This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2006

Án Mạng Ðêm Cuối Năm



Luật sư Mayher chăm chú quan sát chàng trai ngồi trước mặt ông, con người bị buộc tội giết người có dự mưu.

- Voler, tôi thiết nghĩ, anh nên thành thật khai báo, tôi mới có thể bào chữa cho anh được.

- Biết nói thế nào nhỉ. Tôi không thể bị buộc một tội mà tôi không hề làm. Tôi vô tội, tôi vô tội. Ông phải hiểu điều đó.

- Vâng. Tôi đang cố gắng lo cho anh được tự dọ Nhưng mọi bằng cớ đều chống lại anh. Không phải cứ la lên là mình sẽ vô tội.

- Tôi xin thề trước Thượng đế là tôi bị nghi oan. Tôi đã rơi vào một cái lưới không thể thoát ra được.

- Anh đừng thề mà hãy nói rõ cho tôi nghe, anh quen bà Fren trong trường hợp nào?

- Hôm đó, bà Fren suýt bị xe buýt tông, nên hoảng hồn đánh rơi đồ đạc tung toé ra đường. Tôi có mặt ở đó nên đã nhặt giùm cho bà ấy. Sau đó, tôi gặp lại bà trong một bữa tiệc tại nhà người bạn. Bà nhận ra tôi, nói chuyện với tôi rất thân mật, và khi ra về, bà yêu cầu tôi ghé thăm bà. Bạn tôi nói bà là một cô gái già rất giàu có, sống một mình với chị người làm và tám con mèo.

- Anh đang túng thiếu, lại làm quen với một bà già giàu sụ và cố tình kéo dài sự liên hệ thân mật. Nếu chúng ta chứng tỏ rằng anh không hề biết bà Fren giàu và anh chỉ đến thăm vì xã giao...

Mặt Voler tái đi:

- Havey, bạn tôi đã nói vụ bà Fren giàu trước mặt tôi và rất nhiều người, một vài người còn chế giễu tôi là chuột sa hũ nếp nữa chứ.

- Như vậy thì tôi phải giải thích sao khi một người trẻ tuổi đẹp trai như anh lại mất thì giờ cho một bà đã luống tuổi có tính khí khác thường.

- Thú thật với ông, sau lần viếng thăm đầu tiên, bà đã khẩn khoản mời tôi đến nữa. Bà than rằng bà cô đơn quá, nên xem tôi như con. Bà tử tế, nuông chiều tôi, do đó, tôi thực sự cảm mến bà như một người mẹ.

- Đến lúc nào thì bà ấy yêu cầu anh trông nom sổ sách cho bà?

- Sau bốn, năm lần viếng thăm. Bà ấy tính toán kém trong việc hùn hạp làm ăn.

- Vậy mà chị hầu phòng Jannette quả quyết rằng bà chủ của chị rất thạo việc. Đấy cũng là ý kiến của các ngân hàng có tài khoản của bà ấy.

- Họ nói sao ấy chứ trước mặt tôi, bà ấy tỏ ra rất vụng về.

Luật sư Mayher nhìn Voler. Ông tin vào sự vô tội của chàng thanh niên. Voler đã nói thật. Tâm lý các cô gái già là thường giả bộ ngây thơ để nhận ở những người đàn ông sự giúp đỡ. Và Voler đã đáp ứng được điều đó. Tằng hắng, ông hỏi:

- Có bao giờ anh lợi dụng lòng tin của Fren để kiếm lợi riêng cho anh không? Tôi sẽ có hai cách để bào chữa. Nếu trung thực, anh sẽ không cần nhúng tay vào máu để kiếm được món tiền mà anh có thể kiếm được một cách lương thiện. Bằng ngược lại, anh có những thủ đoạn mà bên công tố biết và sẽ đưa ra. Khi đó, tôi sẽ bảo rằng anh chẳng dài gì mà giết con gà đẻ trứng vàng ấy cả.

- Cảm ơn lòng tốt của ông. Tôi lúc nào cũng ngay thẳng khi làm việc với bà ấy. Nếu người ta cho rằng, tôi lợi dụng vật chất nơi bà ấy, thì cái chết của bà chỉ thiệt hại cho tôi thôi.

Luật sư Mayher nhìn thẳng vào mắt Voler:

- Anh có biết là bà Fren đã lập di chúc để một phần lớn tài sản cho anh không?

Voler nhỏm dậy như bị điện giật"

- Ông nói sao? Bà ấy để của cho tôi à? Vô lý.

Giọng luật sư vẫn điềm tĩnh:

- Anh không biết việc này thật à?

- Ồ, tôi hoàn toàn không biết gì cả.

- Vậy mà cô Jannette lại quả quyết là anh biết cơ đấy. Chính bà Fren đã tiết lộ với cô ta về chuyện này.

- Jannette ghét tôi nên bịa đặt đấy. Ông phải tin lời tôi.

- Anh đã đến nhà bà Fren vài buổi tối, chỉ có mình bà, và sáng hôm sau bà bị giết ở phòng khách. Quả thật tối hôm đó, lúc 9 giờ rưỡi, Jannette có ghé nhà bằng cửa sau để lấy một vài món lặt vặt ở phòng riêng rồi đi ngaỵ Cô ấy khai là có nghe thấy tiếng nói chuyện giữa bà chủ và một người đàn ông từ phòng khách.

Voler đứng phắt dậy:

- Vậy là tôi thoát nạn rồi. Vào lúc chín rưỡi, tôi đã về tới nhà. Vợ tôi có thể chứng minh cho tôi. Cảm ơn Thượng đế xui khiến Jannette ghé về đúng lúc.

Nét mặt luật sư vẫn không bớt đăm chiêu:

- Vậy theo ý anh, ai đã giết bà Fren?

- Một tên cướp. Y đã dùng thanh sắt đập vào đầu bà Fren. Một cánh cửa sổ bị phá vỡ, một số đồ vật bị lấy đi. Nếu không có sự nghi ngờ vô lý của Jannette và ác cảm của cô ta đối với tôi...

- Sự việc không đơn giản như vậy đâu. Anh nói anh về nhà lúc chín rưỡi, vậy mà Jannette lại nghe tiếng đàn ông nói chuyện với bà chủ trong phòng khách. Không lý bà ấy đi nói chuyện bình thường với một tên cướp?

- Dù sao đi nữa, người đó cũng không phải là tôi. Tôi đã có mặt tại nhà lúc chín rưỡi. Xin ông hãy đến gặp Romen, vợ tôi sẽ xác nhận lời khai của tôi.

- Bà Fren biết anh có vợ không?

- Dĩ nhiên là có.

- Jannette đã khai là chưa bao giờ anh đem vợ đến thăm bà Fren, cho nên bà ấy tưởng anh độc thân và có ý định sẽ lập gia đình với anh.

- Vô lý, bà ta quá già.

- Chuyện đó không thành vấn đề.

Voler đỏ mặt:

- Đó chỉ là sự tưởng tượng của Jannettẹ Tôi van ông, hãy đến gặp vợ tôi.

Romen, vợ Voler là một phụ nữ cao lớn, tiều tụy. Bà tiếp luật sư Mayher với vẻ hững hờ. Trông bà bình tĩnh đến lạnh lùng, điều này đã làm cho luật sư e ngại. Dù muốn dù không, ông cũng phải trình bày mọi việc cho người đàn bà ấy nghe. Im lặng một lát, Romen cất giọng đanh thép:

- Voler muốn tôi xác nhận là tối hôm đó, hắn trở về nhà lúc 9 giờ 20 phút chứ gì. Đừng hòng. Tôi không bao giờ đồng lõa với kẻ sát nhân đâu. Ông hãy nghe cho rõ đây, tôi xác nhận là Voler đã biết Fren có để lại gia tài cho hắn nên hắn đã giết mụ già để sớm được vinh thân. Tối hôm đó hắn trở về lúc 10 giờ hai mươi, trên áo đầy máu. Hắn thú nhận tất cả với tôi. Tôi sẽ là nhân chứng buộc tội hắn.

- Chị không thể làm chứng chống lại chồng.

- Hắn không phải là chồng tôi mà là một người đàn ông tồi tệ. Tôi căm thù hắn. Tôi muốn trông thấy hắn bị treo cổ.

- Tôi sẽ đến gặp chị sau khi liên hệ với Voler.

Romen bĩu môi:

- Ông tin là hắn vô tội ư? Thật đáng thương!

Trước ngày tòa xử, luật sư Mayher nhận được một lá thư, nét chữ nguệch ngoạc: "Nếu ông muốn vạch mặt mụ đàn bà đã hại chồng mình như thế nào, mời ông mang theo 2.000 đô la, đến địa chỉ X... vào lúc 19 giờ, hỏi bà Motion".

Khó khăn lắm, luật sư Mayher mới tìm thấy địa chỉ căn nhà. Đó là một túp lều ổ chuột nằm trong một con hẻm lầy lội, dơ dáy. Một mụ già lưng còng đợi ông sau cánh cửa:

- Chào anh chàng luật sự Vào đây, vào đây.

Ngọn đèn trên trần tỏa ánh sáng lờ mờ. Luật sư Mayher giật mình khi thấy gương mặt mụ già đầy những vết sần sùi đỏ hỏn. Mụ cất tiếng the thé:

- Axit đấy, anh bạn trẻ ạ. Tôi sẽ trả thù, trả thù.

- Thôi đi, bà hãy vào vấn đề nhanh lên.

Bàn tay gầy đét với những ngón cáu bẩn đưa ra:

- Thế tiền đâu? Phải đủ hai ngàn đấy nhé.

- Nếu bà biết điều gì đó, bà có bổn phận ra tòa làm chứng.

- Không. Tôi chả biết quái gì cả, nhưng tôi có thể cho anh một vài thứ rất haỵ Anh có thích đọc một lá thư của mụ Romen không? Rất cần thiết cho anh đấy. Đưa tiền đây.

- Tôi chỉ có một ngàn thôi. Nếu bà không chịu tôi xin kiếu.

- Quỷ tha ma bắt anh đi. Nào, bốc xỉa ngay.

Mụ già rút dưới tấm nệm rách ra một xấp bì thư, ném trước mặt Mayher:

- Chắc chắn anh sẽ khoái lá thư trên cùng.

Tất cả đều là những bức thư tình, do Romen viết gửi cho một người tên Mac. Lá thư cuối cùng viết đúng ngày Voler bị bắt: "Mac yêu quý, Voler vừa bị bắt vì tình nghi giết người. Em biết, Voler là một tên hiền như bụt, không hại đến một con ruồi. Nhưng em sẽ khai trước tòa là hắn trở về nhà với máu me đầy mình và đã thú nhận tội lỗi với em. Hắn sẽ bị treo cổ và chúng ta sẽ có nhau... ".

Mụ già nói thêm:

- Mac là chồng tôi. Ngày xưa, vì con bé Romen mà anh ta đã tạt axit vào mặt tôi. Tôi thù nó và đã theo dõi, rình rập nó trong bao nhiêu năm trời. Bây giờ nó sẽ bị trừng phạt vì tội khai man để đẩy chồng vào tù. Anh cứ tin đi. Hãy đến rạp chiếu bóng Eden đưa tấm hình Romen ra, người ta sẽ cho anh biết sự thật.

Không bỏ phí thời gian, luật sư Mayher đến ngay rạp chiếu bóng và ông đã đạt được ý muốn. Chẳng qua, trước khi lấy Voler, Romen từng là diễn viên kịch, nên nhiều người biết mặt. Họ xác nhận, đêm hôm xảy ra án mạng, Romen vào rạp coi xuất chót, vào lúc 10 giờ 20.

Ngày họp tòa. Romen khai rằng buổi tối hôm xảy ra án mạng, Voler ra khỏi nhà mang theo một thanh sắt. Hắn trở về lúc 10 giờ 20 và thú nhận với chị là đã giết bà Fren, hắn còn dọa sẽ giết chị nếu chị nói sự thật.

Lập tức, lá thư tội lỗi được đưa ra. Các chuyên viên về chữ viết đã xác nhận chữ trong thư đúng là của Romen. Người đàn bà điêu ngoa đã phải gục đầu thú nhận. Quả thật, Voler đã trở về nhà lúc 9 giờ 20 như lời anh đã khai.

Voler được trắng án.

Nhưng sự việc không ngừng ở đây, bởi lương tâm luật sư Mayher cảm thấy không yên. Lòng dạ Ông bồn chồn khi nhớ lại những cử chỉ của Romen trước vành móng ngựa. Lưng chị hơi còng, bàn tay phải luôn xòe ra, một thói quen kỳ la... hình như ông đã thấy một người cũng có cái tật như thế. Ai? Luật sư giật nẩy mình. Đúng rồi, Romen đã từng là kịch sĩ... mụ già mặt thẹo!

Ông tìm đến nơi Romen đang trả giá ba tháng tù vì tội khai man. Đầu óc ông quay cuồng với bao câu hỏi. Tại sao? Tại sao?

Người đàn bà trở lại vẻ lạnh lùng cố hữu:

- Tại sao tôi lại chơi cái trò ấy à? Tôi phải cứu chồng tôi chứ. Một lời khai của người vợ thương chồng đâu có thuyết phục được ai. Nếu những lời nói của tôi không tự ý mình, mà do những tác động bên ngoài bắt buộc thì ai cũng phải tin. Tôi bị phạt tù vì khai man hại chồng, nhưng chồng tôi sẽ được cảm tình của tòa và mọi việc sẽ thuận theo chiều hướng tốt đẹp.

- Còn tập thử Còn anh chàng Mac?

- Nếu chỉ viết một lá thư thì có vẻ giả tạo quá. Còn anh chàng Mac ư? Làm gì có, đó chỉ là một cái tên ma.

Luật sư Mayher hậm hực:

- Lẽ ra chị không nên làm thế. Chúng ta có thể chứng minh sự vô tội của Voler bằng một cách hợp pháp hơn.

Romen nhếch mép:

- Thế ông vẫn tin Voler vô tội ư?

- Dĩ nhiên. Chị đã rõ là tôi tin như vậy.

- Tôi thì chả rõ gì cả. Tôi biết chắc là chồng tôi đã giết bà Fren. Để làm gì ư? Vì chúng tôi quá nghèo, ngài luật sư ạ.
129

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2006

Bà Chủ Hờ



Cuối cùng, tôi 'chịu' gã và nhận chức bà chủ của một khu nhà vườn khá thơ mộng. Một bà chủ chẳng phải vợ ông chủ vì không có cưới xin, không công khai, mặc ai muốn hiểu sao thì hiểu. Gã có vợ, mấy đứa con đã lớn cả. Chúng vào hùa với mẹ gầm ghè tôi nhưng không làm gì được vì cái 'uy' của gã. Từ đó, cứ lãnh thổ của ai người đó quản. Vợ con gã làm chủ một dinh thự lớn ở phố cùng một số cửa hàng kinh doanh đồ điện. Còn tôi chịu trách nhiệm cai quản khu nhà vườn với hơn chục phòng trọ. Gã thích đi đâu thì đi, đến đâu thì đến. Với tôi, điều đó chẳng mấy quan trọng. Tôi theo gã chẳng qua để đánh đổi một cuộc sống vật chất. Cái giá rất sòng phẳng. Trong hợp đồng này không có tình yêu, nhớ nhung và những gì đại loại như thế.

Phòng ngủ của tôi quét vôi màu nắng. Đó là tôi bảo gã sửa sang lại trước khi tôi đến. Những căn phòng còn lại vẫn được giữ nguyên một màu xám nhờ khó gọi tên, khiến căn phòng quét vôi mới trở nên lạc lõng, trơ trọi và có vẻ hơm hĩnh. Ngày trước, cạnh nhà tôi là một ngôi nhà nhỏ màu nắng. Chủ nhân là hai người chẳng giàu có gì nhưng rất yêu nhau. Với tôi, màu của căn nhà người láng giềng kia lại rạng rỡ hơn bất cứ sắc nắng nào trên trần thế, để từ đó ngấm ngầm mơ ước. Nhưng té ra, tôi có thể gọi thợ quét bao nhiêu lớp vôi mầu vàng tùy thích mà không thể khiến nó trở thành căn nhà rạng rỡ trong ký ức.

Cửa sổ phòng ngủ mở ra một khoảng vườn rộng. Một nhánh bàng như thể chia tay tự giới thiệu mình. Cây bàng vươn lên từ đất, vững chãi và trầm tư, làm điểm tựa cho cành lá lòa xòa trong mưa, trong nắng, trong ngày và đêm. Có cảm giác chỉ cần làn gió nhẹ thoảng tới, chiếc lá đỏ rực kia sẽ sà xuống cửa sổ để nói với tôi bằng ngôn ngữ riêng của nó. Điều đó khiến lòng tôi dịu xuống. Chỉ có một điều khó chịu, mỗi khi cánh cửa sổ mở ra, dù muốn hay không tôi cũng phải nhìn thấy dãy phòng cho khách trọ, như một cái gai mà người ta cố quên đi càng không thể quên được. Với tôi, sự hiện diện của những phòng trọ kia không những làm lợn cợn vẻ nên thơ của khu vườn mà còn gợi lên cảm giác lờm lợm chẹn ngang cổ khi tôi quyết định 'lên ngôi' bà chủ như thế này. Mỗi ngày mở cửa là mỗi ngày bắt buộc tôi tự nhìn vào tâm can của mình để đối diện với một sự khuất phục.

Những căn phòng trọ được xây dựng kiên cố nhưng vẫn không thể nào che dấu nét tạm bợ. Bởi nó chẳng thuộc về ai. Ai yêu mến chúng? Những người ở trọ rồi sẽ ra đi, còn với kẻ kia chúng chỉ là một phương tiện kiếm tiền.

Khách trọ của tôi phần lớn là sinh viên. Có vài người công nhân và duy nhất một cô gái làm nghề bán bia... ôm. Những người đến trọ thường ghép hai hoặc ba người để ở một phòng cho đỡ tiền. Riêng cô gái bán bia ôm ở một mình. Cô ta không có bạn cùng ở hay không muốn cùng ở với ai tôi không được rõ. Chỉ thấy cô chọn căn phòng cuối lối đi, cũ kỹ và tồi tàn. Tôi biết chắc là cô chọn nó, bởi vì còn mấy phòng tốt hơn vẫn để trống.

Xem trong sơ đồ và danh sách người thuê nhà, tôi biết cô gái bia ôm tên Vân. Thường mỗi buổi sáng, cô ở nhà. Nếu không giặt giũ gì cô đóng tịt cửa lại, chẳng giao tiếp với ai. Khoảng ba giờ chiều cô 'đi làm' và đến tận khuya mới trở về. Tôi để ý đến Vân không vì cô là gái bia ôm mà bởi vì cô là một gái bia ôm lạ lùng. Hôm đến thu tiền nhà, tôi ngạc nhiên bởi cách bài trí căn phòng của cô. Tuy đơn sơ nhưng trang nhã, tự tin. Những bông cẩm chướng xòa xuống gợi một cảm giác cô đơn đau nhói. Không dưng tôi cảm thấy bối rối. Cảm giác không còn tin vào bản thân trở lại khứa vào da thịt khiến tôi bải hoải, rã rời. Chắc là Vân hiểu nhưng không nói gì. Cô nhìn tôi bằng một cái nhìn cảm thông. Thoạt tiên, tôi phản ứng bằng một cơn giận dữ nhưng rồi tôi nhớ lại cái hợp đồng bất thành văn quỷ quái của cuộc đời mình, đôi tay xuôi xuống.

Sao thế nhỉ? Một người dưới đáy xã hội như cô ta mà vẫn còn tin vào bản thân ư? Vậy sao Vân không tự mình thay đổi số phận? Tôi không biết Vân đã học đến lớp mấy, gia cảnh thế nào và vì sao lại làm cái nghề hèn kém, khiến người ta không thể đối xử với cô bình đẳng như với những người khác ngay từ trong ý nghĩ. Coi thường, đó là sự đồng hành với những người đối diện với cô, kể cả những kẻ tiền chùa rửng mỡ đến quán bia của các cô, chịu cái giá cắt cổ để được những cô gái như cô ngồi cạnh, mơn trớn. Những gã đàn ông vỗ ngực tự xưng 'thượng đế' đôi lúc cũng làm ra vẻ tìm hiểu thân phận của các cô gái nhưng chẳng cần câu trả lời. Hỏi chỉ để mà hỏi.

Thực ra, các gã kia chẳng có tư cách và lý do gì để có thể hỏi. Những gã đàn ông ấy, mỗi khi đã dùng thân xác phụ nữ làm trò mua vui giải trí bất cứ dưới hình thức nào chăng nữa, cũng là đồi bại lắm.

Những gã khốn nạn! Tôi rùng mình nhớ lại bộ mặt nung núc những thịt và mỡ của sếp, đến cuộc giằng co trong phòng lạnh đóng kín và hậu quả là một chiếc cúc áo của tôi văng ra. Chuyện sẽ chẳng ai hay, sếp có thể được bảo toàn danh dự nếu chị tạp vụ không tình cờ vào phòng sếp quét dọn, bắt gặp tôi đâm bổ ra với gương mặt hoảng hốt. Và trong khi quét dọn chị nhặt được chiếc cúc áo. Thế là tôi bị sa thải vì 'không đáp ứng được yêu cầu của công việc'. Tiếp sau đó là những ngày thất nghiệp, lê chân khắp cái thành phố nhỏ bé kiếm việc làm. Việc gì cũng được, miễn lương thiện. ở đâu người ta cũng bảo chờ. ủy là một cách tế nhị của câu trả lời 'không'.

Hy vọng kiếm được việc làm càng mong manh hơn khi người ta không tiền bạc, không cả một 'chỗ dựa'. Tôi quyết tâm sống tự lập mỗi khi nghĩ đến mẹ vò võ như một chiếc bóng ngay chính trong ngôi nhà mình. Cái hôm ba quát vào mặt mẹ rằng' tao làm ra tiền, tao có quyền đưa gái về nhà... đừng lộn xộn...' Hôm đó mẹ tự tử.

Thế mà nhiều lần mẹ nói với tôi sẽ tự tử, tôi chỉ cười nhạt. Cái kiểu cười có vẻ như ngạo đời nhưng thực ra cũng mang lại cho người ta chút ít niềm an ủi. Và tưởng rằng có thể an ủi được mẹ. Nhưng chẳng hiểu vì sao, cứ mỗi lần mẹ rên rỉ về điều đó, tôi lại liên tưởng đến xác cô gái trong một vụ tự tử mà tôi chứng kiến. Cô gái chấm dứt cuộc sống của mình bằng cách nhảy xuống sông. Người ta bảo, vì uất ức quá mà trầm mình. Xác chết được vớt lên đặt trên bãi cỏ trong cơn nắng gay gắt của một ngày cuối hè. Cô ta nằm đó, thân phận bọt bèo câm lặng một cách thiêng liêng cách biệt với những người tò mò xúm quanh...

May mà mẹ không biết. Người
ta kịp đưa mẹ đến bệnh viện 'súc' sạch đống thuốc mẹ nuốt vào dạ dày. Nếu không, với cả tôi, mẹ cũng sẽ trở nên bí mật trong cái thể xác câm lặng vĩnh viễn. Mặc kệ tất cả, mặc kệ...

Phải tự lập. Tôi đành xin tiếp thị bia. Cũng may người ta chấp nhận ngay vì tôi có một ngoại hình khá. Thực ra công việc tiếp thị bia bọt trong nhà hàng của các cô gái gặp không ít khó khăn. Họ phải làm sao luôn luôn tươi cười mà không lơi lả, đứng đắn nhưng không nghiêm nghị quá... Nói chung, phải thiết lập một khoảng cách cần thiết để tránh sự sàm sỡ của một số thượng đế... mà vẫn mời được khách mua hàng.

Một hôm, tôi bị thằng choai choai ngật ngưỡng bất ngờ thọc tay bẹo đùi. Tôi giáng cho hắn một cái tát rồi bỏ việc. Sau cú đó, tôi 'gật' gã.

Tôi quen gã cũng chính trong nhà hàng. Gã đợi ai đó. Tôi đến mời gã dùng loại bia của hãng tôi tiếp thị. Gã chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân như thể người ta đang đánh giá cân nhắc một món đồ nào đó mà người ta có dự định sẽ mua với bộ mặt lộ vẻ ưng ý. Sau vài lần như thế, gã bảo muốn có tôi làm 'vợ lẽ', rằng tôi sẽ là bà chủ một cơ ngơi khá. Gã nói về điều đó một cách chậm rãi chính xác từng chữ, dường như để tôi nhận diện sự việc thật rõ ràng trước khi đồng ý hợp đồng với gã.

Công bằng mà nói, gã chẳng làm gì để tôi phải ghét. Gã chu cấp cho tôi cuộc sống vật chất thừa thãi, giữ lời hứa để tôi làm 'bà chủ' khu nhà vườn, hàng tháng thu tiền khách trọ, muốn làm gì tùy thích gã không động tới. Chỉ có điều, mỗi lần lên giường cùng gã, cảm giác như muốn nôn ọe bởi nhơ nhớp tiết ra từ chính bản thân. Tôi tập cho mình có thể đánh mất cảm giác, có thể trơ lỳ ra, nhưng không kết quả, chỉ có thể mím môi nhắm tịt mắt lại, chờ đợi lúc gã kết thúc, với luận điệu tự an ủi, rằng gã đã thẳng thắn và sòng phẳng. Còn tôi, cũng đã tự nguyện chấp nhận trò đổi chác chẳng do ai ép buộc, cũng như tự nguyện gục mặt xuống để họa cho mình một kiểu đi lầm lũi.

Vân thì khác. Vân có dáng đi rất ấn tượng. Lưng, cổ và đầu đều thẳng khiến những bước đi thanh thoát. Cũng như cách bài trí căn phòng, dáng đi của cô toát lên một sự tự tin và cô đơn quá. Tôi lấy làm lạ lùng. Cốt cách kiêu hãnh kia lại có thể chung chạ với cái mà bản thân mà cô khinh bỉ.

Đêm nọ, Vân trở về khá muộn so với thường lệ. Cô có vẻ say, tra mãi chiếc chìa khóa mà không làm được. Lại một sự lạ nữa. Tuy là gái cùng ngồi với khách nhưng chưa bao giờ cô uống. Cô cười nhạt kể: 'Đổ cha nó hết xuống gầm bàn để rồi cứ đầu chai mà chém. Đó là công việc của tụi em mà'. 'Người ta chịu mất tiền dễ dàng thế sao?'. 'Thì cũng phải hy sinh chút đỉnh, quàng tay qua vai hoặc ôm cổ chẳng hạn, cốt nhất là rót vào tai chúng những lời thật trơn. Còn khoản kia 'em' nào đồng ý với khách thì cuốn nhau đến một xó xỉnh nào đó ai mà biết được'...

Tôi giúp Vân vào phòng. Cô bảo tôi ngồi xuống, cô kể điều này. Cô ngước nhìn tôi, miệng cười mà mắt lại đang khóc. Những giọt nước mắt không chịu lăn ra cứ tràn trề trong mắt lấp lánh. Tôi nhận thấy ngay, đó không phải là nỗi đau, trái lại, nó đồng nghĩa với nụ cười và còn cao hơn cả nụ cười, đó là niềm hạnh phúc. Hạnh phúc khiến người ta khóc phải là một hạnh phúc lớn lao lắm.

'Ông ấy đã tin tôi. Có một người đã thực sự đau lòng trước hoàn cảnh và số phận của tôi' - Lúc này, Vân như đang nói với chính mình chứ không phải là kể cho tôi nghe nữa. Nhưng tôi vẫn ngồi đó, như thể bị dán chặt xuống chiếc ghế.

- Lúc ông ấy bước vào cùng những người khác, thằng đại ca rỉ tai em bảo, phải tiếp đón con người chững chạc kia cho chu đáo. Ông ta là nhà văn đấy. Nhà văn đây cũng cóc cần. Đã bước chân vào chốn này thì cùng họ hàng với nhau cả. Ông ta còn là một ông già cơ đấy. Càng già bao nhiêu lại càng đáng khinh bấy nhiêu. Lúc em bắt đầu dùng khăn ướp lạnh lau mặt cho ông ta theo bài bản, ông liền ngăn lại và bảo.

- Con không cần phải làm như thế.

- Thì ông đến đây làm gì?

- Để biết.

Chẳng hiểu sao lúc đó em nổi xung lên, trợn mắt hỏi:

- Vậy ông có biết vì sao tôi lại đi làm cái nghề này không?

- Ta nghe đây - Ông nhìn em như một người cha độ lượng nhìn đứa con.

Và thế là em kể hết, kể cho ông nghe điều kinh khủng mà em đã phải trải qua. Cái điều mà chưa bao giờ em hé răng cho ai biết. Cái nguyên nhân khiến em bán linh hồn cho ma quỷ.

Ông ngồi lặng lẽ. Lúc lâu sau, ông rút trong túi áo ngực đưa cho em một chiếc phong bì bảo đó là tiền nhuận bút của ông vừa nhận sáng nay, thế rồi ông đi. Em chỉ còn biết ngồi trơ ra đó, nhìn theo. Ông cúi đầu đi mải miết. Được một lúc thì rẽ sang phố khác, và em chẳng nhìn thấy ông nữa.

- Thế đám người cùng đến với ông ấy?

- Họ đang say sưa, chỉ bảo kệ ông ấy. Ông ấy hơi bị gàn gàn đấy.

- Thế ông không khuyên dạy một điều gì sao?

- Không. Ông chỉ bảo, về đi con. Vậy thôi. Nhưng mặt ông ấy lạ lắm, như thể là nỗi đau đớn, em cam đoan với chị đấy, một nỗi đau đớn. Thế là em ngồi đó uống và uống. Chẳng ngon lành gì, đắng lắm, nhưng em vẫn uống'.

Một cái gì đó đang vỡ ra. Ngay chính bản thân tôi cũng cảm nhận được. Vân run run mở xách, lấy từ trong đó ra chiếc phong bì, giọng trầm xuống như một lời thì thầm: 'Em đã bán linh hồn cho ma quỷ. Và đây, chính là món tiền chuộc'.

Mấy hôm sau, Vân trả phòng. Và ra đi...

Không ngờ rằng, một người ở trọ ra đi lại có thể tác động mạnh đến cuộc sống của tôi như thế. Như bị cảm, tôi lên cơn sốt, lúc nóng lúc lạnh, tâm tư thảng thốt. Tôi đóng cửa nằm lì trong phòng, đôi lúc lên cơn mê sảng. Trong cơn mê, tôi thấy mình là một vận động viên trong cuộc thi chạy đường dài. Những người tham dự cuộc thi đang cố gắng để về đích, cái đích dường như ở ngay trước mắt nhưng thực ra vẫn còn xa lắm. Người ta chạy, chạy mãi, kẻ trước người sau. Riêng tôi khó nhọc nhấc những bước chân nặng nề và cuối cùng tôi bỏ cuộc. Vài người chạy qua tôi, nhìn tôi bằng những con mắt xa lạ. Nhưng rồi có một đôi mắt với tôi thân thuộc lắm, đôi mắt với những đường hằn mệt mỏi, đau đáu nhìn tôi. Mẹ! Tôi vùng vẫy, cố tỉnh dậy, nhưng dường như ai đó níu lấy tôi. Gương mặt Vân lòa nhòa. Vân hỏi, bao giờ tôi ra khỏi nhà trọ?

Lần này tôi tỉnh được. Đầu nặng trĩu. Cảm thấy ngột ngạt, tôi mở toang cửa sổ. Chiếc lá đỏ rực hôm nào đã không còn. Thay vào đó là chiếc lá xanh non mơn mởn. Có nghĩa, trong lúc tôi trải qua những cơn mê thì chiếc lá đỏ cũng trải qua thời kỳ sống để giã biệt thân cành. Thì ra, những chiếc lá cũng có cuộc sống riêng của chúng. Còn tôi lại không dám sống bằng chính cuộc sống của mình với bao nỗi đau, hạnh phúc và khát vọng...

Cũng giống như chiếc lá đỏ trước kia, chiếc lá xanh non rung rung theo gió, như tự giới thiệu mình. Chiếc lá hình con mắt như thể nhìn tôi hỏi, tôi là ai?
154

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2006

Báo thù



Gió đã lặng. Những áng mây nặng nề giăng mắc bầu trời. Sương mù dày đặc. Có lẽ đang buổi chiều hoặc hoàng hôn, cũng giống như những buổi chiều đông, và lớp tuyết dưới chân anh ta vỡ vụn. Anh đang đi trên con đường mòn dẫn lên núi. Thật khó thấy những gì ở quá tầm mười bước chân.


Những con đường này chẳng có gì nguy hiểm. Tâm hồn anh nặng trĩu, anh đi và thầm nghĩ. Núi non trông rõ hơn, bầu trời xanh xanh như vừa mới được lọc xong. “Thời tiết sao mà tồi tệ thế, còn tâm hồn ta sao quá nặng nề thế!” và anh tiếp tục leo cao hơn. Anh ta 33 tuổi, bàn tay trái thiếu mất hai ngón và tên anh là Karl Klotz.

Qua một khúc ngoặt, anh bỗng nghe thấy một tiếng kêu rên, nghe rờn rợn như tiếng của một con ó hay một con kên kên đang hấp hối ở gần đâu đây. Anh kinh hãi đứng lại và nghe ngóng. Xung quanh im vắng như cõi tha ma, một sự tĩnh mịch nặng nề bao trùm không gian. Đột nhiên, tiếng rên rỉ ma quái ấy lại vang lên, rất gần, hình như trước mặt anh ta vậy.

Anh lao về phía trước chừng vài mét bọc quanh một chỗ ngoặt của con dốc dựng đứng để qua bên trái. Sương mù làm cảnh vật sáng lờ mờ. Anh ta nghe tiếng rên, ngay phía trước mặt. Một người đang ở dưới chân anh hai mét, bị mắc vào lùm cây, hai tay hắn bấu chặt vào nhánh cây cho khỏi bị rớt xuống vực sâu thăm thẳm phía dưới. Khuôn mặt hắn bị khuất, anh chỉ trông thấy cái gáy của hắn mà thôi. Sương mù che kín cái miệng vực đen ngòm và khủng khiếp bên dưới. Hắn lại ngoác miệng rên rỉ, những tiếng rên rợn người.

Klotz cúi mình xuống miệng vực. Một người đang trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm. Phải cứu hắn thôi! Mỗi người phải có bổn phận cứu giúp người khác. Klotz cúi mình xuống miệng vực, bối rối và thất vọng vì không biết phải làm thế nào cứu được người bị ngã ấy khỏi rơi vào cái khoảng không khủng khiếp bên dưới. Anh hét vọng xuống: “Ông ơi, ông! Làm thế nào bây giờ?”.

Hắn im lặng ngước mặt lên nhìn Klotz. Họ nhìn nhau chằm chằm. Một tia chớp dường như lóe lên trong đầu Klotz, anh chợt nhớ đến một kẻ tội lỗi. Anh gào to: “Anh tên gì?”.

Gã bên dưới nghĩ, chắc cái gã ở trên miệng vực điên rồi. Tên mình là gì thì có quan hệ quái gì trong lúc này. Tên hắn là Panter, nhưng biết tên để làm quái gì? Hắn gào to vọng lên trên, giọng nói vang lên như giọng của thần linh đang nổi giận: “Anh ơi! Cứu tôi! Kéo tôi lên bên trên đi! Lấy một cành cây hay cái thắt lưng của anh thòng xuống cho tôi nắm! Cứu tôi với!”.

Klotz gào lên: “Anh tên gì? Trước tiên tôi phải biết tên anh là gì đã”.

Gã bên dưới thầm nghĩ: “Quả là một thằng điên, một con quỷ.” Gã hét lên: “Panter, tên tôi là Theodor Panter! Cứu tôi với! Tôi giàu mà. Tôi có tiền, người ta phải cứu tôi. Tôi là người thượng lưu!”.

Klotz cười phá lên và hét vọng xuống: “Đúng vậy! Mày là kẻ thượng lưu, còn tao là kẻ hạ lưu. Mày không còn nhớ gì sao? Chắc mày không biết tên tao đâu. Nhưng tao biết tên mày. Mày giàu lắm, người ta luôn biết tên những người giàu có. Chắc mày còn nhớ cách đây ba năm, khi chuyến tàu bị đắm ở biển Atlantic, mày đi tàu và ở cabin hạng nhất, còn tao thì cabin hạng ba. Khi con tàu chìm dần, hành khách nhốn nháo gào thét, gió cũng gào thét, biển xanh và trắng trong dông bão. Thuyền trưởng ra lệnh, trước tiên là đàn bà và trẻ con xuống xuồng cấp cứu. Sau đó là hành khách ở cabin hạng nhất, rồi hành khách ở cabin hạng nhì. Thế rồi các xuồng cấp cứu đều chật ních! Còn bọn đi vé hạng ba như chúng tao thì sao? Đành phải mang phao và bơi giữa biển. Tao cũng lãnh một cái phao. Tao nhảy xuống biển và bơi, suýt bị chìm, tao bấu lấy mạn xuồng cấp cứu của chúng mày. Xuồng đã chật ních người, giữa biển cả mênh mông, giữa thần chết của biển. Chính mày hét lên: “Ê, lại một thằng nữa!”. Tao bấu bàn tay trái vào mạn xuồng, mồm nuốt đầy nước biển. Một thủy thủ bảo: “Để cho hắn leo lên đi”. Còn mày thì gào lên: “Xuồng đã đầy rồi”. Đồng thời mày lấy toàn bộ sức lực phang mái chèo vào bàn tay trái của tao. Thế là tao buông tay, đau đớn và tuyệt vọng, coi như đã đi đứt trăm phần trăm. Nhưng một chiếc tàu cứu hộ chạy đến, và tao sống, sống ngoài ý muốn của mày.”

Panter van vỉ: “Ông ơi, cứu tôi! Tôi mất hết sức lực rồi, cứu tôi với!”.

Bấy giờ Klotz thòng hai chân xuống vực, tay bấu víu lấy gốc cây bên miệng vực. Anh ta đạp gót giày đinh lên bàn tay của cái gã Panter bên dưới, đôi bàn tay gã đang níu kéo cành cây như níu kéo sự sống. Cành cây gãy, rơi vào khoảng không hun hút bên dưới, kèm với tiếng kêu thét kinh hoàng chấn động cả vùng núi tĩnh mịch. Và Karl Klotz bừng tỉnh dậy.

Klotz đang nằm trên trường kỷ trong căn phòng tươm tất của hắn tại Berlin. Chẳng phải đồi núi gì sất. Căn phòng hắn nhạt nhòa trong ánh hoàng hôn của chiều đông lạnh. Karl Klotz bừng tỉnh dậy mà tim vẫn còn đập thình thịch. Anh bước đến gần cửa sổ, miễn cưỡng nhìn lên bàn tay trái: hai ngón tay bị mất.

Anh ta nghĩ: Mình là thằng vất đi rồi. Không thể nào mà quên được chuyện này. Thật kinh khủng, sao cái gã trong giấc mơ lại ác độc đến vậy! Còn cái gã đi vé hạng nhất ấy – cái lão Theodor Panter – đâu phải là thằng ma cà bông mà là chủ nhà băng hoặc nhà sản xuất. Giá mà hắn đừng có đập nát tay mình, nhưng mà hắn đã cố ý đập. Thật là quá đáng. Báo thù chăng? Liệu báo thù có làm mình tiêu tan những đau đớn phải gánh chịu trong thời gian qua? Tuy nhiên, nay mai mà mình thấy hắn ở đâu, trên đường phố hay trong nhà băng, quán cà phê, xe lửa, hay văn phòng chẳng hạn, mình sẽ không giết hắn đâu. Mình chỉ tóm áo hắn, phun nước bọt vào mặt hắn, rồi nện một lượt hai tay vào mặt hắn để hắn phải mang vết bầm dập trong ba ngày.

Karl Klotz, 33 tuổi, hai ngón tay trái bị cụt, hiện là một nhân viên kế toán thất nghiệp. Anh ta vào một quán cà phê. Ngồi trầm ngâm hai tiếng đồng hồ bên tách cà phê, nghe tiếng nhạc thánh thót mà lòng sao vẫn nặng nề.
Anh biết rằng anh không còn tiền nữa, không còn quan hệ với ai, không còn cơ hội tìm một chỗ làm mới. Cuộc đời anh thực ảm đạm không lối thoát. Anh đứng dậy và rời khỏi quán cà phê, bỗng có tiếng gọi sau lưng. Đấy là Meier, một bạn học cũ. Hầu như trong danh sách học sinh của bất kỳ lớp nào cũng có tên Meier, viết na ná nhau như Maier, Mayer hoặc Meyer. Anh ta là người trầm lặng, không có gì nổi bật, sau này ra đời làm nghề thu thuế hay kế toán thương mại gì đó.

Meier là kế toán trưởng của một công ty kỹ nghệ. Được biết Klotz đang thất nghiệp, anh bảo Klotz ngày kia hãy đến gặp ông giám đốc. Công ty của anh đang cần tìm thêm một nhân viên kế toán có kinh nghiệm và năng nổ. Còn ngày mai thì đem đơn xin việc và giấy tờ đính kèm đến văn phòng của Meier. Anh ta sẽ nói giúp, chả là anh có quan hệ tốt với giám đốc mà.

Klotz vâng lời. Hôm sau anh cạo râu, hớt tóc cẩn thận%2
C ăn mặc tươm tất đến công ty. Meier đón tiếp niềm nở, và ghé tai nói nhỏ, sự việc hệ trọng đấy, ráng mà tạo ấn tượng tốt khi lần đầu gặp giám đốc Panter. Đồng thời Meier bảo cô thư ký vào gặp giám đốc và báo rằng có ông Klotz đến.

Klotz nhợt nhạt, lắp bắp hỏi: “Có phải giám đốc tên là Theodor Panter?” Meier khẽ nói: “Tất nhiên rồi. Ráng mà tranh thủ cơ hội nghe. Công việc có mòi tốt đấy”.

Nhưng rồi người ta cũng dẫn Klotz vào phòng của giám đốc. Một ông đang ngồi bên bàn giấy và lúi húi đọc. Ông ta ngước lên nhìn. Quả đúng là Theodor Panter rồi. Đích thị là hắn. Panter đang là giám đốc công ty cổ phần hữu hạn này! Hắn nói: “Mời ông ngồi, à không, ngồi đằng kia ạ. Ông đã làm việc trong một ngân hàng lớn nào chưa? Công việc ở đó là gì?”.

Klotz trả lời lí nhí, không phải trả lời cho câu hỏi của giám đốc, cũng không trả lời cho riêng mình. Anh ta ngồi đó, trên chiếc ghế bọc da trong căn phòng lịch sự của công ty đồ sộ này, và suy nghĩ lung tung trong đầu. Cái tên sát nhân. Nó đang ngồi trước mặt mình. Mình phải nói năng với nó thế nào đây. Mình phải lắng nghe nó nói, hẳn rồi, thưa ông giám đốc, ông nghĩ sao ạ, vâng hoàn toàn đúng theo ý ông thôi ạ... Chẳng có thằng nào rơi xuống vực trong sương mù cả. Mà nó ngồi đấy, béo tốt, tròn quay, thỏa mãn, một kẻ thành công! Hắn ngồi đó, giàu có và sung sướng như ông vua vậy. Còn mình ngồi trước mặt lão, nghèo đói và thất nghiệp. Một tên sát nhân ngồi trước mặt mình, hay chỉ đơn thuần là giám đốc mà thôi?

Mình phải đứng dậy, Klotz thầm nghĩ, và nhổ nước bọt vào mặt hắn. Mình phải thộp cổ áo hắn, nhưng không giết hắn, mà nện cả hai tay vào mặt hắn để hắn mang dấu vết cú nện này suốt ba ngày.

Klotz ngồi đấy và lắp bắp: “Hẳn rồi, thưa ông giám đốc! Ông cứ ra lệnh đi ạ! Vâng, lẽ đương nhiên là thế, thưa ông, hoàn toàn tùy theo ý kiến của ông thôi ạ!”. Klotz ngồi đấy, con tim đã chết.

Lão giám đốc nói với Klotz lần thứ hai, giọng lão khô khan: “Thôi, được rồi, ông Klotz. Bây giờ ông có thể ra về. Chúng tôi sẽ có thư báo tin cho ông rõ”.

Klotz hốt hoảng bật người đứng dậy, khúm núm như con chi chi, mồm lắp bắp, chả là hai năm nay anh thất nghiệp, không một đồng dính túi: “Vâng, xin đa tạ lòng tử tế của ông, thưa ông giám đốc! Kính chào ông ạ! Kính chào ông ạ!”. Rồi Klotz bước ra.

Anh đã ra tới ngoài đường, thầm nghĩ: Thế là ta đã không báo thù! Ta đã không báo thù! Ta đã không bước lên xác hắn. Không có báo thù. Báo thù chỉ có trong giấc mộng của kẻ bị chà đạp nhằm tự an ủi mình. Trong đời không có báo thù! Bởi vì kẻ bị chà đạp sẽ bị chà đạp thêm lần nữa! Còn kẻ chết sẽ bị chết thêm lần nữa.

Klotz ngồi xuống một băng đá, cây cối xung quanh anh ta xanh xanh và vô hồn vô cảm như những khách bộ hành qua lại. Anh ta nhìn lên bàn tay trái, tận gốc hai ngón tay bị mất. Anh cắn lấy bàn tay và khóc rưng rức.

Vào ngày sau, anh nhận được một lá thư ngắn gọn: “Rất tiếc, chỗ làm đã có người”. Ký tên: Giám đốc Panter.

Chiều đó, Klotz đến văn phòng công ty và nhận lại hồ sơ. Meier vội vàng ấn một cái gì đó vào tay Klotz và nói hơi tiêng tiếc: “Thực đáng tiếc! Mình thực sự lấy làm tiếc về vụ này”.

“Nhưng tại sao?” - Klotz hỏi đầy xúc động. Anh ta đã quên tất cả: biển, báo thù, cái chết và giấc mơ. Anh chỉ biết rằng hai năm nay anh đã thất nghiệp. Anh lắp bắp: “Nhưng tại sao?”.

Meier ghé mình sát vào Klotz và khẽ nói bên tai với vẻ mặt trọng đại: “Ừ, chính mình cũng không hiểu tại sao nữa, có điều ông giám đốc bảo rằng các bằng cấp của cậu đều tốt cả, nhưng ông ấy có ấn tượng là tác phong của cậu trông hèn hèn thảm hại làm sao ấy!”.

Klotz đột nhiên cười phá lên: “Ồ! Chẳng phải là tớ có ác cảm với bản thân lão ta sao?”. Thế là anh ta cầm lấy hồ sơ, chỉ cảm ơn Meier một tiếng rồi bước đi.

Meier đứng trông theo hồi lâu, và lắc đầu: Cái thằng Klotz này thật sự khó mà thông cảm được. Dầu sao nó cũng là bạn học của mình! Thế rồi Meier đi vào văn phòng giám đốc.
187

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2006

Bà Mụ Của Búp Bê



Tiếng khóa cổng lách cách, tiếng xe nổ. Tiếng càu nhàu của con dâu ông. Ðó là những âm thanh cuối cùng mà ông lão đợi - ông biết chúng đã đi làm, hai con bé đã đi học mà bây giờ ông và con Lỡ sẽ tự do trong ngôi nhà vắng lặng.

Ông chui ra khỏi cái hộp của ông, một cái buồng nham nhở, hai mặt tựa vào hông tường và bếp, một mặt che tấm ván ép, một mặt trống hoác làm cửa ra vào. Ông đã quen đổi chỗ từ hai mươi năm nay, khi con ông trở thành chủ nhân trong ngôi nhà của cha mình. Từ lầu đến trệt, từ phòng trước đến phòng sau, từ phòng rộng đến phòng hẹp và bây giờ kề bên bếp. Lần này thì chính ông đề nghị: "Bây để tau xuống nhà sau ngủ. Tau hay đi tiểu đêm mà cửa thì bây khóa...".

"Không khóa để ông đi ra, kẻ trộm đi vào à?". ' Con ông càu nhàu. Còn vợ nó thủng thỉnh: "Mùa hè, nằm đó khác chi hứng gió biển". Nằm đó là nằm ở khúc nhà ngang nối liền nhà trên với bếp. ở đó có mái nhưng tường không che chắn kín đáo như nhà trên. Thồng lộng. Con ông che tạm cho ông cái buồng này và bảo: "Rồi thư thư... con xây thành phòng". Tối đến khi cánh cửa thông đã khép, cắt ông với thế giới "trên nhà", ông thấy dễ chịu khi được một mình với yên tĩnh và bóng tối. Ông có thể ngắm cả mảng trời sao nhấp nhánh. Cả vầng trăng viên mãn tròn đầy. Cả lúc trăng mỏi. Cả những bóng cây vật vã vào nhau trong đêm mưa gió. Cũng còn dễ chịu hơn rón rén đái vào bô, từng tí, từng tí để tiếng nước tiểu không làm con dâu thức giấc, còn hơn níu tiếng đằng hắng cứ chực vọt ra khỏi họng. ở đây, ông có thể tự do đi lại, uống nước khi không ngủ được. Người già uống nhiều hơn ăn, ông có thể uống trà trừ bữa. Nhắc trà ông lại nhớ chén - cái chén sứ men lam bắt tuấn mã ông thường dùng nay đã cất trong tủ buýp-phê trên nhà. Ông có thói quen vừa uống trà vừa ngắm cái vẻ dữ dằn tuấn vĩ của tám con ngựa ở tám tư thế khác nhau. Nét vẽ sống động bằng màu xanh đậm mà vẫn trong như ngọc bích. Men trắng xanh lơ quý phái. Trà sóng sánh vàng bốc khói, tám con ngựa oai phong lẫm liệt. Uống trà trong chén ấy mới tuyệt làm sao! Nhưng chúng nói phải. Chén quá quý mà tay mình thì run - vỡ uổng lắm. Ðể còn mà ngắm - ông lão lại chép chép miệng móm mém rồi đi tìm con Lỡ. Nó đang kéo lê đôi chân cong vòng, nhỏ như cây sậy đi tìm ông. Nó ngủ trên kia nhưng khi cả nhà đi hết, nó lại được thả xuống cho ông. Con và dâu ông mắc một chứng bệnh kỳ dị - bệnh sạch. Ði làm về là chúng dọn dẹp lau chùi cho đến khi bóng như lau như li. Ðồ không dám dùng. Ngồi không dám dựa. Con cái không được chơi làm bẩn đồ đạc bóng lộn. Chúng làm lụng cực nhọc nhưng chúng không thuê người giúp việc vì sợ thêm người thêm bẩn. Vả lại đời nay biết đâu mà tin.

Con Lỡ toét miệng cười với ông. Ông đến bế nó. Ngó nó lết mà thương. Nhưng ông không bế nổi con bé. Hai ông cháu lảo đảo. Ông ngồi chỗm hỗm cho nó bá cổ. Con Lỡ nằm bẹp trên lưng ông và hai ông cháu đi đến chỗ để thức ăn. Con Lỡ vừa ăn vừa "khóc" như mọi khi. Cũng như mọi khi, nó vừa ăn vừa đút cho con búp bê trụi tóc, gãy tay của nó. Cha mẹ nó chẳng chờ đợi nó ở ngôi nhà này. Họ đợi một đứa con trai. Mẹ nó đã quay lưng khóc khi cô đỡ chìa ra một cô bé gái nhăn nheo, đau khổ như một bà cụ. Ðứa con gái thứ ba! Lại xấu xí! Lại gầy gò vì thiếu cân, thiếu tháng! Lại bị què sau trận sốt tê liệt khi lên hai!. Ðôi lúc người mẹ cùng ăn năn. Giá chăm chút nó như hai đứa trước, uống, tiêm phòng đầy đủ. Thôi thì lỡ rồi. Lỡ sinh. Lỡ quên. Ngưòi ta gọi nó luôn là con Lỡ. Nó lại bị cái gì đó ở tuyến lệ nữa. Nước mắt cứ ri rỉ ngay cả khi nó cười: Trong ngôi nhà sạch bóng, tươm tất này, nó và ông thật lạc điệu - xấu xí, vô dụng - ông đọc điều đó trong cái nhìn. ăn xong, hai ông cháu ngồi chơi trên chiếc ghế mây dưới bóng cây. Một già một trẻ có thể ngồi đó suốt buổi cho đến khi có tiếng khóa lách cách trở lại. Con Lỡ lắng nghe ông nói, không hiểu, không khen chê nhưng vẫn nghe. Nó thường bắt lấy chữ cuối của ông làm chữ đầu của nó. Tuổi tác có ý nghĩa gì khi mọi sự đều trở về. Tóc trở màu, con người lại bắt đầu như một đứa trẻ, yếu đuối, bất lực, sợ hãi, ngây thơ. Thường ông kể chuyện cho nó nghe, chuyện đời, chuyện xưa nay, bày cho nó đếm, nó đọc. Còn nó bày cho ông bán hàng bằng lá, chơi búp bê. Sáng nay mặt con Lỡ đầy vẻ nghiêm trọng. Nó cứ nhìn chăm chăm con búp bê cũ kỹ hai đời chị quẳng lại cho nó và bảo ông:

- Sáng nay con búp bê sẽ đẻ con.

- Sao cháu biết?

- Nó nói.

- Nó nói sao?

- Nó nói nó đau bụng. Con nó ở chật bụng nó.

Ông lắc đầu. Bao giờ con bé cũng ao ước con búp bê đẻ. Mẹ nó biết đẻ. Con mèo biết đẻ thì tại sao con búp bê không đẻ? Nó sẽ đẻ một con búp bê tóc vàng, má hồng và lành lặn. Ðôi khi cả một bầy búp bê cũng có!

Giá mình có thể "đẻ" cho nó một con thế nhỉ! Ông lão lẩn thẩn nghĩ. Tia mắt già nua đậu trên con bé Lỡ. Ðậu trên những chiếc lá vàng nâu nằm uể oải trên mặt đất.

- Ông thấy không? Con Lỡ lắc tay ông - Bụng con búp bê sáng nay bự chác. Nó đựng đầy con. Nhưng con nó làm sao ra được?

- Thì... thì... cũng như bà cho ra ba cháu. Mẹ cháu cho ra cháu. Có một bà tiên người ta gọi là bà mụ. - Thế bà mụ của búp bê đâu?

- Cháu đấy!

- Cháu không biết làm bà mụ. Bà mụ phải làm gì?

- Gối lên chân ông ngủ và đợi.

- Không, cháu không ngủ. Con bé lắc đầu quầy quậy.

Ông nhớ lại lúc con mèo mun đẻ. Con bé đã ngồi bên nó suốt buổi để đợi xem em-bé-mèo.

- Cháu không ngủ. Có bé lập lại, nhìn ông bướng bỉnh. Chính lúc ấy ông mới thấy mắt con bé đẹp vô cùng - trong như nước hồ thu, ươn ướt. "Giống hệt mắt bà ấy" - Ông lão thì thầm.

- Bà ấy nào?

- Bà cháu.

Rồi ông lão nhìn đăm đăm vào khoảng trống trước mặt, dường như bà hiện ra ở đó, mãi mãi ở tuổi thanh xuân với những dải nước màu đen sóng sánh, đôi mắt trong ngần, đôi má vàng óng nắng, phơn phớn lông tơ.

- Này ông! Sao con búp bê lâu đẻ thế?

Bóng bà tan biến. Con Lỡ nhìn ông chăm chú:

- Ơ! Mắt ông cũng có nước. Mặt ông lại nhăn thêm nữa. Một, hai, ba, mười, mười lăm... Nhiều quá. Chẳng ai nhiều như ông, đếm bắt mệt!

- Tại năm tháng đó cháu. Năm tháng đi qua để lại dấu vết. Ông đã sống nhiều năm tháng quá rồi!

Và bà lại hiện ra, một bà lão khô héo, cái lưng nằm mãi vì bệnh đến lở lói. Khuôn miệng cay đắng thốt những lời cay nghiệt. Ðôi mắt mờ đục chất ngất mệt mỏi.

- Thế ông cất năm tháng của ông đó à? Khi hết chỗ ông sẽ cất ở đâu?

- Khi đó ông chết.

- Ðừng... cháu sẽ chơi với ai? Miệng con bé méo xệch - ông đừng chết. Cháu sẽ cất giùm ông nếu ông hết chỗ. Ông đừng chết!

- Chưa chết đâu! Con búp bê gọi cháu kìa!

Con bé lại quên ông. Nó quay qua con búp bê mất tay:

- Này đau bụng hả? Mày đẻ con thôi. Mày đẻ một con búp bê tóc vàng đẹp như công chúa, không trụi tóc, không gãy tay. Con mày sẽ đẹp dùm mày.

Con-mày-sẽ-đẹp-dùm-mày. Chao ôi! Con Lỡ nói một câu hay quá. Ông nhìn cháu ngạc nhiên. Ông nhìn hai cẳng chân cong vòng, nhìn thân hình èo uột, mái tóc lơ thơ và chợt nhận ra nó không ngô nghê như hai chị nó, rằng ông quá hoài phí năm tháng để hiểu điều này. Trong bản chất mỗi con người, mỗi sự vật, có cái người ta không thể học được. Ôi con Lỡ của ông! Từ khi bà mất, lòng ông nguội lạnh. Chính con bé què quặt ốm yếu này đã hâm nóng nó lại. "Ai mạc ư tâm tử". Mọi sự đau xót không gì bằng nguội lạnh con tim. Thật đúng!

- Ðúng là con búp bê sắp đẻ phải không ông?

- ừ.

- Nhưng lâu quá! Con bé rên lên nhìn ông nôn nóng.

Con - nó-làm-đẹp-cho-nó. Con người được cứu vãn nhờ sự tái sinh. Ông không thể dập tắt niềm tin ấy của con Lỡ. Ông lão trầm ngâm suy nghĩ rồi đứng phắt dậy:

- Nó sẽ đẻ! Ông lão dõng dạc tuyên bố. Có điều cháu phải kiên nhẫn chờ. Ông đi mời bà mụ đây. Cháu sẽ giúp ông bằng cách ngồi yên trên ghế, không được rời con búp bê.

- Mau lên ông! Cháu sẽ ngồi yên mà! Con bé rối rít giục. Ông lão tất tả ra cổng rồi đột nhiên ông khựng lại, quay lui. Cả hai ông cháu tuyệt vọng nhìn cái ổ khoá cổng to tướng. Con Lỡ bắt đầu thút thít.

- Ðừng khóc! Ông có cách rồi.

Ông đi tìm cái ghế cao con ông vẫn dùng để tỉa hoa giấy. Nó được dựng gần tường. Ông kéo nó sát hàng rào, vụng về, khó nhọc. Ông dặn con Lỡ lần cuối trước khi leo lên:

- Nhớ ngồi yên. Ðừng tụt xuống té nghe!

- Dạ! Ði nhanh ông nghe!

Ông già bắt đầu trèo lên chiếc ghế cao. Chân ông run run, lóng nga lóng ngóng nhưng lòng ông rạo rực. Thằng bé nghịch ngợm trong ông hồi sinh - cái thằng cu Ðen thề không đặt chân xuống đất khi ở nhà một mình. Nó chỉ nhảy từ bàn qua ghế, từ ghế qua giường... Ông ngồi trên bờ tường nhìn xuống đường. Bây giờ ông phải xuống đó không có ghế. Ông bấu tay vào gờ tường và tụt xuống. Cứ nghĩ mình đi - ngược-lại. Ông vừa tụt xuống vừa lẩm bẩm và niềm vui lẫn sợ của thằng cu Ðen trèo tường đi chơi cứ làm tim ông đập thình thịch. Thời gian không thực có. Nhảy đi, cu Ðen! Nửa thước chứ mấy. Ông lão nhảy. Thằng cu Ðen táo tợn vỗ tay. Còn ông lão đau quá, khuỵu xuống. Ông nhăn mặt nhưng sực nhớ con Lỡ, ông đứng dậy, ông vịn tường bước khập khiễng. Ðể đỡ đau, ông tụt dép cầm tay. Có năm năm rồi ông không ra đường. Phố xá bây giờ lạ quá. ông lại là đứa con nít sợ lạc trước dòng người và xe cộ nườm nượp.

"Này nằm yên đó. Ông sẽ về bây giờ với bà mụ và mày sẽ hết đau bụng, sẽ đẻ cho tau một con búp bê tóc vàng, lành lặn - con Lỡ thầm thì. Nó cảm thấy buồn đái, nhưng nó nhớ lời ông dặn không được rời con búp bê, không được tụt xuống té. Mày cũng khó chịu thế chứ gì. Như tau buồn đái thế thôi". Con bé ôm bụng nhăn nhó. Con búp bê mở to đôi mắt biếc có hàng mi cong vút nhìn trời. "Chịu khó đi rồi con mày sẽ làm đẹp cho mày. Con mày sẽ không rụng tóc và gãy tay như mày. Con tau... không biết rồi con tau có làm đẹp cho tau không? Chân tau không như mọi người. Tau không làm đẹp cho mẹ và mẹ không thương tau!" Con bé thở dài. Hoa nắng bắt đầu nhảy nhót trên áo nó. Con búp bê nhắm mắt ngủ. Con bé cũng thiu thiu.

Khi con Lỡ mở mắt, điều kỳ diệu đã xảy ra. Ông nó ngồi cạnh nó. Con búp bê tóc vàng, má hồng nằm cạnh con búp bê trụi tóc, cụt tay. Còn nó, nó nằm trên vũng nước tiểu.

- Ôi! Nó đẻ rồi! Thế bà mụ đâu! Cháu muốn cảm ơn bà.

- Bà mụ đi rồi. Bà còn phải vội đi đỡ đẻ cho con búp bê khác.

- Sao ông không thức cháu?

- Rồi nó nhìn cái quần ướt sũng, bẽn lẽn: - Cháu không định tè trong quần, nhưng...

Ông vừa nhăn nhó vừa cười. Nom ông là lạ. Nửa như nó, nửa như ông.

Ông lão ngồi thở, ông còn mệt và còn đau chân lắm; khó lòng tưởng tượng những gì ông đã làm sáng nay. Nó cũng kỳ diệu và khó nhọc như con-búp-bê-đẻ-con vậy.

Con Lỡ nhìn sững con búp bê tóc vàng. Nó đẹp dễ sợ. Nó không như con mèo mới đẻ, lông bết dính và mắt nhắm tít. "Mày thích lắm nhỉ - Bây giờ mình có ba người - Ban ngày thêm ông là bốn. Tau sẽ giấu mày trong chăn - Chị tau mà thấy họ không để yên cho mày đâu".

Ðêm đó ông lão không ngủ được, ông gác hai cẳng chân đau nhức, mỏi nhừ lên thành giường. Ông đã đi bộ đến mấy con đường với cái chân đau. Chính thằng cu Ðen táo tợn, bướng bỉnh ấy kéo ông đi tới cửa hàng búp bê. Ông thò tay vào ngực - Bà vẫn nằm yên trong đó, gối đầu lên ngực ông. Chỉ có khác là bức chân dung hồi trẻ của bà lồng trong trái tim bằng ngọc bây giờ không được treo sợi dây chuyền vàng nữa - nó được thay bằng một sợi dây rút từ bao xi măng. Trong bóng tối đôi mắt đẹp như mắt con Lỡ nhìn ông cười có đuôi. Con Lỡ chắc ngủ ngon sau khi trò chuyện với lũ búp bê. Ông mơ màng thấy thằng cu Ðen kéo một toa tàu, một ông lão cà nhắc, một con bé cà thọt và một bà lão muôn thuở tuổi đôi mươi.

Trên nhà, con Lỡ ôm hai con búp bê ngủ. Nó mơ nó đẻ con. Ðẻ ra một con Lỡ con lành lặn, đôi chân tròn trĩnh xinh đẹp lộ trong chiếc áo đầm voan trắng. Con Lỡ con đẹp giùm mình. Mặc áo đầm giùm mình. Con bé ngủ thiếp với ý tưởng đó. Còn con búp bê trơ trụi tóc, gãy tay thì không ngủ. Nó thao thức nghĩ đến bà mụ của mình.161

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2006

Ăn tối ngoài tiệm



Đi ăn tối ngoài tiệm là một điều thú vị phải không các bạn? Người ta nấu nướng mọi thứ cho bạn, dọn lên trên bàn cho bạn thưởng thức...và rồi sau đó còn dọn dẹp, rửa chén cho bạn nửa chứ...Đã thì thôị..Tất cả những điều bạn phải làm chỉ là nhai, nuốt và sau cùng là trả tiền. Nhưng thưa các bạn...những điều tôi vừa kể trên đã cuốn theo chiều gió hết rồi...Và đây là câu chuyện của tôi...

Một chiều cuối tuần nọ, sau khi lãnh pay check, tôi bèn quyết định một cách hạnh phúc là thay vì nấu ăn ở nhà như thường lệ, tôi sẽ rủ cô bạn gaí đi ăn tối ngoài tiệm. Xin thưa với các bạn đó là lần đầu tiên tôi đi ăn ntoài tiệm. Khi tôi đến tiệm ăn thì trời ơi... tôi có cái cảm tưởng như là đang lạc vào bát quái trận đồcủa Hoàng Dược Sư trên Đào Hoa Đảọ..Người hầu bàn, ăn mặc còn sang trọng hơn tôi nũa, chào đón tôi:

"Xin chào quí khách, 2 người phải không ạ?" Tôi hãnh diện đáp:
"Vâng, 2 người ." Anh ta hỏi tiếp
"Hút thuốc hay không hút thuốc?

Tôi trả lời ra vẻ như không bao giờ hút thuốc:
"Không, tôi không hút thuốc."

Người hầu bàn tiếp tục hỏi:
"Ngài thích ngồi ở khu vực trong nhà hay ngoài trời?"

Tôi trả lời như là mình có một quyết định đúng đắn:
"Tôi thích ngồi ở trong hơn là ra ngoài."

Anh ta phụ họa:
"Đúng đấy, thưa ngài." Và hỏi tiếp:

"Ngài thích ngồi ở phòng ăn chính, ở bao lơn có mái che hay là trong khu nhà kiếng chan hòa ánh nắng của chúng tôỉ"

Đến đây thì tôi hơi lúng túng:
"Hmm...để coi..."

Anh ta đề nghị:
"Tôi có thể sắp cho Ngài ngồi ở khu nhà kiếng với phong cảnh tuyệt vời."

Tôi hưởng ứng và đi theo anh ta:
"Tôi nghĩ anh nói đúng đấỵ"

Anh ta lại hỏi tiếp:

"Bây giờ Ngài thích nhìn ra sân golf hay muốn nhìn cảnh mặt trời lặn trên bờ hồ hay là cảnh núi non hùng vĩ?" Tôi nghĩ thầm là lần này hãy để nó chọn phứt đi cho xong, đỡ phải lúng túng:
"Chổ nào anh thấy đẹp là được rồi!"

Thật ra anh ta đặt chúng tôi ngồi hướng về sân golf hay bờ hồ hay núi non gì đó tôi cũng cóc biết vì lúc đó trời đã tối bên ngoài.

Lúc sau, một người hầu bàn khác trẻ hơn, cũng ăn mặt bãnh hơn tôi, đến bàn tôi và nói:

"Kính chào quí khách. Tôi là Paul. Chiều nay tôi sẽ phục vụ quí khách. Quí khách có muốn ngồi ngắm cảnh thêm vài phút trước khi đặt món ăn hay không?"

Tôi nói ngay:
"Không, tôi đang đói lắm. Tôi là dân lao động. Mang lên cho tôi một dĩa thịt bò với rau và khoai tây nướng."

Anh ta hỏi thêm:
"Ngài muốn dùng thêm súp hay rau trộn?"

Tôi đáp ngay: "Rau"

Anh cứ hỏi:
"Chúng tôi có rau xanh nhiều loại, củ dền đỏ, cà chuạ..Ngài có thích trộn với tôm không?"
Tôi xẳng giọng: " Rau xanh thôi, OK?"
Anh ta đáp: " Vâng thưa Ngài. Có dầu giấm không?"

Tôi không muốn kéo dài cuộc khẩu cung này nữa:
"Bất cứ cái gì cũng được."

Anh ta cứ nói:
"Chúng tôi có dầu giấm kem Ý, phó mát xanh,giấm chua Pháp...

Tôi cướp lời:
"Đem bất kỳ thứ nào làm tôi ngạc nhiên là được..."

Anh ta vẫn đứng đó:
"Dầu giấm kem Ý là loại đặc biệt của chúng tôi. Như thế có được không thưa Ngàỉ"

Tôi cộc lốc" Yeah"

Anh lại hỏi: " Còn khoai tây thì sao?"

Tôi thừa biết cái gì sắp xảy ra nên không muốn anh ta đứng lải nhải nữa:
"Tôi chỉ muốn khoai tây nướng mà thôi, hiểu chưa? Không có cái giống gì kèm theo nữa hết."

Anh cứ hỏi: "Không bỏ Không kem chua à?"
Tôi gằn giọng: " Không."
Anh ta vẫn hỏi: "Không để hành luôn à?"

Tôi hết chịu nỗi nên phải quát lên:
"Không. Anh không hiểu tiếng Anh à? Tôi không muốn cái gì với khoai tây hết. Cứ mang ra cho tôi khoai tây nướng với thịt bò là được rồị"

Anh ta lại chĩa mủi dùi sang thịt bò:
"Ngài muốn 200 gram, 250 gram hay 350 gram thưa Ngàỉ."

Tôi trả lời cho có: "Bao nhiêu cũng được."
"Ngài muốn tái, tái vừa vừa, vừa, vừa chín hay chín hẳn thưa Ngàỉ"

Tôi không thể nào chịu được nữa:
"Ệ..Tao nỗi cơn rồi đấy nhé..."

Anh ta vẫn không tha tôi: "Ngài thích broccoli, bắp hay cà rốt chung với thịt bò?"

Như giọt nước làm tràn ly nóng giận, tôi ném khăn ăn xuống đất , đứng phắt lên, xắn tay aó, xông vào anh ta và giở giọng võ biền:
"Ê... Mày muốn ra ngoài sân chơi tay đôi không, thằng dai như đĩa kia?"

Trời ơi, đến nước này mà anh ta cũng không thể không hỏi ý kiến tôi:
"Vâng, thưa Ngài. Ngài thích ở bãi đậu xe, ngoài đường nhỏ hay đường lớn đối diện với nhà hàng, thưa Ngài?"

Tôi nói: "Tao thích ngay tại đâỵ..", và đấm anh ta một cái. Anh ta né rồi phản công bằng một cú móc tay trái vào hàm tôi.... Các bạn thân mến, đó là lần đầu tiên trong cái đêm nghiệt ngã đó anh ta đã không hỏi tôi thích bị đấm ở đâu...Tôi cháng váng ngã xuống ghế trong khi các người khác tới kéo anh hầu bàn đó ra.

Tôi có cảm giác ai đó nới lỏng cà vạt tôi ra, mở nút áo cổ và vả nhẹ vào mặt tôi... Khi tôi hoàn tỉnh, tôi thấy trước mặt tôi là gương mặt lo âu của viên phụ trách các tên hầu bàn đêm đó... Ông ta xin lỗi ráo riết và đề nghị mua nước uống cho tôi, gọi y tá hay bất cứ cái gì tôi muốn...

Tôi lúng túng nói: "Không, không ... đừng gọi ai đến hết....cho tôi ly nước là được rồi...
"Vâng thưa Ngài, có ngay", ông ta hớn hở đáp lại sự đòi hỏi quá dễ thực hiện của tôi....
Và ông ta tiếp: "Ngài thích nước suối nhập cảng, nước soda, nước chanh hay nước lọc?
134

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2005

Bức Thư Tình Cũ



Trước khi từ giã cõi đời ông ngoại đưa cho bà ngoại tôi một bức thư đã cũ và dặn sau khi ông mất bà mới được mở ra xem nếu không ông sẽ chịu tội bị đày xuống địa ngục .

Sau khi ông qua đời, bà ngoại không hề xem qua bức thư mà trịnh trọng đặt nó xuống dưới lọ tro hài cốt của ông. Và bà cứ để nó đấy suốt ba năm dài. Ba năm ấy ngoại đã già, răng đã rụng, mắt đã hoa và vẫn luôn nhắc đi nhắc lại : " Ông mất rồi tôi còn xem nó làm gì nữa?" .

Trong một đêm trời đầy sao, trăng sáng vằng vặc, nằm trên giường thở khó nhọc, ngoại kêu tôi lấy bức thư ra đọc cho ngoại nghe.

" Nha Nhi
Anh về rồi nhưng phải đi ngay, lần này ra đi có lẽ sẽ không bao giờ quay trở lại nữa. Cuối cùng thì anh cũng được đánh nhau bằng dao thật, súng thật với bọn phát xít rồi. Trước khi lên tiền tuyến họ cho mỗi người được nghỉ phép 4, 5 ngày để về thăm người thân. Anh đâu còn người thân nào ngoài em. Nha Nhi !

Anh vẫn còn nhớ 3 năm trước, khi những người lính hành quân qua đây, anh muốn đi cùng họ, em gói 1 bọc lương khô và tiễn anh đến tận cuối thôn, trên đường đi em chỉ cúi đầu rơi lệ. Mãi đến khi anh cùng họ đã đi được khá xa rồi em mới chạy đuổi theo, kéo vạt áo anh, nói với anh :" Em chờ anh!" .

Ba năm ở trong lính anh vừa đánh giặc, vừa nhớ em. Ngày anh nhớ em, đêm mơ thấy em, chỉ mong thắng giặc để cưới em làm vợ. Khi về đến đầu thôn, anh gặp ngay Duyệt Tử, anh ấy nhìn anh kinh ngạc hỏi, anh vẫn còn sống sao. Một lúc sau anh ấy mới nói rằng em đã kết hôn với anh ấy rồi. Anh thật sự rất muốn đánh em, nhưng anh còn có thể trách ai đây, đây là do bọn giặc hại chúng ta. Anh không trách em, Nha Nhi, thật đấy, một chút cũng không, anh chỉ muốn nhìn em 1 lần nữa rồi chết cũng không ân hận !

Duyệt Tử là người tốt, anh ấy dẫn anh đến nhà hai người. Ngôi nhà rất sạch sẽ, ngoài cổng có trồng một cây dành dành, đúng là em trồng rồi. Chăn màn trong nhà được gấp rất gọn gàng, bếp núc cũng rất sạch sẽ. Duyệt Tử nói, em đi làm ngoài đồng. Anh nhìn mọi thứ trong nhà em mà anh muốn rơi nước mắt, tất cả giống 1 gia đình anh đã tưởng tượng cùng em xây dựng sau khi thắng giặc.

Anh phải đi rồi, Duyệt Tử bảo anh nên ngồi thêm một chút nữa, anh nói không có thời gian, thực ra, anh sợ em nhìn thấy anh, khiến em đau lòng. Khi đến cuối thôn, anh đã nhìn thấy em ở rất xa, anh nhìn mãi, nhìn mãi, lệ tràn hai bờ mi.

Nha Nhi, anh phải đi rồi nhưng anh muốn cho em biết rằng anh vẫn còn sống, vẫn yêu em. Anh viết thư này ở cuối thôn, chuẩn bị gởi cho em, nhưng nếu anh không về nữa thì chẳng phải là anh đã hại em rồi sao? Nếu anh biết cuộc sống của em không hạnh phúc thì dù dưới địa ngục anh cũng không thể yên lòng. Anh đưa bức thư này cho Duyệt Tử và dặn anh ấy chỉ khi nào nghe tin anh chết mới được giao thư cho em. Duyệt Tử là người tốt, anh ấy đã đồng ý.

Nha Nhi, anh chỉ mong một ngày nào đó, khi anh đã vĩnh viễn ra đi, em được biết rằng anh vẫi mãi nhớ em, yêu em, muốn cưới em.

Anh đi đây. Đừng trách Duyệt Tử vì anh đã ép anh ấy.

Mùa thu 1940

Anh Sơn của em"


Đọc xong bức thư, nhìn ngoại đang thở khó nhọc, tôi nghẹn ngào không nói lên lời. Ngoại chỉ lẩm nhẩm với chút sức lực cuối cùng :" Anh ấy không chết, anh ấy không chết..."

Tôi định bỏ thư vào phong bì thì bỗng nhìn thấy hàng chữ nhỏ đằng sau :" Mẹ nó đừng trách tôi, tôi đã thề rồi. Hiện giờ anh Sơn ở Bắc Kinh, vẫn còn độc thân, anh ấy vẫn còn sống. Tôi muốn nói cho mình biết nhưng anh ấy không cho. Mình ! Tôi xin lỗi" .

Ngoại ra đi rất thanh thản, trước khi ra đi ngoại còn nói với chúng tôi :" Cháu có hai ông ngoại đấy !" .
112

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2005

Amen - Ngôi nhà Ma



Có muôn ngàn chuyện ở trên đời, nhưng có một chuyện làm tôi không thể nào quên được. Ngày xửa ngày xưa, chuyện xảy ra lâu lắm rồi, không ai còn nhớ nữa, chỉ mình ta nhớ thôi. Lão Nyy đương đương tự đắc rung cặp râu dài tới 2 mét quét đất. Chả là ở vương quốc của lão có rất nhiều điều kỳ bí xảy ra. Mọi người ai ai cũng có phép màu và khả năng đặc biệt nào đó, riêng lão thì không. Vì vậy, lão mới để bộ râu dài khủng khiếp như thế để tạo ra sự quái dị cho phù hợp với cái xứ sở mà lão đang sống. Lang thang với cái bộ râu của lão thế đủ rồi. Chuyện mà lão muốn kể với dân làng hôm nay là một câu chuyện hoàn toàn có thực. Lão cảnh báo trước, ai mà bị đau tim hay choáng ngất thì dừng có nghe, lão không dán nhãn bảo hành cho câu chuyện của lão đâu.
Vào một đêm trăng, trời sáng trong như mực, tại vương quốc kỳ quái của lão Nyy có một ngôi nhà nhỏ heo hút ven đồi. Người ta đồn rằng cứ vào 12 giờ đêm có tiếng hú rất man rợ vang lên từ ngôi nhà nhỏ đó. Có lần 8 người đi săn về muộn lỡ đường trú tạm trong căn nhà đó. Sáng ra người ta đi tìm và chỉ thấy 8 cái đầu lâu trông rất hãi. Máu me be bét trào ra quanh hốc miệng mỗi cái đầu lâu. Dường như họ bị tra tấn rất khủng khiếp trước khi chỉ còn lại bộ xương. Sọ của ai cũng bị thủng một lỗ nơi đỉnh đầu... Và kinh dị hơn là cứ vào đêm trăng rằm mõi khi có tiếng hú man rợ trong căn nhà cất lên là y như rằng có một người trong làng chết...
Lão Nyy kể đến đó thì đột nhiên dừng lại. Cả bọn quây quần bên đống lửa giữa rừng ngồi sát vào nhau hãi hùng nhìn quanh. Tiếng các con thú ăn đêm hú lên rùng rợn, xa thẳm. Rồi thì cơn mưa rừng ập tới. Mưa ào ạt, xối xả, không kịp trú vào đâu cả bọn ướt nhoét. Cơn mưa rừng đến nhanh và qua đi cũng thật nhanh y như lúc nó đến. Xa xa có ánh đèn thật ấm cúng. Cả bọn dắt tay nhau tiến bước. Dũng cảm nhất là Hạt tiêu đi trước. Tiếp theo sau là Qxxx, Ktac, Feeling, LLS, LT, Nhat-my...Và cuối cùng là lão Nyy. Vì lão có bộ râu dài nên phải có người đi trước cầm râu cho lão. Kể kỳ quặc quá thế cũng khổ.
***
Đường đến ngôi nhà thật gian nan, đất lở đá trượt, nhưng rồi cả bọn cũng tới nơi vừa đói vừa mệt. Trong nhà đèn đuốc thắp sáng trưng. Hạt tiêu nhạy cảm nhất với mùi vị hích hích cái mũi lên ngửi.
- Chà chà ! Thơm gớm nhẩy ! Hình như có mùi thịt nướng.
- Oái ! Có cả mùi hành phi thơm phức- Ktac mắt sáng ngời mơ mộng
- Hình như có cả mùi bia Halida nữa - Qxxx ngó cổ dòm.
- Vào đê anh em ơi ! - lão Nyy hô to
Cả bọn vội xô cửa vào trong.
- Có ai không nhẩy? - LLS hỏi
Không một tiếng đáp lại. Căn nhà khá ấm cúng. Nó có một thang đặt ở góc nhà.
- Chắc là có tầng nữa nên mới có thang thế này- Qxxx nhận xét
- ờ ờ ! Cả bọn tán thành. Nhưng chợt nhìn thấy bàn ăn phía đó đang bốc khói nghi ngút, cả bọn quên cả chuyện cái thang lên tầng 2, nhao ngay ra đó. Quả đúng như Hạt tiêu, ktac và Qxxx đoán. Trên bàn ăn có bày đủ thứ. Có một mâm toàn lợn rừng còn bốc khói nghi ngút. Hành phi thơm phức. Một thùng bia to kếch sù nằm ngay cạnh bàn. Cả bọn chẳng ai bảo ai nhảy vào ăn uống no say. Và...khi cái bụng đã căng thì con mắt bắt đầu trùng xuống. Cả lũ lăn quay ra ngủ. Qxxx có lẽ chơi cả nửa thùng bia Halida nên quay ngay...
Đêm đã về khuya. Sấm chớp lại nổi lên đùng đùng. Căn nhà cọt kẹt kêu lên rùng rợn. Đèn chợt tắt. Lúc này chỉ còn LLS và Hạt tiêu là có vẻ còn lơ mơ chưa ngủ hẳn. 12 giờ đúng. Trăng nhô cao. Bầu trời đẫm nước. Một hiện tượng quả là kỳ lạ. Một tiếng hú rùng rợn cất lên nghe thật khủng khiếp, trên bức vách có những hình bóng kỳ lạ nhấp nhô. Những hình quái dị ấy cứ lững thững từ trên gác bước xuống. LLS và Hạt tiêu bừng tỉnh. Trong cái không gian ấy họ thấy có mùi máu tanh tưởi, mùi chuột bọ hôi hám bốc lên thật là ngột ngạt. hạt tiêu bỗng thấy lạnh xương sống. Hình như có cái gì quệt lên cổ làm hạt tiêu thấy rờn rợn, nhờn nhờn.
- Dậy mau ! Hạt tiêu hét lên trong khi LLS thì sợ hãi co người lại không kêu nổi một tiếng.
- Gì thế ? lão Nyy mơ màng. Nhưng rồi lão cũng nhận ra có cái gì đó không ổn sau gáy. Lão choàng tỉnh dậy và hét toáng lên như Hạt tiêu đã hét. Tất cả cùng tỉnh dậy. Qxxx như vẫn còn phê cáu quá tát lung tung. Thật là đen đủi lại trúng ngay mặt lão Nyy làm lão nổ đom đóm mắt. Cây nến trong nhà bắt được ánh đom đóm từ mắt lão Nyy sáng bừng lên. Cả bọn bàng hoàng nhìn thấy trước mặt mình những hình thù kỳ quái nhất từ trước đến nay. Chúng có những cái lưỡi thật dài đang liếm trên gáy mọi người. Những cặp nanh dài và nhọn cáu bẩn máu khô lúc lắc như ngà voi chỉ trực húc thẳng vào ai đó. Chúng là những con ma...
Lão Nyy lúc này đã trấn tĩnh. Lão nhặt một lúc mấy quả táo, rút mấy cái nan cửa sổ bày ra sàn nhà. Sau đó lão đào mấy cái hố nhỏ. Mỗi lỗ chỉ đủ một quả táo rơi xuống. Lão lấy gậy chọc như trò chơi bi-a của tụi thanh niên vẫn chơi. Cả lũ ma đứng há hốc mồm nhìn chăm chú. Bỗng một con ma cất tiếng :
- Ê này lão. Chơi gì đấy? dạy ta với?
- khà khà ! Thử đi- lão Nyy đưa một cái que nan cửa cho con ma
- úi chà, khó gớm. Từ thuở lọt lòng tới giờ ta chưa bao giờ chơi trò này, bây giờ ta mới thấy có một trò khoái thế.
Cả lũ ma xúm lại cùng chơi. Chúng bắt đầu ham. Cả bọn không còn sợ nữa cũng xúm vào hò hét. Chơi được một lúc, bọn ma bắt đầu chán, chúng mệt và đói. Chúng nhìn nhóm người thèm thuồng.
- Ê ! Ma nhỏ , mày chọn thằng nào ? Cả bọn ma chỉ vào lão Qxxx. Tao thấy cái tên này ngon nhất, béo ngậy, phi với hành thơm phải biết.
- ờ ! Nhưng mà tao thích cái thằng cao cao kia- mato lên tiếng
- Đứa nào thế ? ma xó hỏi
- à à ! Cái thằng đeo kính kia kìa, mắt nó to, vừa giòn vừa bổ- bọn ma trỏ vào Ktac.
- Mấy đứa còn lại còn trẻ chưa đến lúc phát tướng, cứ để vỗ béo đã- Ma trơi lên tiếng.
- Có lý đấy- Ta còn gầy lắm, đợi vỗ béo đã- Lão Nyy lên tiếng.
Cả bọn ma thống nhất xong thì bắt đầu đi đun nước sôi. Chúng súc miệng ùng ục rung động cả quả dồi. Bây giờ nước đã sôi, sang mục cạo lông làm thịt. Ma nhỏ vung vẩy con dao rất điệu nghệ lành nghề. Cả bọn ma chuẩn bị rất chu đáo. Đứa mài dao, đứa băm hành, đứa lấy chậu chuẩn bị đánh tiết canh. "đúng 2 giờ không sai một khắc ta sẽ làm thịt chúng nó nhá, anh em ơi ?" "đồng ý" Cả bọn ma nhao nhao.
Bỗng nhiên chẳng thấy có phản ứng gì cả từ phía bọn người kia, lũ ma đâm ra tò mò. Bọn chúng tiến tới chỗ nhóm của lão Nyy. Cả nhóm đang hì hụi ngồi bên những cái hộp. Chẳng ai nói với ai một câu. Thỉnh thoảng lại có kẻ cười thầm hay nhăn nhó. Căn nhà trở nên yên tĩnh lạ kỳ. Những iếng lách cách từ bọn người cứ phát ra đều đều.
- Chúng bay làm gì thế? - Ma xó lên tiếng
- Yên nào đang chat dở- Lão Qxxx cáu nhặng lên.
- Quái nhỉ ? Chat là cái quái gì mà lạ nhỉ? Ma CASPER thắc mắc
Chúng xà đến bên lão Nyy:
- Lão ! Lão già nhất ta nể lão. Kể mau bọn người đang làm gì ?
- ờ chat mạng. Hay lắm, còn hơn cả ăn thịt người
- ờ ! Dạy ta đi- bọn ma nhớn nhác
- Đây, các bạn cho mỗi con ma một máy nào- lão Nyy đề nghị
Cả bọn vốn sống có tổ chức quen nên đồng ý ngay. Mỗi người dưa cho bọn ma một cái máy tính xách tay với công nghệ hiện đại siêu nhỏ, có thể bỏ túi. Bọn ma lại nhớn nhác:
- Chat thế nào?
- Mới đầu là quay số 1260 - Nyy giải thích
- Yên nào- Nhat-my lên tiếng- quay số đó có mà toi à. Toàn account dùng chùa. Vào số đó bị phát hiện ngay, lại mang tiếng tiếp tay cho ma. Phải quay 8223122 hoặc 8223155 mới không bị phát hiện.
- Chí lý , chí lý- Lão Qxxx sướng run lên vì thuở bé đến giờ mới nghe một chân lý sáng suốt đến thế.
Cả bọn ma online thâu đêm quên cả bữa ăn đêm hấp dẫn kia. Cả bọn người lặng lẽ chuồn lúc nào không hay...
***
Ngôi nhà lại chơ trọi trong gió. Người ta bây giờ không thấy những tiếng hú man rợ nữa mà chỉ còn thấy những tiếng lách cách từng đêm trên quả đồi đầy huyền bí. Hơn thế nữa, người ta còn thấy trên nóc ngôi nhà có một cây thập át, bên ngoài có biển để chữ Amen@- ngôi nhà ma ...
128