."

Anh cứ hỏi: "Không bỏ Không kem chua à?"
Tôi gằn giọng: " Không."
Anh ta vẫn hỏi: "Không để hành luôn à?"

Tôi hết chịu nỗi nên phải quát lên:
"Không. Anh không hiểu tiếng Anh à? Tôi không muốn cái gì với khoai tây hết. Cứ mang ra cho tôi khoai tây nướng với thịt bò là được rồị"

Anh ta lại chĩa mủi dùi sang thịt bò:
"Ngài muốn 200 gram, 250 gram hay 350 gram thưa Ngàỉ."

Tôi trả lời cho có: "Bao nhiêu cũng được."
"Ngài muốn tái, tái vừa vừa, vừa, vừa chín hay chín hẳn thưa Ngàỉ"

Tôi không thể nào chịu được nữa:
"Ệ..Tao nỗi cơn rồi đấy nhé..."

Anh ta vẫn không tha tôi: "Ngài thích broccoli, bắp hay cà rốt chung với thịt bò?"

Như giọt nước làm tràn ly nóng giận, tôi ném khăn ăn xuống đất , đứng phắt lên, xắn tay aó, xông vào anh ta và giở giọng võ biền:
"Ê... Mày muốn ra ngoài sân chơi tay đôi không, thằng dai như đĩa kia?"

Trời ơi, đến nước này mà anh ta cũng không thể không hỏi ý kiến tôi:
"Vâng, thưa Ngài. Ngài thích ở bãi đậu xe, ngoài đường nhỏ hay đường lớn đối diện với nhà hàng, thưa Ngài?"

Tôi nói: "Tao thích ngay tại đâỵ..", và đấm anh ta một cái. Anh ta né rồi phản công bằng một cú móc tay trái vào hàm tôi.... Các bạn thân mến, đó là lần đầu tiên trong cái đêm nghiệt ngã đó anh ta đã không hỏi tôi thích bị đấm ở đâu...Tôi cháng váng ngã xuống ghế trong khi các người khác tới kéo anh hầu bàn đó ra.

Tôi có cảm giác ai đó nới lỏng cà vạt tôi ra, mở nút áo cổ và vả nhẹ vào mặt tôi... Khi tôi hoàn tỉnh, tôi thấy trước mặt tôi là gương mặt lo âu của viên phụ trách các tên hầu bàn đêm đó... Ông ta xin lỗi ráo riết và đề nghị mua nước uống cho tôi, gọi y tá hay bất cứ cái gì tôi muốn...

Tôi lúng túng nói: "Không, không ... đừng gọi ai đến hết....cho tôi ly nước là được rồi...
"Vâng thưa Ngài, có ngay", ông ta hớn hở đáp lại sự đòi hỏi quá dễ thực hiện của tôi....
Và ông ta tiếp: "Ngài thích nước suối nhập cảng, nước soda, nước chanh hay nước lọc?
134

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2005

Bức Thư Tình Cũ



Trước khi từ giã cõi đời ông ngoại đưa cho bà ngoại tôi một bức thư đã cũ và dặn sau khi ông mất bà mới được mở ra xem nếu không ông sẽ chịu tội bị đày xuống địa ngục .

Sau khi ông qua đời, bà ngoại không hề xem qua bức thư mà trịnh trọng đặt nó xuống dưới lọ tro hài cốt của ông. Và bà cứ để nó đấy suốt ba năm dài. Ba năm ấy ngoại đã già, răng đã rụng, mắt đã hoa và vẫn luôn nhắc đi nhắc lại : " Ông mất rồi tôi còn xem nó làm gì nữa?" .

Trong một đêm trời đầy sao, trăng sáng vằng vặc, nằm trên giường thở khó nhọc, ngoại kêu tôi lấy bức thư ra đọc cho ngoại nghe.

" Nha Nhi
Anh về rồi nhưng phải đi ngay, lần này ra đi có lẽ sẽ không bao giờ quay trở lại nữa. Cuối cùng thì anh cũng được đánh nhau bằng dao thật, súng thật với bọn phát xít rồi. Trước khi lên tiền tuyến họ cho mỗi người được nghỉ phép 4, 5 ngày để về thăm người thân. Anh đâu còn người thân nào ngoài em. Nha Nhi !

Anh vẫn còn nhớ 3 năm trước, khi những người lính hành quân qua đây, anh muốn đi cùng họ, em gói 1 bọc lương khô và tiễn anh đến tận cuối thôn, trên đường đi em chỉ cúi đầu rơi lệ. Mãi đến khi anh cùng họ đã đi được khá xa rồi em mới chạy đuổi theo, kéo vạt áo anh, nói với anh :" Em chờ anh!" .

Ba năm ở trong lính anh vừa đánh giặc, vừa nhớ em. Ngày anh nhớ em, đêm mơ thấy em, chỉ mong thắng giặc để cưới em làm vợ. Khi về đến đầu thôn, anh gặp ngay Duyệt Tử, anh ấy nhìn anh kinh ngạc hỏi, anh vẫn còn sống sao. Một lúc sau anh ấy mới nói rằng em đã kết hôn với anh ấy rồi. Anh thật sự rất muốn đánh em, nhưng anh còn có thể trách ai đây, đây là do bọn giặc hại chúng ta. Anh không trách em, Nha Nhi, thật đấy, một chút cũng không, anh chỉ muốn nhìn em 1 lần nữa rồi chết cũng không ân hận !

Duyệt Tử là người tốt, anh ấy dẫn anh đến nhà hai người. Ngôi nhà rất sạch sẽ, ngoài cổng có trồng một cây dành dành, đúng là em trồng rồi. Chăn màn trong nhà được gấp rất gọn gàng, bếp núc cũng rất sạch sẽ. Duyệt Tử nói, em đi làm ngoài đồng. Anh nhìn mọi thứ trong nhà em mà anh muốn rơi nước mắt, tất cả giống 1 gia đình anh đã tưởng tượng cùng em xây dựng sau khi thắng giặc.

Anh phải đi rồi, Duyệt Tử bảo anh nên ngồi thêm một chút nữa, anh nói không có thời gian, thực ra, anh sợ em nhìn thấy anh, khiến em đau lòng. Khi đến cuối thôn, anh đã nhìn thấy em ở rất xa, anh nhìn mãi, nhìn mãi, lệ tràn hai bờ mi.

Nha Nhi, anh phải đi rồi nhưng anh muốn cho em biết rằng anh vẫn còn sống, vẫn yêu em. Anh viết thư này ở cuối thôn, chuẩn bị gởi cho em, nhưng nếu anh không về nữa thì chẳng phải là anh đã hại em rồi sao? Nếu anh biết cuộc sống của em không hạnh phúc thì dù dưới địa ngục anh cũng không thể yên lòng. Anh đưa bức thư này cho Duyệt Tử và dặn anh ấy chỉ khi nào nghe tin anh chết mới được giao thư cho em. Duyệt Tử là người tốt, anh ấy đã đồng ý.

Nha Nhi, anh chỉ mong một ngày nào đó, khi anh đã vĩnh viễn ra đi, em được biết rằng anh vẫi mãi nhớ em, yêu em, muốn cưới em.

Anh đi đây. Đừng trách Duyệt Tử vì anh đã ép anh ấy.

Mùa thu 1940

Anh Sơn của em"


Đọc xong bức thư, nhìn ngoại đang thở khó nhọc, tôi nghẹn ngào không nói lên lời. Ngoại chỉ lẩm nhẩm với chút sức lực cuối cùng :" Anh ấy không chết, anh ấy không chết..."

Tôi định bỏ thư vào phong bì thì bỗng nhìn thấy hàng chữ nhỏ đằng sau :" Mẹ nó đừng trách tôi, tôi đã thề rồi. Hiện giờ anh Sơn ở Bắc Kinh, vẫn còn độc thân, anh ấy vẫn còn sống. Tôi muốn nói cho mình biết nhưng anh ấy không cho. Mình ! Tôi xin lỗi" .

Ngoại ra đi rất thanh thản, trước khi ra đi ngoại còn nói với chúng tôi :" Cháu có hai ông ngoại đấy !" .
112

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2005

Amen - Ngôi nhà Ma



Có muôn ngàn chuyện ở trên đời, nhưng có một chuyện làm tôi không thể nào quên được. Ngày xửa ngày xưa, chuyện xảy ra lâu lắm rồi, không ai còn nhớ nữa, chỉ mình ta nhớ thôi. Lão Nyy đương đương tự đắc rung cặp râu dài tới 2 mét quét đất. Chả là ở vương quốc của lão có rất nhiều điều kỳ bí xảy ra. Mọi người ai ai cũng có phép màu và khả năng đặc biệt nào đó, riêng lão thì không. Vì vậy, lão mới để bộ râu dài khủng khiếp như thế để tạo ra sự quái dị cho phù hợp với cái xứ sở mà lão đang sống. Lang thang với cái bộ râu của lão thế đủ rồi. Chuyện mà lão muốn kể với dân làng hôm nay là một câu chuyện hoàn toàn có thực. Lão cảnh báo trước, ai mà bị đau tim hay choáng ngất thì dừng có nghe, lão không dán nhãn bảo hành cho câu chuyện của lão đâu.
Vào một đêm trăng, trời sáng trong như mực, tại vương quốc kỳ quái của lão Nyy có một ngôi nhà nhỏ heo hút ven đồi. Người ta đồn rằng cứ vào 12 giờ đêm có tiếng hú rất man rợ vang lên từ ngôi nhà nhỏ đó. Có lần 8 người đi săn về muộn lỡ đường trú tạm trong căn nhà đó. Sáng ra người ta đi tìm và chỉ thấy 8 cái đầu lâu trông rất hãi. Máu me be bét trào ra quanh hốc miệng mỗi cái đầu lâu. Dường như họ bị tra tấn rất khủng khiếp trước khi chỉ còn lại bộ xương. Sọ của ai cũng bị thủng một lỗ nơi đỉnh đầu... Và kinh dị hơn là cứ vào đêm trăng rằm mõi khi có tiếng hú man rợ trong căn nhà cất lên là y như rằng có một người trong làng chết...
Lão Nyy kể đến đó thì đột nhiên dừng lại. Cả bọn quây quần bên đống lửa giữa rừng ngồi sát vào nhau hãi hùng nhìn quanh. Tiếng các con thú ăn đêm hú lên rùng rợn, xa thẳm. Rồi thì cơn mưa rừng ập tới. Mưa ào ạt, xối xả, không kịp trú vào đâu cả bọn ướt nhoét. Cơn mưa rừng đến nhanh và qua đi cũng thật nhanh y như lúc nó đến. Xa xa có ánh đèn thật ấm cúng. Cả bọn dắt tay nhau tiến bước. Dũng cảm nhất là Hạt tiêu đi trước. Tiếp theo sau là Qxxx, Ktac, Feeling, LLS, LT, Nhat-my...Và cuối cùng là lão Nyy. Vì lão có bộ râu dài nên phải có người đi trước cầm râu cho lão. Kể kỳ quặc quá thế cũng khổ.
***
Đường đến ngôi nhà thật gian nan, đất lở đá trượt, nhưng rồi cả bọn cũng tới nơi vừa đói vừa mệt. Trong nhà đèn đuốc thắp sáng trưng. Hạt tiêu nhạy cảm nhất với mùi vị hích hích cái mũi lên ngửi.
- Chà chà ! Thơm gớm nhẩy ! Hình như có mùi thịt nướng.
- Oái ! Có cả mùi hành phi thơm phức- Ktac mắt sáng ngời mơ mộng
- Hình như có cả mùi bia Halida nữa - Qxxx ngó cổ dòm.
- Vào đê anh em ơi ! - lão Nyy hô to
Cả bọn vội xô cửa vào trong.
- Có ai không nhẩy? - LLS hỏi
Không một tiếng đáp lại. Căn nhà khá ấm cúng. Nó có một thang đặt ở góc nhà.
- Chắc là có tầng nữa nên mới có thang thế này- Qxxx nhận xét
- ờ ờ ! Cả bọn tán thành. Nhưng chợt nhìn thấy bàn ăn phía đó đang bốc khói nghi ngút, cả bọn quên cả chuyện cái thang lên tầng 2, nhao ngay ra đó. Quả đúng như Hạt tiêu, ktac và Qxxx đoán. Trên bàn ăn có bày đủ thứ. Có một mâm toàn lợn rừng còn bốc khói nghi ngút. Hành phi thơm phức. Một thùng bia to kếch sù nằm ngay cạnh bàn. Cả bọn chẳng ai bảo ai nhảy vào ăn uống no say. Và...khi cái bụng đã căng thì con mắt bắt đầu trùng xuống. Cả lũ lăn quay ra ngủ. Qxxx có lẽ chơi cả nửa thùng bia Halida nên quay ngay...
Đêm đã về khuya. Sấm chớp lại nổi lên đùng đùng. Căn nhà cọt kẹt kêu lên rùng rợn. Đèn chợt tắt. Lúc này chỉ còn LLS và Hạt tiêu là có vẻ còn lơ mơ chưa ngủ hẳn. 12 giờ đúng. Trăng nhô cao. Bầu trời đẫm nước. Một hiện tượng quả là kỳ lạ. Một tiếng hú rùng rợn cất lên nghe thật khủng khiếp, trên bức vách có những hình bóng kỳ lạ nhấp nhô. Những hình quái dị ấy cứ lững thững từ trên gác bước xuống. LLS và Hạt tiêu bừng tỉnh. Trong cái không gian ấy họ thấy có mùi máu tanh tưởi, mùi chuột bọ hôi hám bốc lên thật là ngột ngạt. hạt tiêu bỗng thấy lạnh xương sống. Hình như có cái gì quệt lên cổ làm hạt tiêu thấy rờn rợn, nhờn nhờn.
- Dậy mau ! Hạt tiêu hét lên trong khi LLS thì sợ hãi co người lại không kêu nổi một tiếng.
- Gì thế ? lão Nyy mơ màng. Nhưng rồi lão cũng nhận ra có cái gì đó không ổn sau gáy. Lão choàng tỉnh dậy và hét toáng lên như Hạt tiêu đã hét. Tất cả cùng tỉnh dậy. Qxxx như vẫn còn phê cáu quá tát lung tung. Thật là đen đủi lại trúng ngay mặt lão Nyy làm lão nổ đom đóm mắt. Cây nến trong nhà bắt được ánh đom đóm từ mắt lão Nyy sáng bừng lên. Cả bọn bàng hoàng nhìn thấy trước mặt mình những hình thù kỳ quái nhất từ trước đến nay. Chúng có những cái lưỡi thật dài đang liếm trên gáy mọi người. Những cặp nanh dài và nhọn cáu bẩn máu khô lúc lắc như ngà voi chỉ trực húc thẳng vào ai đó. Chúng là những con ma...
Lão Nyy lúc này đã trấn tĩnh. Lão nhặt một lúc mấy quả táo, rút mấy cái nan cửa sổ bày ra sàn nhà. Sau đó lão đào mấy cái hố nhỏ. Mỗi lỗ chỉ đủ một quả táo rơi xuống. Lão lấy gậy chọc như trò chơi bi-a của tụi thanh niên vẫn chơi. Cả lũ ma đứng há hốc mồm nhìn chăm chú. Bỗng một con ma cất tiếng :
- Ê này lão. Chơi gì đấy? dạy ta với?
- khà khà ! Thử đi- lão Nyy đưa một cái que nan cửa cho con ma
- úi chà, khó gớm. Từ thuở lọt lòng tới giờ ta chưa bao giờ chơi trò này, bây giờ ta mới thấy có một trò khoái thế.
Cả lũ ma xúm lại cùng chơi. Chúng bắt đầu ham. Cả bọn không còn sợ nữa cũng xúm vào hò hét. Chơi được một lúc, bọn ma bắt đầu chán, chúng mệt và đói. Chúng nhìn nhóm người thèm thuồng.
- Ê ! Ma nhỏ , mày chọn thằng nào ? Cả bọn ma chỉ vào lão Qxxx. Tao thấy cái tên này ngon nhất, béo ngậy, phi với hành thơm phải biết.
- ờ ! Nhưng mà tao thích cái thằng cao cao kia- mato lên tiếng
- Đứa nào thế ? ma xó hỏi
- à à ! Cái thằng đeo kính kia kìa, mắt nó to, vừa giòn vừa bổ- bọn ma trỏ vào Ktac.
- Mấy đứa còn lại còn trẻ chưa đến lúc phát tướng, cứ để vỗ béo đã- Ma trơi lên tiếng.
- Có lý đấy- Ta còn gầy lắm, đợi vỗ béo đã- Lão Nyy lên tiếng.
Cả bọn ma thống nhất xong thì bắt đầu đi đun nước sôi. Chúng súc miệng ùng ục rung động cả quả dồi. Bây giờ nước đã sôi, sang mục cạo lông làm thịt. Ma nhỏ vung vẩy con dao rất điệu nghệ lành nghề. Cả bọn ma chuẩn bị rất chu đáo. Đứa mài dao, đứa băm hành, đứa lấy chậu chuẩn bị đánh tiết canh. "đúng 2 giờ không sai một khắc ta sẽ làm thịt chúng nó nhá, anh em ơi ?" "đồng ý" Cả bọn ma nhao nhao.
Bỗng nhiên chẳng thấy có phản ứng gì cả từ phía bọn người kia, lũ ma đâm ra tò mò. Bọn chúng tiến tới chỗ nhóm của lão Nyy. Cả nhóm đang hì hụi ngồi bên những cái hộp. Chẳng ai nói với ai một câu. Thỉnh thoảng lại có kẻ cười thầm hay nhăn nhó. Căn nhà trở nên yên tĩnh lạ kỳ. Những iếng lách cách từ bọn người cứ phát ra đều đều.
- Chúng bay làm gì thế? - Ma xó lên tiếng
- Yên nào đang chat dở- Lão Qxxx cáu nhặng lên.
- Quái nhỉ ? Chat là cái quái gì mà lạ nhỉ? Ma CASPER thắc mắc
Chúng xà đến bên lão Nyy:
- Lão ! Lão già nhất ta nể lão. Kể mau bọn người đang làm gì ?
- ờ chat mạng. Hay lắm, còn hơn cả ăn thịt người
- ờ ! Dạy ta đi- bọn ma nhớn nhác
- Đây, các bạn cho mỗi con ma một máy nào- lão Nyy đề nghị
Cả bọn vốn sống có tổ chức quen nên đồng ý ngay. Mỗi người dưa cho bọn ma một cái máy tính xách tay với công nghệ hiện đại siêu nhỏ, có thể bỏ túi. Bọn ma lại nhớn nhác:
- Chat thế nào?
- Mới đầu là quay số 1260 - Nyy giải thích
- Yên nào- Nhat-my lên tiếng- quay số đó có mà toi à. Toàn account dùng chùa. Vào số đó bị phát hiện ngay, lại mang tiếng tiếp tay cho ma. Phải quay 8223122 hoặc 8223155 mới không bị phát hiện.
- Chí lý , chí lý- Lão Qxxx sướng run lên vì thuở bé đến giờ mới nghe một chân lý sáng suốt đến thế.
Cả bọn ma online thâu đêm quên cả bữa ăn đêm hấp dẫn kia. Cả bọn người lặng lẽ chuồn lúc nào không hay...
***
Ngôi nhà lại chơ trọi trong gió. Người ta bây giờ không thấy những tiếng hú man rợ nữa mà chỉ còn thấy những tiếng lách cách từng đêm trên quả đồi đầy huyền bí. Hơn thế nữa, người ta còn thấy trên nóc ngôi nhà có một cây thập át, bên ngoài có biển để chữ Amen@- ngôi nhà ma ...
128

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2005

Trò đùa



     Thủy nâng chiếc kính vào đúng vị trí thường đeo trên mắt. Đất trời bừng sáng, mọi vật như xích lại gần.

Cô khẽ lắc nhẹ đầu sang hai bên, mắt vẫn nhìn thẳng đằng trước. Các hình ảnh cô nhìn được trong tầm mắt không hề bị lay động. Không có cảm giác bị chóng mặt. Vậy là tốt rồi. Kinh nghiệm đeo kính cận lâu năm cho biết cô đã chọn được kính hợp với mắt mình. Cửa hiệu kính này đang rất có tiếng. Bây giờ, với cặp mắt kính mới tinh trong veo này, cô lại có thể nhìn thấy rõ nét mặt của từng người đi ngang qua đường.

Bỗng một cặp trai gái líu ríu dừng lại ngay cửa ra vào của hiệu kính. Người thanh niên có vẻ như là một Việt kiều hoặc một du khách Đông Nam Á đang lúng túng trước đề nghị gì đó của cô bạn gái. Cô ta uốn éo bám lấy eo lưng của người thanh niên, lôi kéo, thúc giục, âu yếm, vuốt ve thản nhiên như xung quanh không bóng người. Cô ta mặc một chiếc quần soóc mini đỏ chót bó chặt hông. Đôi chân mập mạp ngăm ngăm đi một đôi giầy da đen ngắn cổ, loại đang thịnh hành. Một chiếc áo vàng không khuy buộc thắt ở đằng trước, ngắn đến ngang lưng hở một đoạn ở rốn. Mặt cô ta bự phấn son, mắt tô xanh, cái miệng đỏ chót liếng thoắng, nũng nịu

- Ôi quen quá!

Thủy bỗng giật nẩy người như phải bỏng. Cô nép vào cánh cửa một cách không ý thức, như một phản xạ tự nhiên trước nguy hiểm. Loan, cái con mèo cái ấy! Hơn mười năm đã qua rồi, nhưng nỗi đau vẫn còn nguyên chẳng thể chữa lành. Mấy năm qua đắm chìm trong hạnh phúc gia đình cô cứ ngỡ mình đã quên đi dĩ vãng đau đớn. Nào ngờ chỉ một thoáng tình cờ cũng đã khơi dậy tất cả. Vết thương lại toác miệng và trái tim cô lại rỉ máu. Những hình ảnh cũ ào ạt tuôn về. Quá khứ tràn đầy tâm thức.


***

Chuyện bắt đầu từ hôm cô và Công đi xem các loại thiếp mời, chuẩn bị cho đám cưới sắp tới của họ. Sau một hồi bát phố, họ dừng lại ở Tràng Tiền ăn kem. Kem Tràng Tiền thuở đó ngon có tiếng và đông nghìn nghịt. Thủy đứng trông xe nhìn Công chui vào đám đông chen vai thích cách thể hiện vai trò hiệp sĩ của mình.

- Này Thủy! Lâu lắm mới gặp

- Có tiếng một cô gái gọi giật ngay bên tay, sau một cú đập tay nhẹ vào vai thân thiện.

Thủy ngoảnh lại nhíu mày tò mò. Một cô gái xinh đẹp nhưng son phấn nặng nề mọc lên trước mặt Thủy. Cô ta mặc rất diêm dúa lòe loẹt, đầu uốn kiểu xù mì.

- Không nhận ra tớ à? - Cô gái bíu vào tay Thủy xoắn xuýt niềm nở - Loan đây mà.

- Ờ, ờ... à Loan 5c! - Thủy nhớ ra rồi. Cái Loan thô kệch, ù lì, học dốt ngày xưa. Vậy mà nay nó bỗng trở nên xinh đẹp, nhanh nhảu, chải chuốt như lột xác. Hồi đó Thủy học giỏi nhất lớp và chỉ chơi với nhóm "tứ quái" tức bốn đứa học giỏi, thường chia nhau hết các điểm 9, 10 của lớp nên cũng không quan tâm đến Loan mấy.

- Sao lại đứng đây một mình?

- Loan hỏi tự nhiên như thể họ vừa chia tay nhau hôm qua.

- À, tớ chờ...

- Thủy hất hàm về phía đám đông. Vừa lúc đó Công chui ra, hai tay cầm mười que kem vẻ đắc thắng.

- Chiến lợi phẩm đây!

- Anh vẫn thường tự hào về cái tài chen ngang của mình. Nhìn thấy Loan đứng đó vẻ thân mật e lệ bên Thủy, Công hơi sững người lại một giây trước ánh mắt cầu thân của Loan rồi điệu đà nghiêng mình chào cô ta. Anh nhún vai, lắc đầu ra vẻ chỉ vì vài que kem vớ vẩn mà anh không được chỉnh chu cho lắm khi ra mắt Loan - Xin thứ lỗi! Những cử chỉ điệu bộ của lần đầu Công gặp gỡ Thủy! Linh tính như mách bảo cô một điều gì đó chẳng mấy tốt đẹp. Nhưng Thủy vội gạt đi.

- Xin giới thiệu với Loan đây là anh Công, chồng sắp cưới của mình. - Rồi quay sang Loan, Thủy nói - Đây là Loan, bạn học với em từ hồi lớp 5. Em chỉ học cùng có một năm nên từ đó đến nay không gặp lại, Loan đã chuyển sang trường khác... - Phải cố kiềm chế lắm Thủy mới không nói nốt rằng Loan học dốt, bị đúp 3 năm 1 lớp nên không được học tiếp ở trường. Cô cảm thấy không thích cuộc gặp gỡ này.

- Một tháng nữa chúng tôi làm lễ cưới. Rất vinh hạnh được quý cô nương kiều diễm đến dự ngày vui với chúng tôi. Còn bây giờ thì xin mời - Anh đưa cho Loan ba chiếc kem - Xin chúc mừng cuộc hạnh ngộ của chúng ta ngày hôm nay.

Thủy hơi ngạc nhiên trước những lời lẽ hoa mỹ cải lương của anh. Mọi khi Công rất ghét những kẻ nói năng uốn éo. Bản năng lại mách bảo cô một điều gì đó nguy hiểm. Nhưng cô cố gạt đi. Cô phải tin anh, chẳng gì thì họ cũng đang chuẩn bị cho đám cưới của mình. Khi chia tay, Công nhận xét: "Con Bé đó chỉ được cái mặt, còn nói chuyện thì nhạt hoét, rỗng tuếch lại còn uốn éo. Chân tay thì thô kệch cứ như chân vú Ngò trong AQ. Thẩm mỹ thật kinh khủng đến lố lăng...". Có vẻ như có bao nhiêu nỗi xấu xa Công đổ hết lên cô ta. Thủy cảm thấy hơi hổ thẹn vì hình như mình đã ghen tuông Một cách vô lối. Cô muốn chữa lại bất công cho Loan bằng cách bênh vực cô ta.

- Làm gì mà anh cứ như mẹ chồng xem xét nàng dâu mới thế? Cũng có người thế này thế nọ chứ. Nó bảo rằng đám đàn ông lúc nào cũng muốn ăn sống nuốt tươi nó như ăn gỏi ấy. Chứng tỏ cũng khối anh thích những gu như nó.

- Anh thì anh chẳng thích - Công hăng hái khẳng định - Từ thuở bé đến nay anh chẳng ăn gỏi bao giờ.

Sau đó mấy ngày, như thể tình cờ, tiện miệng anh kể, vừa gặp lại Loan ngang đường một cách vô tình. "Con bé đến khiếp, mồm mép liến thoắng. Chẳng quen biết gì mấy mà cứ xoắn xuýt đến vô duyên...". Thủy lại ra sức biện hộ cho bạn.

Những ngày sau đó Loan đến chơi liên tục, để giúp Thủy chuẩn bị đám cưới và cũng để giải nỗi buồn trong lúc thất nghiệp. Cô ta học lớp trung cấp thương nghiệp đã tốt nghiệp được hai năm chẳng nơi nào nhận. Có lần Loan đến nhờ Thủy viết cho một bức thư bằng tiếng Anh nội dung đại khái là muốn trốn đi nước ngoài và nhờ các ông trong lãnh sự quán giúp đỡ. Loan giấu không cho Thủy biết họ là người nước nào. Kinh hoàng trước một việc động trời như vậy, Thủy chối từ với lý do vốn tiếng Anh của mình quá kém không đủ khả năng viết nổi một bức thư quan trọng đến thế. Cô ta không lấy thế làm mất lòng. Qua vài lần giao du, Thủy biết Loan đã mấy lần vượt biên nhưng không thoát. Lại có lần chị gái của Loan kể cho Thủy biết Loan đã từng bỏ nhà đi đâu mất ba ngày, khi trở về cô ta tàn tạ như một nắm giẻ rách. Loan quẳng ra giường một nắm tiền rồi ngủ suốt một ngày. "Ba chị tra hỏi nó, nhưng nó chẳng khai gì. Nó gan lắm. Sau này công an người ta đến báo cho nhà chị biết Loan có tên trong sổ đen vì tội "giao du quá mức" với người nước ngoài. Nó luôn hy vọng được ai đó bảo lãnh cho ra nước ngoài. Như­ng nó chỉ toàn bị lợi dụng rồi bị ném ra đường...".

Chỉ vài lần gặp gỡ, Loan đã mở mang, khai trí cái đầu óc thủ cựu của các cô gái mới lớn trong khu tập thể của Thủy khá nhiều. Mỗi lần Loan đến chơi là cả bọn xúm xít quanh cô ta, tròn mắt nghe cô ta dạy những bài học vỡ lòng về cách cưa cẩm đàn ông. "Đàn bà là phải tình tứ một chút. Cứ khô khan, đứng đắn quá đàn ông họ cũng không thích...", "Muốn làm anh nào chết chỉ cần ba chớp mắt, một cúi đầu e lệ, tức là hãy nhìn anh ta một cách say đắm trong vài giây sau đó chớp chớp mắt rồi cúi đầu e thẹn như thể: Anh đáng yêu quá! Em xấu hổ lắm! Trái tim em rạo rực quá! Thế là xong. Đảm bảo anh ta sẽ cun cút đi theo mình...". Thủy không thể tin điều đó, nhưng cũng không thể bác bỏ ma lực của Loan. Bằng chứng là ông anh ruột của Thủy thuộc loại mực thước, đứng đắn có tiếng, và cũng đang có một mối tình rất sâu sắc nên thơ, lại nổi tiếng là sợ người yêu, vậy mà cũng mất hẳn một tối thứ bảy đèo Loan đi khắp Hà Nội với lý do ngớ ngẩn là tìm Thủy cho cô ta gặp mặt.

Chuyện đó thật kỳ cục nhưng lại đáng tin vì ngay cả Thủy nữa, đàn bà con gái hẳn hoi cũng khó lòng từ chối điều gì khi Loan nhờ vả bằng cái giọng thật nũng nịu, thật ngọt ngào. Cũng vì cái giọng ấy, có lần Thủy đã đèo Loan đi suốt mấy phố Tạ Hiền, Hàng Buồm... vòng đi vòng lại mấy lần, canh chừng công an cho cô ta bán thuốc lá ngoại lậu.

Sau này Thủy mới hiểu rằng những lời lẽ của Công khi đó, thật ra không phải là để nói cho cô nghe mà chính là đang cố gắng trấn an những bất ổn trong lòng mình. Anh không còn bàn luận về đám cưới của họ một cách sôi nổi như trước nữa.


***

Chỉ còn một tuần nữa sẽ đến ngày dự định tiến hành đám cưới, bỗng Loan đến tìm cô.

- Tớ có chuyện định nói với cậu... - Loan ngần ngừ... Nhưng mà thôi cũng được.

- Chuyện gì thế? - Thủy ngạc nhiên không hiểu sao hôm nay Loan lại có bộ mặt quan trọng đến như thế - Cứ nói đi. Làm gì mà úp úp mở mở, quanh quanh co co...

- À, ừ... nhưng cậu phải bình tĩnh. Cậu phải hứa với tớ là sẽ không làm gì ầm ĩ, tớ mới nói.

- Sao vậy - Thủy sửng sốt rồi tò mò - Cứ nói đi, tớ hứa là sẽ không làm sao hết. Có chuyện gì thế? Làm sao lại có thể có chuyện gì liên can đến tớ. Cậu lại định vượt biên nữa à? Tớ có viết thư hộ cậu đâu?

- Không phải là chuyện đó mà là chuyện ông Công kia. Ông ấy đang đợi Loan ở nhà ông ấy...

- Loan dừng lại thăm dò rồi nói tiếp giọng đầy thương hại, nhưng cũng không giấu vẻ ban ân

- Tớ đang trên đường đến đó, nhưng nghĩ đến Thủy dù sao cũng là bạn Loan nên Loan rẽ vào để báo cho Thủy biết...

Thủy lặng ng­ười. Con tim cô bỗng quặn buốt tái tê. Một nỗi đau điếng lan nhanh ra toàn thân. Cổ cô tắc nghẹn. A vì thế mà lúc nãy anh rẽ vào báo cho cô biết: Chiều nay anh bận đèo mẹ đi lo một số công chuyện. Mẹ anh đấy? Chao ôi là man trá. Cô muốn gào thét một câu gì đó cho thỏa giận nhưng cố nén. Phải bình tĩnh. Bình tĩnh! Cô căm hận ai đây? Hận Loan hay hận Công? Phải gào vào mặt ai đây mới thỏa đáng? Mặt Công hay mặt Loan?

- Kìa, Thủy không sao đấy chứ? - Loan hốt hoảng lay Thủy.

- Mặt Thủy tái mét đi kìa!

- Không! Không sao! Kể tiếp đi

- Thủy gạt tay Loan ra một cách phũ phàng và đứng dựa vào tường, cố giấu đôi chân đang run rẩy - Kể tiếp đi.

- Nhưng Thủy phải hứa là sẽ không sao cả Loan mới kể. Bởi vì với Loan chuyện này chẳng là gì nữa rồi. Nhưng Loan biết với Thủy đây là lần đầu tiên. Ông Công đã nói cho Loan biết Thủy hoàn toàn trong trắng khi đến với ông ấy.

Đồ khốn khiếp! Đồ bẩn thỉu! Đồ phản bội! Thủy muốn thét lên. Nhưng cô chỉ nhếch mép

- Hừ, kể tiếp đi! Thủy đủ nghị lực để nghe tất cả. Thủy hứa sẽ không có chuyện gì. Thủy cần biết sự thật.

- Được, nếu thế Loan sẽ kể. Hoàn toàn là sự thật, không thêm không bớt...

Những ngày gần đây ông Công luôn đi qua cửa nhà Loan. Loan và ông ấy hay chào hỏi nhau dăm ba câu. Chiều qua ông ấy mời Loan về nhà chơi. Ông ấy năn nỉ Loan đến xem tranh ông ấy vẽ và hứa sẽ vẽ cho Loan một bức chân dung. Nể ông ấy là người yêu của Thủy nên Loan cũng đến. Vào nhà, ông ấy pha nước mát bằng chanh ngâm muối, mang bánh ra mời Loan, rồi bật những băng nhạc mà ông ấy nói rằng ông ấy yêu thích cho Loan nghe. Ông ấy bê những bức tranh của ông ấy vẽ ra cho Loan xem, giảng giải cho Loan về cái đẹp của hội họa...

- Nghe Loan kể Thủy hình dung ra buổi đầu gặp gỡ của cô và Công. Mọi việc diễn ra giống hệt. Cũng cốc nước chanh trái mùa, nhờ sự khéo léo tẩm ướp, vừa lờ lợ vừa hăng hắc, đăng đắng, cũng những chiếc bánh quy, những bản nhạc, những bức tranh và mùi nước hoa cạo râu của Công sực nức trong phòng như vẫn đang còn phảng phất đâu đây. Chỉ có điều nhân vật nữ trung tâm của sự đón tiếp long trọng, gallant ấy bây giờ là Loan. Cô đau đớn thừa nhận rằng đó hoàn toàn là sự thật. Sự thật như buổi đầu Công đón tiếp Thủy.

... Ông ấy đã hôn tớ và cả... - Giọng Loan vẫn đều đều, mỗi lời như một nhát gươm đâm vào tim Thủy. Thủy nín thở lắng nghe trái tim mình như một con thú nhỏ đang tuyệt vọng giãy giụa, đau đớn giữa một rừng gươm dao. - Thủy biết đấy, đối với Loan chuyện đó chỉ còn như một sự giao tiếp, sinh hoạt xã hội. Kìa Thủy! Đừng có thất thần đi như thế. Thủy phải tỉnh táo lại. Loan xin lỗi vì đã làm Thủy đau khổ. Nhưng Loan nghĩ Thủy nên biết sự thật... Ông ấy không yêu Thủy lắm! Thủy không sao đấy chứ? Đừng đau đớn quá thế!

- Đau đớn? Không! Tao chỉ thua thôi - Thủy buột miệng cay đắng mỉa mai.

- Sao lại thua? - Loan ngạc nhiên.

- À... - Thủy định giải thích rằng trong cuộc chiến giành giật tình yêu, cô đã thua Loan. Phải cô, một cô gái trong trắng, ngây thơ và chân thành, học hành giỏi giang lại thua một ả lẳng lơ, thập thành, học hành dốt nát... Trong cuộc chơi tàn nhẫn này Loan và Công thắng thì được một chút vui vẻ, thua thì chẳng mất gì. Còn cô có thắng thì mối tình đầu cũng đã trở nên kém thiêng liêng, nó đã bị hoen ố, còn khi thua thì cô mất tất cả. Cô đã thua. Cô đã mất tất cả sự ngây thơ trinh bạch lẫn tình yêu, cả đám cưới lẫn niềm tin vào cuộc đời. Chao ôi, giá cô có thể trở nên mất trí để đừng phải đối diện với thực tại thì hạnh phúc biết bao. Không thể như thế! Không thể như thế được.

Cô đã thua. Ôi người yêu! Ôi bạn bè! Ôi mối tình đầu! Cô bỗng cười phá lên như điên dại:

- Thủy đã thua. Thủy thua mất 5 hào kẹo lạc. Thủy đã ca ngợi Loan. Thủy đã tin tưởng Loan là một người từng trải, vậy mà sao Loan lại đổ một cách quá là dễ dàng

- Thủy nín thở một lát rồi trút ra một cách khoan khoái - Mình đã thách anh ấy cưa đổ Loan!

- Ơ kìa! - Loan sững sờ quắc mắt giận dữ - Sao mày lại dám làm như thế với tao. Tại sao? Tại sao hả? Trời ơi!

Giờ thì Thủy cảm thấy trái tim mình đã bớt đau đớn đi nhiều, như thể những chuyện cô vừa nói hoàn toàn là sự thật. Không biết sự nhẫn tâm chưa từng xảy ra của cô có độc ác bằng sự vô tâm tàn nhẫn của họ không?

Loan bỏ chạy trong khi miệng vẫn lẩm bẩm: "Tại sao? Tại sao hả?" Có vẻ như cô ta vẫn chưa hết bàng hoàng. Chỉ khi đó Thủy mới chui vào buồng tắm, vặn nước xối xả cho át đi tiếng nức nở nghẹn ngào. Bây giờ cô có thể để mặc cho nước mắt tuôn rơi xót thương cho tình cảm thiêng liêng nhưng lầm lạc của mình.


***

Tối hôm đó Công vẫn đến rủ Thủy đi chơi như thường lệ vào những tối thứ bảỵ Thủy cố gắng giữ bình tĩnh như không có chuyện gì xảy ra, nhìn thẳng vào mắt Công.

- Thế nào, chiều qua anh vui không? - Thủy bắt gặp một thoáng thảng thốt khi Công nghe câu hỏi, nhưng anh ta bình tĩnh được ngay.

- À, chiều qua anh gặp Loan. Nó cứ nằng nặc đòi đến nhà anh chơi. Nể nó là bạn thân của em nên anh đành phải chịu. Hì, hì, con bé đó tự nhiên quá cứ vô tư như ở nhà... Lại còn đòi anh phải vẽ một bức chân dung cho nó nữa chứ... Có mà dở hơi, thóc đâu mà đãi gà rừng... - Công cười vẻ lấy lòng.

- Anh này! - Thủy cười buồn, giờ thì cô hiểu chẳng ai xứng đáng để cô phải buồn vì họ.

- Em đã biết hết rồi. Nó đã đến và kể cho em nghe. Chứng tỏ nó cũng không tôn trọng gì anh hết. Nó cũng chẳng yêu anh gì cho lắm. Em rất buồn cho anh và cho em. Cho nên để giữ thể diện cho cả hai chúng ta và vì những tình cảm thiêng liêng đã từng có của em, em đã nói dối nó rằng có chuyện đó là vì em đã thách anh cưa đổ nó. Rằng đó chỉ là chuyện đùa... Còn giờ đây thì mình hãy chia tay nhau. Em nghĩ rằng như thế sẽ tốt hơn cho cả hai chúng ta. Anh hãy đi đi. Đừng ngoái lại. Đừng nói gì hết. Như thế em sẽ tôn trọng anh hơn. Hãy để cho em nguyền rủa cái ngày mà số mệnh đã run rủi cho em gặp anh. Hãy để cho em căm giận cái phút giây em đã nhận lời yêu anh còn hơn phải căm hận anh. Hãy để cho em được vô cảm với quá khứ để còn có thể làm lại cuộc đời. Em vẫn còn yêu cái thế giới này, còn yêu bố mẹ, anh chị em của em, em chưa muốn chết. Vậy hãy làm ơn cho em một lần cuối, nếu anh còn một chút tình nghĩa nào với em, đó là hãy vĩnh viễn biến mất khỏi cuộc đời em. Thôi đừng nói gì cả... Em không bao giờ có thể tha thứ cho mình vì tội đã lầm lẫn yêu anh...


***

Chưa bao giờ như lúc này, Thủy bỗng thèm khát bộ ngực lực lưỡng của chồng, vòng tay ấm áp, âu yếm đầy che chở của chồng mình. Cô muốn về nhà - chốn nương thân - hang ổ cuối cùng nơi che chắn mọi bất hạnh của đời cô. Thủy cẩn thận bước ra đường ngó nghiêng. Một làn khí ấm mọng nước khẽ lướt trên đôi gò má nóng bừng của Thủy, để lại những bụi sương li ti chưa đủ để nhìn thấy trên làn da mỏng manh. Đôi trai gái ngoài cửa hiệu kính thuốc đã mất tăm giữa dòng người đông đúc. Đó đây, loáng thoáng những cành đào gần như trơ trụi, lác đác vài nụ hoa đỏ rực như những đốm lửa nhỏ thắp giữa búp lá xanh biếc, bên những mặt người hớn hở ngược xuôi trên dòng xe cộ. Thủy bỗng nhận ra: Mùa xuân đã đến! Cả cái mùa đông rét buốt của đời cô vĩnh viễn trôi qua rồi. Hơn Mười năm đã qua đi, cuộc đời của Thủy ba năm nay thật yên ấm. Chồng cô là một người tuyệt vời, tuyệt vời trên cả mong ước của cô. Nhưng cô vẫn sợ. Sự xuất hiện của Loan, ai dám bảo sẽ không là một nỗi nguy hiểm cho gia đình đang hạnh phúc? Cô cần bảo vệ tổ ấm của mình. Cô không muốn gặp lại Loan. Dù rằng cô đã tha thứ. Dù về một khía cạnh nào đó cô biết ơn Loan. Nếu không có "trò đùa" nghiệt ngã ngày hôm ấy, không biết đời cô rồi sẽ trôi đến đâu bên một người chồng lang chạ như Công. Chỉ biết rằng sau "trò đùa" ấy, không phải chỉ có cô không muốn gặp lại hai người đó, mà họ cũng không bao giờ dám nhìn lại mặt nhau .

196

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2005

Bay qua thời gian



" Xin trả về cho nhau những dấu yêu cuối cùng. Vì thời gian trôi mau không giữ được tình ta. Dù lòng còn yêu nhau đã nói yêu mãi hoài..."



Buổi chiều xuống rất nhanh. Chúng được báo hiệu bằng vạt mây đỏ sẫm cuối trời. Chen chúc xung quanh là những tảng mây lớn nặng nề màu hạt dẻ, trên đó bám theo những vẩy mây trắng như những cụm lông cừu nhỏ. Không nghe được tiếng chim kêu. Chỉ nhìn thấy những cái bóng bé nhỏ của đàn chim chậm rãi bay về phương Nam. Bây giờ rõ hơn một chút, phía dưới kia những ngọn cây nhọn hoắt bắt đầu ngả sang nâu đen, những con sông sáng ánh thiếc, những tòa nhà cao tầng như những bệt màu trắng sổ mạnh trên cái nền lờ nhờ xám của bóng tối đang dần phủ xuống thành phố.

Máy bay sắp hạ cánh. Tiếng máy bay ầm ì nhọc mệt đè nặng lên trái tim tôi một cảm giác bất an và lo lắng. Tôi tưởng tượng ra một sân bay mênh mông đông nghẹt người. Những người to cao, tóc vàng mắt xanh. Những người không nói cùng ngôn ngữ. Những người xa lạ. Chắc chắn họ sẽ không để ý đến tôi. ( Thật khủng khiếp là họ sẽ không để ý đến tôi). Điều đó càng mang lại cảm giác cô độc ghê gớm giữa thế giới to rộng này.Rồi người ra đón tôi và tôi sẽ lạc vào trong đó mà không tìm được ra nhau. Tôi sẽ làm gì nếu chúng tôi không gặp nhau.

Ở cuối chân cầu thang máy bay, cô gái trẻ có mái tóc hung đỏ đi cùng chuyến với tôi đã gặp được người yêu- một anh chàng nhỏ nhắn đeo khuyên ở mũi và tóc nhuộm một chút đỏ ở mái như một cái mào Vẹt. Họ ôm nhau, hôn nhau say đắm. Tôi đi ngang qua, len lén nhìn họ. Vô tình lúc ấy tôi trông thấy cô khóc. Nước mắt không chảy thành dòng mà viên lại thành từng giọt to, đục. Những giọt nước mắt của cô, mùi hương lài có lẽ tỏa ra từ những nếp váy nhàu nhò của cô làm tôi cảm động. Tôi liền vẽ ra trong đầu mình một câu chuyện tình lâm li bi đát. Tất nhiên không phải cứ gặp nhau, ôm nhau, hôn nhau và khóc là những tình tiết của một câu chuyện buồn. Nhưng rõ ràng bất cứ giọt nước mắt nào trong hoàn cảnh này cũng dễ dàng gợi lên sự thương cảm và sầu nhớ. Trong tình trạng hiện thời của tôi, không gì hay hơn là tưởng tượng ra một câu chuyện như thế. Bởi ngay lúc đó tôi thật sự muốn mình được khóc.

Phòng nhận hành lý, trần thấp lè tè và tăm tối. Những chiếc bánh xe lăn kêu kót két. Hành lý đổ xuống băng chuyền ồn ĩ. Bỗng nhiên ánh sáng từ trên cao, qua những lỗ hổng trên tường, đồng loạt ào xuống. Trong ánh sáng xanh nhợt nhạt đó, tôi nhìn thấy một người đàn ông to lớn, tóc bạc, mặc áo sơ mi trắng, đeo một chiếc xà cột bằng da nâu cứng. Trên tay ông cầm một tờ giấy ghi nguệch ngoạc hai chữ " Miss Giang" và trên ngực áo đeo một tấm bảng nhỏ đề tên của ông " Robert Palmer- người dẫn đường". Chúng tôi bắt tay nhau. Bàn tay ông mập mạp và ấm áp. Đôi mắt ông ánh lên những tia lửa nhỏ màu vàng. Từ chiếc áo khoác cũ kĩ dài chấm đầu gối của ông phả ra mùi bánh mì ủ lâu ngày lên men và mùi rượu hoa quả.

Ông đến từ New York, một thành phố ồn ào, náo nhiệt và hiện đại nhất của nước Mỹ rộng lớn. Nhưng ông hoàn toàn không cho ta cái vẻ gì là một người đã từng sinh ra, lớn lên và trải qua mấy mươi năm cuộc đời ở nơi đo,ù ngoại trừ sự nhanh nhẹn và năng động ít khi thấy có ở một ông già. Ông chỉ đi duy nhất một đôi giày to bằng da đen sờn vàmặc chiếc áo choàng cũ ngả vàng mỗi khi trời trở rét. Mỗi khi áp mặt vào tấm áo choàng, như lần đầu gặp ông ở sân bay, thoảng nghe mùi hương bánh mì và rượu quả lên chua từ chiếc áo, thậm chí từ đôi bàn tay khô nhám của ông, tôi lại tự hỏi sao mà nó quen thuộc và ấm áp. Có lẽ vì nó luôn thường xuyên gợi lại trong trí tôi những hình ảnh thân thương của ông tôi và ba tôi, trong những căn phòng tối thơm mùi mì nấu cải xanh.

Tôi thường nghĩ về nước Mỹ qua ông. Trong cái cách đi bộ hối hả, sải chân bước dài đến cả mét, đầu chúi về trước, tay giữ chặt chiếc xà cột để nó không đập bồm bộp vào đùi. Trong cách ông luôn chọn những quán hàng ăn rẻ tiền nhất và sục sạo vào những cửa hiệu bán các đồ lặt vặt tuồng như đã tồn tại cả hàng trăm năm. Trong cách ông cười tươi tỉnh với tôi vào buổi sớm mai và dáng ngồi cô độc của ông trên ghế đá ngoài bờ sông Iowa.

Bằng cách đó tôi đã hiểu rằng nước Mỹ không phải là thiên đường. Đằng sau bộ mặt xinh đẹp đến mê đắm của nước Mỹ còn có những cuộc đời cô đơn và buồn thảm. Sự đào thải khắc nghiệt trong công việc làm ăn, sống và tồn tại luôn làm con người căng thẳng. Họ sống lạnh lùng với nhau một phần cũng là vì đã quá mệt mỏi.

Chúng tôi rời sân bay, bắt đầu cho chuyến viễn du dài một nghìn bảy trăm năm mươi hai giờ. Bắt đầu cho một giấc mơ có thực trong cuộc đời. Chiều vẫn còn phảng phất hơi nóng của một ngày mùa hè tràn ngập ánh mặt trời. Nhưng lúc này phía ngoài bờ sông Potomac đã thổi vào những làn gió mỏng và mát, đủ làm lay động những tàn cây xanh biếc và thổi dạt những đám mây mỡ gà trên trời xa.

Chúng tôi ở trong một khách sạn nhỏ nhưng rất xinh đẹp số 2000 trên đường N. Nó giống như một ngôi nhà cổ nằm trầm mặc giữa vườn cây xanh với những chiếc lá con li ti ánh bạc, với những chú sóc nâu đuôi dài chỉ tìm cách leo lên cửa sổ, giương đôi mắt tròn đen nhánh tò mò nhìn vào trong phòng một cách không giấu giếm. Thỉnh thoảng chúng để lại trên bệ cửa những vỏ hạt dẻ bị cắn nham nhở hay những bông hoa lạ màu trắng xanh, bé như những cái khuy. Máy lạnh chạy rầm rĩ suốt đêm. Chẳng mấy chốc nó đã làm căn phòng có những tấm rèm hoa sặc sỡ lạnh ngắt như trong tủ lạnh.

Trong cầu thang máy của khách sạn, tôi thường hay gặp một anh chàng người Mexico phục vụ ở phòng ăn. Nhưng đáng lẽ đứng thường trực ở phòng ăn thì anh ta luôn tìm cách chạy lăng xăng đâu đó, lên lầu xuống lầu, trong tay lúc nào cũng cầm một chiếc khay bằng bạc và một bộ nĩa cũng bằng bạc lấp lóa. Đó là một anh chàng lực lưỡng, điển trai với nước da vàng, mái tóc đen chải keo bóng nhẫy và có một bộ ria mép của Ret Butler. Mỗi lần gặp tôi anh chàng lại cười một nụ cười đẹp mê hồn và hỏi, cô thấy thoải mái chứ. Tôi thường không hy vọng gì ở trí nhớ của những người phục vụ hoặc bán hàng. Không phải vì tính đãng trí hay vô tâm mà vì những cuộc gặp gỡ trong cuộc đời họ nhiều đến độ, nó giống như một hộp thư điện tử quá tải, phải delete bớt trước khi nhận thêm thư vào hộp. Nên khi anh chàng bảo sẽ nhớ tôi lắm thì tôi bật cười thành tiếng. Điều đó làm phật lòng anh. Mặt anh ta đỏ lên và anh ta đưa ngón tay cái lên miệng tỉ mẩn gặm nó.

Nhưng quả thật anh chàng đã không quên tôi. Sau một tháng rưỡi rong ruổi khắp mọi nơi, tôi quay trở về khách sạn. Tôi gặp lại anh ở trong cầu thang máy, tay vẫn cầm chiếc khay và bộ nĩa bạc, bàn chân nhịp nhịp như luôn muốn nhảy theo một điệu vũ nhạc nào đó trong đầu. Trông thấy tôi, miệng anh ta vo tròn lại và kêu lên bối rối, cô về hồi nào vậy. Cô trông chẳng khác chút nào cả.

Vậy là buổi sáng đó, trong vườn hoa cúc kim nở rộ, tôi được ăn một bữa sáng khá thịnh soạn với sự phục vụ tận tình của anh ta, mặc dầu cả hai chúng tôi đều biết rằng điều đó vi phạm vào luật của khách sạn. Nhưng dù sao, đây cũng là bữa ăn sáng cuối cùng của tôi trong khách sạn Cánh đồng mùa hè số 2000 đường N.

Anh ta luôn luôn hỏi, vậy là cô sẽ ra đi thật sao. Tôi nhìn ra ngoài hồ bơi. Có hai đứa trẻ đang nghịch trên bờ. Trời lạnh, chúng khoác những chiếc áo ấm dày và đầu đội mũ len. Một đứa mặc áo len đỏ. Một đứa khoác áo da xanh nhạt. Chúng nói gì đó và cười, và đuổi bắt nhau vui vẻ. Tôi biết chắc tôi sẽ không khóc. Nhưng vì cảm động mà tôi phải quay mặt đi hoặc chúi đầu vào dĩa thức ăn. Khi bên tôi, anh bạn vẫn lặp lại những câu hỏi buồn rầu bằng một giọng tịt mũi, cô sẽ đi thật sao. Chúng ta sẽ không còn gặp lại nhau nữa phải không? Có ai đó yêu cầu sự giúp đỡ của anh ta. Anh miễn cưỡng ra đi, sau khi để lại một nụ cười mê hồn của Alaine Delon làm tim tôi thổn thức. Từ giây phút đó trở đi, chúng tôi không còn cơ hội gặp lại nhau nữa.

Những giờ rảnh rỗi, trong khi đợi bạn từ Virginia lên đón đi chơi, tôi thích ra ngồi ngoài ban công của khách sạn. Không khí thơm ngây ngất mùi hoa cỏ dại. Những đám mây chạy đuổi bắt nhau tung những cuộn mây nhỏ trắng xóa như những bọt sóng. Khu vườn bé có những bộ bàn ghế bằng sắt xinh xắn sơn trắng kê dọc lối đi rải sỏi, trên những bờ cỏ xanh ngắt, yên tĩnh và vắng người. Phía sau hàng rào sắt bao quanh khu vườn là con đường rậm rạp bóng cây, những chiếc xe hơi đậu một hàng dài vô tận. Phía sau đó nữa, có thể lắm chứ, là một cái hồ xanh trong như con mắt biếc hoặc chính là dòng Potomac lững lờ trôi như một chiếc băng đô bằng lụa xám cột ngang mái tóc xanh của thành phố.

Tôi ngồi đó cho đến khi chuông trong phòng kêu lên những tiếng rụt rè. Lần này là những người đến mua tranh. Chúng tôi ngồi xệp xuống sàn trải thảm, bày tranh trên chiếc bàn gỗ nhỏ. Anh chị Trịnh Thục có vẻ xúc động. Họ mỉm cười bối rối. Và ngượng nghịu đi lại, từ phòng khách vào đến căn bếp nhỏ ( trong khách sạn này, mọi phòng đều được bố trí như một căn hộ nhỏ) và từ đó lộn trở lại phòng khách. Sự xúc động của họ đến từ nỗi nhớ Việt nam da diết. Mặc dầu mới gặp tôi cách đó vài tháng ở Sài Gòn vào những ngày nhiều mưa nhiều nắng, nhưng họ vẫn háo hức nghe những tin tức về Việt nam, tựa như họ đã không được nhìn thấy quê hương hàng chục năm trời và nghẹn ngào kêu lên, trời ơi, những bức tranh này làm tôi nhớ Việt nam ghê gớm.

Buổi chiều, tôi đến thăm nhà anh chị ở khu Fair Fax. Trong những căn phòng ấm áp thơm mùi hoa cỏ dại và nến, những bức tranh lồng khung mạ vàng được treo trang trọng trên tường. Những bức tranh này một thời gian dài cũng đã được treo trang trọng trên tường nhà tôi. Tôi thuộc lòng từng ngày tháng, hoàn cảnh và nơi chốn ra đời của mỗi bức tranh. Chúng lưu giữ trong hồn giấy và sắc màu lung linh ấy những kỷ niệm vô cùng tươi đẹp đã đi qua cuộc đời tôi.

Tôi đứng lặng trước chúng, lòng xao xuyến. Niềm vui sướng kỳ diệu vì không ngờ lại được gặp mặt lại những đứa con tinh thần của mình, ở một nơi cách xa nửa vòng trái đất và sự đau đớn sâu sắc vì biết chắc rằng tôi đã vĩnh viễn mất chúng làm ngực tôi nghẹn lại. Nhưng cùng lúc đó, tôi hiểu rằng mình đang được hạnh phúc. Vài chục năm nữa, vật đổi sao dời, xa cách không một lần gặp mặt tưởng có thể quên hết đi chuyện ngày qua, nhưng khi nhìn những bức tranh, họ sẽ thấy rằng Việt nam luôn bên cạnh họ và thấp thoáng sẽ có hình bóng tôi ở một nơi sâu thẳm nào đó trong nỗi nhớ da diết của họ.

Vì lẽ đó, sự vô giá của bức tranh, ngoài giá trị nghệ thuật, còn nằm ở tính vĩnh cửu của thời gian. Trước khi vẽ một bức tranh tôi chỉ mơ hồ cảm giác được điều đó. Nhưng khi đứng giữa những căn phòng rộng lớn có mái vòm lấp lánh những chùm đèn pha lê và lộng lẫy những khung tranh phết vàng đồ sộ của các viện Bảo tàng, tôi hiểu nó rõ ràng hơn.

Hơi thở của không khí và thời gian thổi tràn ngập trong phòng. Tôi nghe thấy tiếng kẹt cửa khe khẽ và Van Gogh lách mình bước ra ngoài phố , đầu đội một chiếc mũ dạ màu xanh dương có viền lông đen trước trán nhàu nhò và cũ bẩn. Một giờ sau ông quay trở về căn phòng nghèo nàn của mình, trên tay ôm một bó lèo tèo vài bông hướng dương sắp héo rũ. Ông cắm hoa vào lọ, ngồi vào chiếc ghế gỗ cũ kĩ đến độ nó chỉ muốn sụp xuống vào bất kì lúc nào, vừa vẽ vừa chống lại cái đói, cái rét. Sự u ám của đời sống làm sáng rực lên những mảng màu trên tranh. Sự yếu đuối và bất định trong tâm hồn làm những nét bút thêm đầy đặn và mạnh mẽ. Đó dường như là cách để chống lại nỗi đau đớn và cô đơn của tâm hồn và thể xác. Đó dường như cũng là lúc, tận cùng của nỗi thống khổ hoạ sỹ lại tìm gặp được một niềm hạnh phúc vô biên không thể nói thành lời. Nó như một tia chớp sáng rạch ngang bầu trời đêm. Và chỉ có hội hoạ mới đủ sức để nuôi dưỡng nó.

Nếu chỉ có tài năng mà không có lòng yêu mãnh liệt đối với cuộc sống, con người và thiên nhiên, hẳn niềm hạnh phúc ấy không thể nào đến để tạo ra những tuyệt tác và đám hậu sinh chúng ta có được sự xúc động chân thành đến như vậy khi đứng trước chúng.

Kì lạ thay là tình yêu vĩ đại ấy. Nó biến sự chết lặng của những miếng màu bẹp dí trên vải thành sự xao động của hoa lá trong vườn đêm, thành tiếng sột soạt của tơ lụa óng mịn, thành mùi hương mê đắm của biển và ánh mặt trời rực rỡ…

Những bức tranh diễu hành qua mặt tôi. Trái tim nức nở và mắt nhòa lệ. Ngay lập tức tôi thấy mình đang đi giữa ánh sáng mờ ảo của những phòng tiệc lớn vào cái thời cách đây vài trăm năm với những chiếc lông chim và tà áo lụa dài chạm vào da mát rượi, với những bờ vai nõn nà và những lọn tóc giả bằng tơ óng, thậm chí đôi khi còn như rơi vào giữa một cuộc chiến đẫm máu với giáo mác gươm đao sáng lòe. Hoặc tự nhiên thấy mình đang lạc bước trên những đường phố tuyệt đẹp của Paris hay nằm dài trên những đụn rơm thơm nồng nàn của xứ Provence ngắm mây trời bay…

Ai là người có thể cùng một lúc đưa lại cho ta những cảm giác tuyệt vời như thế ngoài Hội họa?

Ở những bảo tàng Mỹ thuật hiện đại như Moma ở San Francisco hay New York, tôi đã đến mà không phải để tìm thấy những cảm xúc êm ái và ngọt ngào như vậy. Thường ở những nơi này, họ trưng bày những bức tranh trừu tượng hoặc nghệ thuật xếp đặt và Video. Chỗ dòng đề chất liệu, luôn là từ "mixed" ( trộn lẫn). Kết quả của mỗi một tác phẩm là sự trộn lẫn giữa âm thanh, ánh sáng, mùi vị, đồ vật, kĩ thuật, cảm xúc…Nó bề bộn như cuộc sống hiện đại với đủ thứ lo âu và khao khát. Nó thảy chúng ta vào một cái túi tối đen rồi đột ngột lôi chúng ta ra ngoài ánh sáng chói chang. Nó dồi chúng ta trên những ngọn sóng dữ tợn nhất của bão tố, quất vào mặt ta những ngọn gió buốt nhất của giá rét, gõ vào tai ta những tiếng động ầm ĩ nhất…cho đến khi tim ta rướm máu, tay chân ta mỏi nhừ và đầu óc ta căng ra như một quả bóng thì nó tống ta ra cửa. Ấy vậy mà bỗng nhiên, như một phép màu xảy ra, khi hít thở khí trời và đối mặt với cuộc đời thực, ta bỗng thấy cuộc sống tươi đẹp lên bội phần. Đáng để cho ta yêu và sống thực đàng hoàng với những năm tháng sẽ đến. Và chúng ta ra về. Lòng tràn ngập niềm biết ơn vô hạn.

Một lần, tôi và Vinh ghé thăm Bảo tàng Mỹ thuật ở San Francisco. Vinh là bạn cũ của tôi từ năm lớp Tám. Đến khi lên cấp Ba mỗi đứa mỗi nơi. Trong trí tôi Vinh vẫn chỉ là một cậu bé con nhỏ người, ngồi bàn cuối cùng trong một lớp học tăm tối, ẩm thấp, thỉnh thoảng bay lên mùi phân mèo và mùi mưa ướt át. Nhưng Vinh bây giờ đã khác. Cậu to cao, đẹp trai hơn với mái tóc đinh chải keo bóng loáng, với áo sơ mi trắng và áo khoác ngoài bằng da nâu thoang thoảng mùi nước hoa ( trong đêm lạnh và sương mù của San Francisco, nó trở nên vô cùng quyến rũ). Nhưng quan trọng là trông cậu tự tin hơn. Sự tự tin đó tỏa ra từ ánh mắt sáng và tiếng cười giòn giã.

Cậu nhìn đời bằng đôi mắt háo hức của kẻ muốn chinh phục và chiến thắng. Điều đó có thể lý giải được vì có thể gọi cậu là một trong những người Việt Nam trẻ tuổi có những bước đầu thành công trên một đất nước xa lạ không phải là quê hương của mình khi được nhận bằng kỹ sư vi tính và có chân trong hãng Microsoft. Để xua tan cơn buồn ngủ, trên đường xuống Los Angeles, trong khi tôi bắt đầu gà gật, cố gắng dấu đi những tiếng thở dài cứ chực bật ra thì cậu có thể nói không biết mệt mỏi về cái mớ bòng bong giữa triết học và chính trị. Tham vọng làm chính trị của cậu không bị che giấu nên cứ sáng rực lên trong mắt, dù cậu hiểu rằng, cơ hội cho cậu ở đất Mỹ là hoàn toàn không thể.

Giờ đây chúng tôi thay đổi vị trí cho nhau. Tôi say sưa với những tượng và tranh bao nhiêu cậu trông lại càng thảm hại bấy nhiêu. Cậu ngồi trên một ghế băng dài, mặt thẫn ra và luôn tay đưa lên che miệng ngáp, nước mắt chảy dàn dụa trên mặt. Rồi cậu thốt lên yếu ớt " Trời ơi mình đói quá. Đói đến run cả tay chân" như một lời bào chữa cho sự uể oải của mình.

Ngoài sân, một cái sân rộng lót gạch xám dựng đứng những cây cột bằng thạch cao trắng cao vút, một đám cưới đang diễn ra dưới chân tượng " Suy tư " của Rodin. Những cô nàng phù dâu mặc những chiếc áo dài lụa xám như sương khói. Nắng tỏa một lớp bụi vàng óng ánh lên người các cô, biến các cô thành tiên nữ và khung cảnh đẹp như thần tiên. Vang trong gió những tiếng cười hồn nhiên và những chiếc chuông bạc đính trên thắt lưng của họ rung lên những tiếng trong trẻo, chúc phúc cho đôi vợ chồng son.

Tôi ngồi xuống bậc tam cấp đá mát lạnh. Trong không khí bay lên những bọt tròn nhỏ đầy màu sắc. Chúng đột ngột vỡ ra làm bóng tối màu nâu đất phủ quanh bức tượng người đàn ông đang ngồi trầm tư chuyển sang xanh non và lấp lánh những tia lửa nhỏ. Tôi cảm giác người đàn ông sắp cử động. Chàng sẽ hạ bàn tay chống cằm xuống, đầu chàng sẽ ngẩng cao và từ khóe mắt sẽ rỉ ra hai dòng nước.

Chàng đang nghĩ gì? Ngồi giữa trời đất bao la, trầm mình qua mưa gió, chàng nghĩ về một tình yêu bất tử hay một hạnh phúc dài lâu của đời người? Chàng nghĩ về sự bất hạnh hay nỗi đau khổ đời đời của nhân loại?

Hay chàng đang nghĩ thời khắc thật ngắn ngủi và ngày trôi qua như gió như mây, mọi thứ danh lợi đều là phù du. Sao người với người không biết thương yêu mà cứ mãi dằn vặt nhau cho đau khổ?

Chúng ta đứng dưới chân chàng, nghĩ về những điều chàng đang nghĩ. Bỗng nhiên từ một nơi xa xăm nào vọng lên một tiếng thở dài buồn bã. Chúng rền rĩ chạy trên đầu tôi như ngọn gió ướt đẫm sương mù từ ngoài cầu tàu Người Đánh Cá thổi lại. Thứ gió này tôi thường cảm thấy mỗi khi đi dạo ngang qua Đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam, nằm trong công viên Washington DC mặc dù ở đây không có biển, không có cầu cảng, không có sương mù. Chỉ có dòng Potomac trong xanh và những hàng cây xinh đẹp tỏa vào không gian hương thơm mát. Những đám đông thường đến đây đi dạo trên những đường lát ximăng xám rậm rạp cỏ hoặc đến ngồi trên những ghế đá trong ánh nắng của ban mai hay chiều tà đột ngột chuyển sang màu xanh nước biển.

Buổi sáng đầu tiên ở nước Mỹ, Mary dẫn chúng tôi tới đây. Mary vâm váp, tóc vàng óng. Chiếc váy đen hai dây dài ngang đầu gối lộ ra đôi vai to khỏe và nước da nâu óng lốm đốm tàn nhang. Mary làm hướng dẫn viên du lịch, cô nói nhiều, nói nhanh, hàm răng sáng lên lấp lánh. Các từ cứ ríu ríu vào nhau, lại được thể hiện bằng một giọng hơi thé, cuối câu không hạ xuống thấp mà cứ mải bay lên cao nên rất khó nghe. Mỗi lần ngừng lại, cô lại thở dốc, uống một ngụm nước to và đưa khăn lên thấm mồ hôi rịn đầy trên trán. Khi biết tôi đến từ Việt Nam, cô có vẻ hào hứng, cô thường dành cho tôi những nụ cười âu yếm và những cái xiết tay mạnh mẽ trong suốt chuyến đi. Cô chỉ bức tường đá khắc tên những người lính Mỹ đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh Việt Nam, hỏi tôi nghĩ gì?

Tôi đã đứng nhìn những bức tường ấy rất lâu. Mặc dầu nắng lên lấp lóa trên mấy tàn cây, rọi xuống những đốm hoa nắng vàng óng như những đóa cúc nhỏ nhưng màu đen của đá lạnh vẫn mang lại cho tôi một cảm giác nặng nề. Giữa khung cảnh thanh bình, trời rất xanh, gió lại dịu dàng và không khí trong trẻo, bức tường dựng lên đột ngột như một cái gai khổng lồ, luôn sẵn sàng làm tứa máu ký ức.

Hơn hai mươi bốn năm đã trôi qua, nhưng không phải tất cả mọi điều đều đã trôi qua. Chắc chắn rằng những vết thương trong lòng những cựu binh Mỹ và Việt Nam không bao giờ còn lành lại được nữa. Ngày hoặc đêm, nó đều đã trở thành nỗi ám ảnh. Bên những bức tường như thế này, tất cả đều là những người bại trận. Bại trận trong quá khứ và đời sống bất an của mình.

Giờ đây, những bé em đang chạy đuổi theo quả banh trên luống cỏ, những cặp tình nhân khoác vai nhau thả bộ trên đường và ngay cả tôi cũng đứng ngoài nó, không thuộc về những mất mát và đau khổ đã khắc sâu trên bức tường đồ sộ của nước Mỹ, trên những bức tường mà nếu dựng lên ở Việt Nam, sẽ cao bao nhiêu, dài bao nhiêu và rộng lớn biết bao nhiêu.

Trong đám đông người dự buổi tham quan ngày hôm đó, không hiểu sao tôi thấy rất quí mến cô Plack vợ của David Plack, nhân viên chương trình Viết văn quốc tế dù tôi và cô không nói chuyện với nhau nhiều, thậm chí cả tên của cô tôi cũng không kịp hỏi. Cuộc sống của tôi, tôi vẫn thường ngẫm ngợi, thấy thật lạ kỳ. Có một vài việc chỉ thoảng qua mà không cách nào quên được. Chúng day dứt và trở thành sự ám ảnh trong trí.

Cô Plack không đẹp, giọng nói nhỏ và hơi thé, không chuẩn âm vì cô người Tây Ban Nha. Mái tóc hạt dẻ cắt ngắn, lộ khuôn mặt xương với đôi mắt to màu thép xanh có những ánh nhỏ đen thẫm nở xòe như một đóa pháo bông tí hon và hàng lông mi rậm rạp tựa bóng một hàng cây phủ xuống mặt hồ phẳng lặng. Trong chiếc váy vải hoa xanh nhạt cũ mỏng, tưởng chỉ cần vò mạnh tay chúng cũng bở vụn ra như cám, cô mảnh mai dịu dàng như những cây liễu mùa thu mọc quanh hồ công viên quốc gia Iowa. Mỗi một nụ cười của cô, mỗi một cử chỉ của cô đều rụt rè bối rối, e thẹn như một cô gái nhỏ chưa chồng.

Mỗi lần quay lại nhìn cô, bắt gặp ánh mắt trìu mến của cô nhìn chồng, lòng tôi thấy nhẹ bỗng. Tôi hay mơ hồ về một thứ tình yêu vượt biên giới. Nó có vẻ chắp nối và không thật, ít nhất là trong sự khác biệt về ngôn ngữ và sâu xa hơn là sự khác biệt về cội nguồn dân tộc. Có thể bởi vì chúng ta là người Châu Á, chúng ta vốn thấy những điều đó là lạ lẫm. Nhưng nhiều khi chúng ta quên mất rằng tình yêu có tiếng nói bí ẩn và ma lực của nó thì vô cùng. Chúng ta là những linh hồn nhỏ lang thang cô độc trong thế giới mênh mông này. Duyên cơ may gặp nhau thật vô cùng quí hiếm. Lại cứ như gió như mây thản nhiên bay đi mất. Trong đêm khuya, cuối một ngày của sự gặp gỡ và chia ly, tôi vẫn thường một mình nhẩm đọc bốn câu thơ của Bùi Minh Quốc " Có khi nào trên đường đời tấp nập. Ta vô tình đã đi lướt qua nhau. Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất. Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu...". Khi tôi chợt nghĩ rằng đi bên cạnh David bây giờ không phải là cô ấy, mà là một người con gái Mỹ, cũng nhỏ nhắn đáng yêu, không phải như đám liễu thu bên hồ thì cũng như đám xa trục thảo trên cánh đồng và David vẫn thấy hạnh phúc thì trong sâu thẳm của tôi có một cây kim nhỏ nhô lên và cọ quạy. Tự nhiên mà thấy tình yêu có vẻ giản đơn, lớp vỏ bọc lấp lánh muôn sắc màu quanh nó giảm đi mười phần đẹp đẽ.

Thật chẳng hay ho gì khi đứng ngắm họ mê mải để nghĩ ngợi những điều mà mọi người cho là vô lý. Nhưng tôi vẫn một mực nhất quyết rằng, trong đời có thể yêu nhiều lần nhưng trong những lần yêu đó vẫn chỉ có duy nhất một tình yêu có thể vượt lên trên hết mọi sự tầm thường của sự sống và cái chết khi gặp được đúng một nửa còn lại của mình.

Ôi lại là cái câu "một nửa còn lại của mình", xem có vẻ sách vở và buồn cười. Nhưng chẳng phải có người suốt một đời chỉ sống trong cô đơn mặc dù đã qua nhiều lần yêu và cưới, lại có người mãi mãi hạnh phúc bền lâu với chỉ một người?

Chúng ta xem như những nửa bóng xanh đỏ tím vàng... bay trong không trung. May mắn thì nửa vàng gặp được nửa vàng hòa hợp. Kém may mắn hơn thì nửa vàng ghép với nửa đỏ, nửa xanh ghép với nửa tím, cũng thành bóng tròn nhưng sắc màu đối chọi. Vô duyên thì nhìn thấy nhau đấy mà lại bay trượt qua nhau, hoặc suốt đời chẳng bao giờ gặp mặt nhau.

Với những điều này, đôi khi thời gian lại chiếm một vị trí quan trọng. Trong những ngày ở Virginia, tôi được xem bộ phim Video " Cánh cửa trượt"với cô đào Gwyneth Paltrow xinh đẹp thủ vai chính- Helen, một cô gái bị mất việc làm và bạn trai ngoại tình. Nhưng số phận của Helen lại được quyết định bởi những cánh cửa trượt của chiếc tàu điện ngầm ở Luân Đôn. Từ sở làm về, nếu như lên được tàu trở về nhà, cô sẽ phát hiện người yêu đang ngủ với người con gái khác, cuộc sống của cô sẽ rẽ sang một con đường mới. Còn nếu như bị trễ tàu, tương lai của cô sẽ hoàn toàn khác hẳn. Sẽ lại sống trong sự dối trá và chán chường. Hai câu chuyện song song với nhau trong phim mô tả hai cuộc sống của Helen theo hai hướng khác nhau: nếu trễ tàu và nếu không trễ tàu...Chỉ cần một giây đồng hồ cũng có thể thay đổi cuộc đời chúng ta. Cũng có thể biến chuyện không thành có, biến sự va chạm bất hạnh này thành niềm hạnh phúc mới mẻ, tinh khôi.

Tôi nằm vục đầu trong chiếc chăn bông thơm mùi hồ dán, nghĩ mãi về hai từ " khoảnh khắc" mà không sao ngủ được. Ngoài cửa sổ bình minh lên loang lổ sau những rặng cây màu tím nhạt. Con chim bé xíu có chiếc mỏ đỏ hung hăng gõ tóc tóc vào mặt kính cửa sổ đẫm nước, tóc tai dứng đứng cả lên. Trời mưa nhẹ, phủ một lớp bột xám lên những đám lá phong đang nhuộm vàng. Một sớm thu thường bắt đầu trong trẻo và ướt át như thế.

Vào những ngày tháng này đêm rất đẹp. Trờiø đôi khi xanh màu lá vì ánh vàng lấp lánh từ những rừng thu hắt lên. Đêm xanh xao thơm mùi lá và đất ẩm ướt. Gió thổi rầu rĩ qua những vòm cây. Sương bay chập chờn trong không khí thành những đám khói xám trắng, ánh lên một chút phấn hồng nhờ ánh đèn xe. Tôi thích ngồi trên xe, xuyên qua đêm, xuyên qua những con đường mòn đến tận ba bốn giờ sáng mới quay về nhà. Qua ánh đèn xe mù mịt tôi nhìn thấy những vụng nước nhỏ đọng đầy ánh trăng nằm lặng lẽ dưới những thân cây tím sẫm, sáng lên trong bóng tối như những miếng gương vỡ tráng bạc. Thấy vài chiếc lá phong màu huyết dụ hoặc vàng chanh đâm xuyên qua đám khói như một cánh bướm nhỏ rồi dịu dàng chạm đất. Thấy cả nỗi buồn mơ hồ và sự cô độc của đêm tràn ngập trong lòng.

Trong những chuyến đi này thường có Ma ( Minh Anh) đi cùng tôi. Đó là một cậu bé già dặn trước tuổi, gầy và cao với những nét đẹp hơi lạnh và đôi mắt dài đa cảm. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, cậu sang đây theo chương trình du học tự túc. Vậy mà sống giữa một đất nước của quần Jean áo thun, cậu chỉ mặc quần Tây, áo sơ mi dài tay. Mùa hè xắn lên trên khuỷu tay, mùa đông cài măng séc. Tất cả mọi người ở nơi đó và chính cậu cũng tự nhận mình là người lập dị.

Ma để tóc dài ngang vai, những sợi tóc mềm dính bết vào nhau được cột túm một chùm sau ót bằng dây thun ( nhưng nói cách nào đi nữa, nó vẫn làm cậu trông đáng yêu và lãng mạn hơn). Cô nàng da đen to béo ở Costco của Tuấn và Phú rất yêu mái tóc của cậu. Cô ấy đứng gác ở cửa ra vào, đắm đuối nhìn theo mái tóc của Ma mỗi khi cậu đi ngang qua và bối rối mỉm cười. Giây phút đầu tiên nhìn thấy cậu, mái tóc đã như là khởi đầu của một chuỗi hồi ức tươi đẹp về sau này của tôi khi nhớ đến cậu.

Nhớ một cậu bé hè cũng như đông, chỉ đi lẹt quẹt một đôi dép lê, hở những ngón chân có lớp da hồng nhăn nheo vì lạnh và gót chân bám đầy đất. Nhớ một cậu bé thông minh nhưng lười biếng, có thể bỏ hàng chục giờ đồng hồ để chơi game nhưng chỉ cần nửa giờ đọc sách. Nhớ một cậu bé đãng trí đến độ suốt một học kì đến lớp, thi đạt điểm giỏi mà không biết mình học nhầm lớp trên. Nhớ một cậu bé với năm trăm lẻ bốn giờ của yêu thương dịu dàng êm ái. Tình cảm cậu dành cho một người con gái từ xa đến có gì thật cảm động và khác người. Và đẹp vì cậu hồn nhiên dám phơi bày nó trước mắt mọi người tình cảm của mình, mặc cho những lời chọc ghẹo và mặc cho nó đầy tuyệt vọng. Cậu chải tóc gọn gàng, chân rửa sạch sẽ, đi giày bata cột dây lịch sự, nhịn tiền tiêu vặt để mua một chiếc vé xem hát giá bốn mươi lăm đô, nấu những món ăn người con gái đó yêu thích, đứng hơn hai giờ bên một cây phong lá đỏ để chọn hái những chiếc lá đẹp nhất, rực rỡ nhất tặng cô và gần ba giờ sáng vẫn còn ngồi bên đàn dạo khúc nhạc tình của Bethoven, để đầu dây bên kia, ở một tiểu bang cách Virginia hai giờ đồng hồ, cô gái nằm ôm điện thoại ngủ ngon lành.

Cái tình của cậu mới thật lạ lùng. Nó đắm say nhưng tỉnh táo. Nó mơ hồ như buổi chiều đầy mây mù nhưng lại rõ ràng như buổi sáng mùa hè đầy nắng. Trong cùng lúc, nó được sống rạch ròi khi như tình chị em khi như tình trai gái. Nó làm cậu đau khổ nhưng nhẹ nhõm. Nó làm người con gái cảm thấy lúng túng nhưng thật sự hạnh phúc.

Hạnh phúc ấy đến từ sự biết ơn nên trong trẻo và dịu dàng. Mỗi khi nghĩ về nó tự thấy lòng thật ấm áp. Như là những lúc ngắm nhìn lại những chiếc lá phong ép khô còn giữ được sắc đỏ tươi, để hiểu rằng người đã xa nhưng tấm chân tình ấy vẫn còn nguyên vẹn.

Có thể bây giờ là mãi mãi, không còn ai nhặt lá thu phong, chơi đàn giữa đêm khuya vắng. Không còn ai giận hờn, an ủi. Tóc cũng không còn dài đến ngang vai. Trên cây tình yêu hoa lại một lần nữa nở rộ. Những kỉ niệm sẽ vì thế phai nhạt dần đi. Nhưng trong trí tôi thỉnh thoảng lại vang lên hai câu thơ của cậu "Minh nguyệt mỏi mắt tìm ngọc cũ . Anh hùng khổ dạ nhớ sông xưa". Đôi mắt của cậu, người em, người bạn của tôi đêm cuối cùng mới thật to và xanh trong.

Tôi nhớ cậu, là nhớ lại tất cả những kỷ niệm đã có với Tuấn, Phú, Nhơn, Tèo, Sơn trong một căn hộ cho thuê trên tầng một của tòa nhà số 7 300 khu Monticello. Chỉ có Phú và Tuấn là theo cha mẹ sang đây định cư. Những người còn lại, cũng như Ma, du học tự túc tại trường Nova ( riêng Sơn học ở trường Mason).

Một phần ba thời gian của chuyến viễn du tôi trú chân tại đây. Căn phòng có hai phòng ngủ, một phòng khách, một bếp, một công trình phụ giá chín trăm đô một tháng và có khung cửa kính lớn trông xuống bãi để xe. Đứng ngoài ban công sẽ nhìn thấy được những cây cành đang trút lá và một bầu trời đêm đen thẫm lấp lánh trăng sao trong khi gió thổi như giông bão. Chỉ có một điều phiền toái là đêm khuya, việc đóng mở cánh cửa gặp khó khăn. Chúng cứ kêu lên ken két và lập tức sáng hôm sau, một cái đầu bù xù ngái ngủ sẽ thò vào cửa càu nhàu vì đêm qua bị quấy rối.

Chỉ vào buổi tối chúng tôi mới gặp mặt nhau đầy đủ, ăn những bữa ăn nấu vội nhưng thật sự là những bữa ăn vui vẻ, ấm cúng. Thời gian đó tôi ngốn một số lượng phim khổng lồ và chỉ chịu đi ngủ khi đồng hồ chỉ ba, bốn giờ sáng. Những phim này, có cuốn tôi đã xem ở nhà, nhưng giờ coi lại, với những người bạn của tôi, bỗng nhiên tươi mới và sâu sắc hơn hẳn. Là vì sau mỗi lần coi như vậy, tôi vẫn thường hay tranh luận với Phú, cậu bạn nhỏ thó có nụ cười rất tươi làm sáng gương mặt ốm nheo, người đã bỏ hàng mấy giờ đồng hồ lái xe từ Philadelphia về Virginia để kịp gặp tôi, vào buổi tối đầu tiên tôi đặt chân lên nước Mỹ.

Phú không đẹp trai, lại hiền lành, nhút nhát và hay khóc. Hoặc chỉ bởi vì cậu tốt quá, làm gì cũng muốn dành điều tốt đẹp nhất cho bạn bè, làm gì cũng nhường nhịn, lo lắng sợ bạn bè phật ý, thường đến cuối cuộc chơi mới tự mình lùi vào trong một góc tối, trái tim run rẩy vì tiếc nuối những điều lẽ ra phải làm thì lại để vụt bay qua mất. Vì thế mọi người chơi với cậu, cảm thấy cần cậu nhưng trong thâm tâm có chút gì coi thường cậu. Tội nghiệp cậu. Nhưng tôi không biết nói gì. Tôi chỉ ngồi im lặng bên cậu, xiết nhẹ bàn tay nóng ran như lên cơn sốt của cậu, hy vọng sẽ làm lòng cậu nhẹ nhõm hơn.

Đôi khi tôi đột ngột quay lại và như trong bóng tối mênh mông thơm mùi bắp rang của rạp chiếu phim " ABM" bên thành phố Crystal, khi chỉ có độc hai chúng tôi ngồi coi cuốn phim " Những cậu con trai đừng khóc", tôi nhìn thấy những giọt nước mắt nóng hổi sáng long lanh trên gò má cậu.

Tôi hiểu sự cô đơn là nỗi sợ hãi trong lòng cậu. Đó là lý do vì sao cậu không muốn mất bạn bè, vì bất cứ một lý do nhỏ nhặt nào.

Cũng vì sự cô đơn ấy nên mỗi lần cầm điện thoại, Nhơn có thể nói chuyện hàng ba bốn giờ liền không ngừng lại được. Bọn bạn thường hay kể về Nhơn, bằng một giọng bông phèng nhưng âu yếm, về giấc ngủ và nhu cầu nói điện thoại của cô. Chỉ cần ngồi lên xe trong vòng năm phút, dù nhạc bật rock muốn vỡ cả loa, sau vài cái nhún nhảy là cô đã ngoẹo đầu ngủ ngon lành. Thỉnh thoảng cô nhỏm đầu dậy, đôi mắt đen láy nhìn không chớp qua cửa kính, thốt lên thảng thốt, trời ơi đẹp quá. Người bạn đường vội quay lại bắt chuyện, khen trời xanh mây trắng bay thật đẹp thì cô đã lại lịm sâu vào giấc ngủ. Trong cách cô bình yên ngủ, trong cách cô cười dòn khoe hàm răng sáng bóng, trong cách cô chọc ghẹo mấy cậu bạn trai, trong cách cô bạo mồm buông ra câu chửi thề đầy tự nhiên và nhẹ nhõm, chẳng ai nghi ngờ gì nữa, cô sống vô tư và đơn giản. Thậm chí đôi khi nó còn làm người ta bực cô.

Nhưng bình minh của một ngày ấy, ánh lấp lánh màu hồng ngọc của những tia nắng rọi qua cửa kính phủ lớp bụi mỏng đã vô tình làm vỡ vỏ bọc bên ngoài của cô.

Cô nằm run rẩy trên giường, bé bỏng và yếu ớt như một con chim non bị trúng thương. Gương mặt xinh đẹp và đôi mắt thiên thần ướt đẫm nước. Vì cố kìm tiếng khóc nên ngực cô chỉ phát ra những tiếng nấc nghẹn. Tôi ngồi bó gối nhìn cô, trên một chiếc nệm nhỏ bề bộn sách vở, không biết nói gì. Tôi chỉ biết là nên để cô khóc. Khóc cho một tuổi thơ cơ cực và mất hết tương lai. Khóc cho những ước mơ bị gãy cánh khi bước chân vào đời. Khóc cho những năm tháng cũ phải trả một giá khá đắt để có một ngày mai sáng sủa hơn. Khóc vì một tình yêu đầy tuyệt vọng. Khóc vì những điều phiền muộn này không thể nói được cùng ai. Chỉ có tôi. Nhưng tôi không ở bên cô mãi. Một vài ngày nữa tôi sẽ phải ra đi.

Nên khi tất cả mọi người đều thấy cô cười, cười rất nhiều rất tươi thì tôi chỉ luôn thấy những giọt nước mắt ngập ngừng lăn trên gò má mịn màng của cô. Và tiếng cô thì thầm bối rối "Khóc được rồi tao thấy nhẹ như không. Ngày mai lại có thể đùa vui. Mặc ai bảo mình hời hợt cũng được. Sống ở đây, ngày nào thần kinh cũng căng ra, không biết tự làm vui mình thì chỉ suy sụp mà chết".

Về sau, khi cô rời Virginia sang Texas học, mùa đông dường như dừng chân lại rất lâu trong căn phòng nhỏ. Mọi người không thể ngờ sẽ nhớ cô nhiều đến thế. Đôi khi lại thảng thốt bắt gặp mình đang đợi tiếng kẹt cửa và mong chờ cánh cửa sẽ mở ra. Cô sẽ bước vào mang theo ngọn gió xuân ấm áp và tiếng cười giòn tan vô tư lự.

Lúc đó mọi người hiểu rõ ràng hơn, không phải chỉ lần này, mà rất nhiều lần khác nữa, vì vô tình họ đã đánh mất những khoảnh khắc lý ra đã rất ấm êm và hạnh phúc trong đời sống vốn đầy bất an của mình.

Tôi thường ở nhà hoặc vào Washington DC một mình. Sáng sớm họ đã ra khỏi nhà và chỉ trở về trong buổi tối muộn. Người đi học ban ngày buổi tối về lại đi làm thêm ngoài quán ăn Nam Việt đến mười một, mười hai giờ khuya. Công việc nặng nhọc là đứng bếp, rửa chén. Nhẹ nhàng hơn như Nhơn và Tèo, làm phục vụ bàn. Tiền tip vừa đủ trả tiền nhà, tiền học. Buồn ngủ cũng chỉ dám chợp mắt một lát rồi ngồi vào máy, hì hụi học bài đến ba, bốn giờ sáng. Ngày mai sẽ lại tiếp tục như một ngày đã qua. Buồn ngủ và mệt mỏi trở thành bệnh kinh niên. Có dịp nó bùng lên, làm đảo lộn mọi sắp xếp đã có sẵn.

Anh chị họ tôi cũng ở trong một căn hộ cho thuê ( và có lẽ suốt đời họ sẽ ở như vậy), nhưng nó nhỏ và rẻ tiền hơn trên đường Parkwood. Buổi tối hôm gặp chị, trời giá lạnh và lây rây mưa. Những sợi mưa bạc xuyên qua những tàn lá xanh sẫm, bay vướng vào người như tơ. Những kính cửa run rẩy. Mùi bữa ăn chiều vẫn còn phảng phất quanh phòng khách. Dưới ánh đèn vàng, chị nhỏ bé, xinh xắn trong chiếc áo đầm đỏ rực rỡ của một cô thiếu nữ. Hương nước hoa, có lẽ từ mái tóc nâu của chị thoảng qua rất nhanh. Chỉ khi ngồi sát bên cạnh chị tôi mới trông rõ quầng thâm dưới lớp phấn dầy và những nếp nhăn chạy vòng quanh mắt. Thời gian quả thật là chẳng tha một ai. Chị ấy đã già rồi. Chẳng mấy chốc nữa sẽ lại đến lượt tôi.

Hầu như tất cả mọi thời gian trò chuyện của chúng tôi đều dành cho riêng chị. Thời khóa biểu của chị bảy ngày như một. Sáng tám giờ rưỡi chị đến làm việc cho một tiệm làm móng tay của người Mỹ. Tối chín, mười giờ mới về đến nhà, tay chân rã rời. Tối thứ bảy, chủ nhật lại đi hát cho những đám cưới của người Việt. Bệnh cũng không dám nghỉ vì sợ mất khách. Còn anh làm thợ hớt tóc, lượng công việc có ít hơn nhưng cũng trải dàn đều khắp tuần. Hẹn một ngày chở chị vào Washington DC xem hội hoa đào bên dòng Potomac, nhưng bảy mùa xuân qua vẫn chỉ là lời hứa với nhau. Dần dần chị tự cảm thấy mình như một cái máy. Giận dỗi, yêu thương...mọi cảm giác dường như đông cứng lại. Chỉ có nỗi lo sợ không có tiền để trả nợ nhà, xe... cùng tất cả các chi phí khác trong cuộc sống của hai vợ chồng và gửi về Việt Nam phụ giúp bố mẹ chồng đốt nóng cơ thể, giúp cho chị không quỵ ngã.

Cho đến bây giờ, trong trí chị, Việt Nam vẫn như ngày chị đi. Cuộc sống vẫn bần hàn. Nhà cửa vẫn lụp xụp. Sợ nhất là nhà vệ sinh chật hẹp và hôi hám. Khi tôi bảo Việt Nam giờ khác nhiều. Có nhà ở còn sang hơn cả nhà Mỹ thì chị ngẩn người, luôn miệng hỏi "Really?". Rồi chị buồn bã bảo, Việt Nam bây giờ xa cách chị nhiều.

Chị có điều gì muốn giấu tôi. Mỗi lần định nói ra lại lúng túng dừng lại. Đôi môi run rẩy. Mắt hoe đỏ như sắp khóc đến nơi. Những ngón tay xanh xao của chị níu chặt mép váy cho đến kì nổi gân lên mới thôi. Đêm cuối cùng chia tay nhau trên những bậc tam cấp tối mờ dưới sân rụng đầy lá, chị ôm tôi trong vòng tay mảnh dẻ của mình, nói khẽ, anh chị chắc sẽ chia tay nhau. Chị phát hiện ra ảnh có bồ. Tha thứ bao nhiêu lần rồi vẫn vậy. Em bảo, sống cùng nhau làm sao được nữa khi nằm bên nhau tâm trí lại thơ thẩn đến với người khác. Mà em về đừng cho ba má ảnh biết.

Chị chỉ ngạc nhiên, chị đã làm hết tất cả mọi việc để lo toan cho cuộc sống của anh chị, lo cho cả gia đình bên chồng mà anh ấy vẫn phụ chị. Thôi để chị đi. Chị ước gì có em ở mãi đây bên cạnh chị. Hai chị em tâm sự với nhau cho đỡ buồn.

Dùng dằng mãi chúng tôi mới chia tay. Chị đi rồi. Xe của chị đã lao vào trong đêm, nhưng mùi hương từ mái tóc chị vẫn vương vất ở lại. Nước mắt của chị bám trên má tôi thành những giọt hương mát lạnh. Tôi tưởng tượng ra một căn phòng nhỏ suốt ngày vắng bóng người. Năm này sang tháng nọ. Sự vắng lặng đó làm cho lửa cũng trở nên nguội lạnh chứ nói gì đến tình người.

Những ngày ở Mỹ tôi bỏ thói quen dậy muộn. Thời gian bây giờ đối với tôi thật hiếm hoi và đáng quí. Tôi luôn cảm thấy tiếc mỗi giờ phút sắp trôi qua. Tôi thường dậy khi trời còn mờ sáng. Sau tấm rèm cửa nắng xanh màu lá nõn uyển chuyển bay trên những nóc nhà cao tầng của thành phố New York và những tấm kính cửa bắt đầu sáng lên lấp lánh. Tôi mặc vội áo khoác, mở cửa bước xuống con đường vắng vẻ. Lúc này Lola vẫn ngủ say, mặt dúi vào gối. Hai cánh tay, hai cẳng chân trần to béo và đen bóng dang rộng, thò hẳn ra ngoài chăn.

Lola không phải là một cô gái đẹp nhưng biết làm điệu. Lại hồn nhiên, vô tư mặc dù đã có đứa con trai bốn tuổi và cuộc hôn nhân lần thứ Nhất gãy đổ, tiếng Anh cũng rất chuẩn nên tất cả mọi người đều yêu quí cô.

Tôi và Lola thuê chung phòng để tiết kiệm tiền đi chơi những nơi khác. Căn phòng nhỏ với hai chiếc giường nhỏ luôn luôn bề bộn quần áo, sách vở và tràn ngập mùi dầu thơm đặc biệt của nước Nigieria, rõ nhất là sau khi cô bước ra từ nhà tắm. Vì những cánh cửa sổ thường được khép lại nên cái mùi này không bay đi mà luẩn quẩn trong phòng cả ngày. Hôm đầu tiên nó làm tôi khó chịu, nhức đầu. Sau thành quen, thành nghiện. Những hôm về phòng đã được dọn dẹp sạch sẽ, mùi nước hoa xịt phòng át đi mùi hương của Lola, lại thấy nhớ.

Lola thường bôi nó lên mái tóc xoăn tít. Lên bộ váy sặc sỡ. Lên nước da đen nhẫy. Tôi không thể hình dung được nếu Lola dùng một loại nước hoa nào của Lancôme hay Christine Dior sẽ ra sao. Rõ ràng với một người như cô mọi chuyện đều có thể. Nhưng tôi không mong muốn điều đó và không tin điều đó. Cho dù tháng mười này cô sẽ cưới chồng ở NewYork và trong tương lai sẽ chuyển tới Luân Đôn.

Trong khi tất cả mọi người không thích thì tôi lại có cảm tình đặc biệt với nó. Bởi vì mùi hương này như là Nigieria của cô vậy. Người ta không thể quên hay lầm lẫn Tổ quốc được.

Nó thơm vị hắc, đặc quánh và béo ngậy. Nhấm nháp một chút, nó bắt đầu ngọt lên dần dần. Đến khi vị ngọt đã đông lại trên đầu mũi thì đột ngột tan ra, dịu dàng trở về vị hăng hắc ban đầu. Lần này nhẹ nhàng chứ không dồn dập như lúc đầu. Thêm vài lần đặc lại và tan ra như thế, nó đưa lại cảm giác nhẹ nhàng khó tả. Trong hơi lạnh của những ngày đầu thu nó làm không khí ấm lên và đầy quyến rũ.

Lola ồn ào và náo nhiệt. Cô ít buồn, thích ăn ngon, uống rượu mạnh, đọc thơ và hát ầm ĩ ngoài đường phố với một phong cách rất Mỹ. Mỗi khi có chuyện gì làm cô hứng thú, đôi môi dầy màu hồng nhạt lại trề xuống và đôi mắt vốn dĩ đã to của cô mở lớn, như một cái hồ sâu thẳm ai chẳng may trượt chân rơi xuống sẽ khó bơi vào được đến bờ.

Thỉnh thoảng Lola về lại mang theo một đống áo quần hoặc sách đại hạ giá. Cô tống chúng vào trong một cái túi kéo khổng lồ. Giá cả của những thứ vật dụng tốt và đẹp ấy rẻ đến độ làm cho tôi, một người luôn nhạt nhẽo với chuyện mua sắm cũng phải phát thèm và rối rít hỏi cô cửa hàng nằm ở đâu.

Nhưng phải may mắn mới gặp được đợt hàng giảm giá đặc biệt của các cửa hàng. Đó thường là vào những dịp lễ như Lễ Lao Động, Halloween, Giáng sinh... hay sắp tung ra một đợt mốt mới. Thời kỳ này, thời trang của các cô gái Mỹ vẫn là kiểu áo tay lỡ và đầm xẻ hai tà Hàn Quốc, màu tro, ruốc hoặc đen trắng. Ngay cả những cô nàng to béo cũng diện những chiếc áo Hàn Quốc ôm sát người, tự tin đi lại trên đường phố, mặc dù trông các cô giống một khúc giò thơm phức mùi nước hoa đang chuyển động. Trong tiệm Gab, một cái thắt lưng Ý giá hai mươi mốt đô có hôm hạ xuống giá bốn đô rưỡi, một cái mũ lưỡi trai mười lăm đô còn hai đô bảy mươi lăm...Hàng vẫn còn mới và thơm mùi hồ. Ngày nào trong siêu thị cũng có khách, nhưng vắng. Họ chỉ đi dạo theo kiểu "Window shopping" ( mua sắm qua cửa kính) như một cách để giải trí. Người Mỹ cũng như người Việt, không phải lúc nào cũng sẵn tiền để vung tay. Đợi đến đợt giảm giá họ mới mua hàng. Và mua nhiều.

Chị họ tôi hồi mới sang, thời gian đi shopping còn nhiều hơn thời gian ở nhà và làm việc cho tiệm Mac Donald's. Vui cũng đi. Buồn cũng đi. Rảnh rỗi cũng đi. Mà bận rộn lắm cũng phải nhín chút thời gian để đi. Không đi thì nhớ. Giống như lên cơn ghiền. Nó nhiều thứ đẹp quá mà, chị ngượng ngùng phân bua, lại to rộng đi cả ngày không hết, không chán. Mình không có được cái đẹp đẽ sung sướng thực chất của nó thì hưởng nó trên bề mặt cũng được. Tôi nghe chị nói, thấy thật thương, thật xót. Cái câu của chị hiểu rộng ra có nhiều ý. Ngẫm lại mình, trong vạn sự, trong đời sống, trong tình yêu, trong sự cô đơn, trong thời gian... đều không thể nắm bắt được thực chất của nó.

Tôi ngồi trên một ghế băng nhỏ bằng đá trong một siêu thị nhỏ của Iowa chờ Sandy mua bánh mì. Giá cả ở Iowa so với Chicago hoặc New York giống như ở Hội An với Sài Gòn. Người dân ở đây cũng hiền lành, dễ thân thiện hơn. Hai tuần ở đó hầu như ngày nào chúng tôi cũng có một bữa tiệc tổ chức tại nhà của các nghệ sỹ hoặc giáo sư trong trường. Tôi không thích đến những buổi tiệc đông người. Nhưng chính ở đây, trong những căn nhà thơm mùi vỏ cây sấy khô này, trong những bữa tiệc của bia vàng óng và rượu vang thơm phức tôi tìm được những tình cảm vô cùng đáng quí.

Một bà già bé nhỏ mặc một chiếc áo dài trắng bằng vải thô, trên vai khoác chiếc khăn lụa màu vàng, không hiểu sao chúng cứ sáng lên lấp lóa, hai mút khăn như hai bàn tay vẫy, đứng đón chúng tôi dưới chân cầu thang gỗ ẩm và tối. Bàn tay bà nhỏ nhắn, ấm nóng và thơm mùi dầu. Bà tên là Hualing Nieh Engle, người Mỹ gốc Hoa, sáng lập viên của chương trình viết văn quốc tế trường Đại học Iowa.

Chúng tôi theo bà lên lầu. Trong bóng tối những nếp váy chạm vào nhau loạt soạt. Mùi dầu nóng làm tôi thấy dễ chịu, như đang được về nhà mình.

Người đã đến rất đông, ngồi trên những ghế nệm bọc nhung đỏ trong phòng khách hoặc đứng ngoài ban công đầy gió. Họ lịch lãm và duyên dáng trong những bộ lễ phục trong khi chúng tôi áo quần xộc xệch, thậm chí Gleb còn đánh một chiếc quần cộc ngang đầu gối màu xanh lá mạ. Bà Hualing nhỏ bé, gần như là lướt đi trên sàn với tiếng loạt soạt của áo lụa mới, mời mọi người dùng bữa bằng một giọng nhẹ và trong vắt.

Cho đến lúc này tôi đã quen với kiểu ăn của Mỹ. Thức ăn thường béo ngậy vì pho mát, vì hương vị được tổng hợp từ đủ loại thịt trộn rau quả ướp lạnh, vì màu sắc lờ nhờ không gây được cảm tình và nó nhiều bằng gấp ba lần suất ăn của một người bình thường. Có lẽ vì thế người ta bảo dân Mỹ phàm ăn và số lượng người béo phì ngày càng tăng lên đáng kể.

Nhưng thật sự là chúng tôi đã có một bữa ăn ngon tuyệt vời ở nhà của Sandy. Đó là đêm cuối cùng ở Iowa, sau hai tuần thân thiện và gần gũi, nên ai cũng có vẻ buồn buồn. Trời bắt đầu vào thu. Những rừng sồi bao quanh khu nhà của Sandy lá vẫn xanh biếc nhưng trên các bờ dậu, những chiếc lá thon nhỏ đã bắt đầu chớm đỏ như những cặp môi son thiếu nữ. Gió thổi hơi ẩm vào nhà đánh thức những bông cúc kim vàng nhạt đang thiếp ngủ trên bệ cửa. Ánh sáng dịu dàng từ chùm đèn pha lê tỏa xuống làm bữa ăn thêm trang trọng và cảm động.

Mọi thứ đều giản dị nhưng tao nhã như chủ nhân của nó. Trên bàn người ta bày khoai tây hấp ăn với kem pho mát trắng tươi. Sườn heo rô ti màu huyết dụ theo kiểu Ấn đặt trên một chiếc đĩa sứ có viền vàng và chân bằng bạc. Một ít xà lách trộn với những quả ô liu tím thẫm đựng trong thố thủy tinh dùng với trứng luộc. Bơ chảy vàng óng trên những khoanh bánh mì nóng hổi. Có tới hai ba loại rượu trên bàn, như trong các bữa ăn Pháp. Sandy nói tiếng Pháp rất giỏi và yêu nước Pháp. Bà thường hay mơ màng về dòng nước xanh biếc trong lòng sông Seine, về ánh mặt trời màu hoàng yến khô ráo trên nóc nhà thờ Đức Bà Paris và mưa phùn ướt đẫm khu đồi Mongmac của các nghệ sỹ. Tôi không biết Paris đẹp và thơ mộng ngần nào, nhưng nhìn vào mắt bà tôi dám chắc chắn rằng trời Paris phải có màu xanh sâu thẳm như thế.

Bữa ăn chỉ có tôi, Sandy, Gleb và Kote. Chồng của Sandy đi công tác đã hơn một tuần. Hai đứa con trai đều đang làm việc ở Boston. Lâu lắm rồi bà không gặp chúng . Cái cảnh sống một mình, ăn một mình, ngủ cũng một mình thế này quen rồi. Đến khi ở với chồng, với con lại thấy lạ lẫm. Lại thấy gò bó. Ở đây, con cái lớn lên là đi chỗ khác. Sandy nói bằng một giọng nhẹ nhàng. Coi như nghĩa vụ của cha mẹ con cái đối với nhau chấm dứt.

Trong lúc dùng trà, một người Nga xa xứ đến đón Kote về nhà ông. Chúng tôi cũng dọn dẹp bàn ăn. Tối nay ở Hancher có biểu diễn ba lê. Nhưng khi chúng tôi đến nơi, màn cuối đã hạ. Gleb biến đi đâu mất hút. Sandy cười ý nhị, các cậu thanh niên bao giờ cũng thế. Có khi trong buổi tối này, cậu bé ấy sẽ gặp được một người trong mộng. Thấy tôi tỏ vẻ không tin, bà cười lớn, hãy đợi mà xem. Tình yêu đến với các nhà thơ rất nhanh và ra đi cũng rất nhanh. Cậu bé ấy lại là một người tình cảm...Mắt Sandy mơ màng. Điếu thuốc trên môi bà tỏa ra những vòng khói nhỏ xíu, cay cay ở mắt.

Mười hai giờ khuya tôi đang ngồi gà gật dưới phòng khách đợi bạn thì cánh cửa khách sạn bật mở. Gleb mặt đỏ bừng, đầu hơi chúi về trước làm đôi vai gồ lên như bị gù ( cái dáng đi này làm anh có vẻ buồn rầu và khổ sở), bước xăm xăm tới cầu thang máy. Theo sau anh là một cô gái cao ốm, tóc vàng, trang điểm nhợt nhạt, mặc bộ áo quần bằng lụa đen, trông ra còn cao hơn Gleb cả một cái đầu. Gleb không thấy tôi. Chẳng mấy chốc thì họ đã biến mất.

Sáng hôm sau, Gleb ngồi ở một góc xe, buồn thiu. Tôi quay xuống, nửa đùa nửa thật, đêm qua anh ngủ ngon chứ ? Gleb chớp chớp hàng lông mi dài sau cặp kiếng cận, mặt đỏ bừng lên, lúng túng, ôi Khê- đek, Khê- đek. Miệng cười một nụ cười như mếu.

Khê- đek là tên Gleb đặt cho tôi. Không hiểu sao Gleb không bao giờ nhớ và gọi được tên tôi. Chúng tôi vốn ít chuyện trò với nhau. Nhưng dường như có một lúc nào đó chúng tôi đã phải lòng nhau.

Bởi vì Gleb là một anh chàng rất đẹp trai, tóc hung, da trắng, môi nhỏ và đỏ như con gái, ngoại trừ chiếc mũi hỉnh rất Nga xô viết và toàn thân ướp nồng mùi thuốc lá. Gleb giống như một sợi dây tình cảm gắn liền vào quá khứ, vào cái thời chúng ta say mê hát những bài hát Nga, đọc những tiểu thuyết Nga bằng một tình yêu đắm đuối và mạnh mẽ. Mỗi lần nhìn Gleb, lại thức dậy trong lòng tôi hình ảnh của những hàng thùy dương hát, của những đàn sếu bay và những đêm trắng tươi đẹp ngự trị dài lâu trên thành Leningrad.

Bởi vì ngay buổi đầu gặp mặt, anh chàng mặt lạnh như tiền, đưa tay cho tôi bắt mà không nói tiếng nào, không cười với tôi một lần nào. Đã thế tôi cũng làm lơ, không cần bắt chuyện nữa. Cho đến buổi tối trong sân nhà Slam ở Chicago, tôi phát hiện ra một anh chàng Gleb khác: hóm hỉnh, tinh tế và hồn hậu hơn nhiều vạn lần ấn tượng ban đầu của tôi.

Năm ngày liền ở Chicago tôi không gặp được một người Việt nào, đi đâu cũng thui thủi môt mình. Giờ ngồi giữa khu vườn nhỏ có chiếc cổng gỗ bám đầy dây trường sinh xanh biếc, trông những ngọn đuốc nhỏ cháy sáng trong các góc tối, nghe tiếng đọc thơ trong phòng vẳng ra, tôi thấy nhớ nhà không sao chịu nổi. Có một bàn tay đặt lên vai tôi nặng trĩu và một giọng nói ấm áp vang lên " Cô thấy cô đơn à?" . Tôi ngẩng lên. Trước mặt tôi là anh chàng Gleb với nét mặt vẫn khó đăm đăm. Tôi bảo, phải, tôi thấy cô đơn. Tôi nhớ nhà. Gleb choàng vai tôi, cười dịu dàng " Vậy thì đi vào uống bia đi. Bạn sẽ thấy dễ chịu hơn". " Nhưng tôi sẽ nhức đầu". Gleb bảo, à bạn sẽ bị Khê-đek và khăng khăng bắt tôi phải phát âm cho kì được chữ này trong khi tôi chẳng hiểu nghĩa của nó là gì. Về dò từ điển không có, tôi đành cho rằng đó là một từ tiếng Nga đã được bỏ quên lâu lắm từ ngày tốt nghiệp Phổ thông Trung học. Buổi sáng gặp lại, Gleb hỏi tôi vồn vã " Khow-are you?" . Thế là tôi đã hiểu. Khê- đek là headache. Ở tiếng Nga không có chữ H mà chỉ có chữ X (khờ), nên bất kì chữ nào có mẫu tự H đều được Gleb đọc trại ra thành Khờ hết. Từ đó trở đi, gặp Gleb ở đâu, Lola cũng kêu ầm lên " Khow are you, Gleb?" làm anh chàng đỏ mặt tía tai.

Từ đó chết tên tôi là Khê-đek. Còn tôi gọi anh là Xlep ( khờ lép)- Bánh mì.

Sự tinh tế và ân cần của anh lúc đó đã làm tôi sửng sốt và ấn tượng. Giống khi anh nói cộc lốc " Đây là mùi vị Nga" khi hai chúng tôi dùng món salad gà với vốt ca trong quán ăn nhanh ở Maryland để lấy sức tìm đường về nhà. Anh cúi mặt xuống đĩa thức ăn. Tôi để ý thấy tay anh run lên nhè nhẹ. Anh nhìn chằm chằm vào mắt tôi, nài nỉ, đây là tối cuối cùng. Hãy uống một ly với tôi. Vì ly rượu này mà cả đoàn phát hoảng tưởng tôi đã mắc phải một căn bệnh nóng sốt trầm trọng. Sau đó suốt buổi tối là sự im lặng đến khó hiểu. Thậm chí chúng tôi cũng không nhìn nhau một lần nào. Cho đến khi chúng tôi ôm h194