This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2006

Truyện Cười 04



 


Nhanh Trí

Tí : Đố cậu biết khi đi biển, nếu chẳng may thuyền bị thủng nước ùa vào trong khoang thì phải làm thế nào ?
Tèo : Ồ dễ ợt, phải xử lý thật nhanh kẻo bị chìm, ta đục thêm một lỗ khác lớn hơn để nước chảy ra ngoài .

Một Với Một Là Hai

Bé Quỳnh mới đi học xong lớp một , mẹ dẫn em đi mua sách toán lớp hai . Đến hiệu sách, mẹ hỏi cô bán hàng :
- Có sách toán lớp hai không cô ?
- Hết sách toán lớp hai rồi, chỉ còn sách toán lớp một thôi ạ - Cô bán sách trả lời .
Bé Quỳnh vui vẻ nói :
- Vậy thì cô bán cho cháu quyển sách lớp một cũng được .
Mẹ cô liền ngạc nhiên hỏi :
- Con mới học xong lớp một, cuốn sách toán lớp một còn ở nhà, con mua làm gì nữa ?
Quỳnh :
- Thế một với một không phải hai hở mẹ ?

Trèo Táo

Trong vườn quả, chú bảo vệ thấy Dũng, cậu bé hàng xóm đang trèo lên cây táo . Chú nói dạo để Dũng sợ :
- Giỏi nhĩ . Xuống ngay đi, không nghe lời chú sẽ mách bố đấy !
Dũng : Chú đừng mất công - cậu ta cười hì hì rồi tiếp - Bố cháu đang ngồi trên cây táo bên kia kià .

Nhầm ...

Giờ địa, cô giáo đang giảng về châu Mỹ . Quốc đang ngồi nhìn ra phía cửa số và không chú ý lời cô giảng. Bỗng cô gọi Quốc :
- Trò Quốc hãy cho cô biết châu Mỹ có mấy phần ?
Quốc : Dạ ... dạ ... thưa cô châu Mỹ chia làm hai phần, dó là Mỹ Tho và Mỹ Thuận ạ !
Cô : ...!

Không Chịu Nổi

Trong giờ sinh vật .
Cô giáo : Hoàng, tại sao khi ta bón phân thì cây sẽ lớn nhanh hơn ?
Hoàng : Thưa cô vì ... vì cây không chịu nổi mùi hôi thúi của phân nên đã lớn vọt thật nhanh ạ !
Cô giáo : ! ...

Hỏi Bài

Giờ lịch sử, thầy giáo hỏi bài cũ :
- Ai đã viết Hịc tướng sĩ ?
Cả lớp im phăng phắc . Thầy phát cáu gọi :
- Huỳnh! Ai đã viết Hịc tướng sĩ ! ?
Huỳnh run rẩy đứng lên, nói lắp bắp :
- Thưa thầy ... không phải em ạ .

Đau Răng

Bé Hằng bị đau răng . Bố em liền nói :
- Con đừng ăn kẹo nữa . Đau răng do ăn quá nhiều kẹo đó .
Bé Hằng :
- Không thể như vậy bố ạ . Khi ăn kẹo bao giờ con cũng nhai bằng hai hàm răng, nhưng giờ thì con chỉ đau có một cái mà thôi .

Từ Đồng Nghĩa

Tiết văn, cô giáo đang ôn tập cho cả lớp về từ đồng nghĩa .
Cô : Các em cho cô biết từ "bàn ủi" còn gọi là gì nào ?
Học sinh : Thưa cô "bàn là" ạ !
Cô : Tốt lắm, chữ "là" cũng có nghĩa là "ủi", chẳng hạn : "Tôi là quần áo" nghĩa là "Tôi ủi quần áo". Bây giờ em nào cho cô ví dụ khác .
Một học sinh nhanh nhẫu giơ tay và trả lời :
- Thưa cô "Mẹ em là bác sĩ" nghĩa là "Mẹ em ủi bác sĩ"
Cô : ? ! ?

Bịt Tay Nghe Giảng

Trong giờ học, cậu Dũng thường lấy tay bịt một bên tai lại, hết tay này mỏi thì dùng tay kia bịt lỗ kia . Cô giáo thấy vậy rất lấy làm lạ liền hỏi :
- Tại sao em cứ bịt một bên tai lại thế ?
Dũng :
- Em nghĩ làm như thế sẽ nhớ được lâu ạ .
Cô giáo vẫn chưa hiểu rõ nên hỏi thêm :
- Vì sao như thế ?
Dũng nói vẻ tin tưởng lắm :
- Thưa cô, cô thường nói lên lớp phải chú ý nghe giảng, đừng để những lời cô nói chạy từ tai này sang tai kia . Cho nên em bịt tai lại đễ những lời của cô giảng không thể chạy ra tai bên kia được ạ .

Mở Hộp Cá

Bà mẹ mở hộp cá "Sácđin" và nói với cậu con trai :
- Cá Sácđin này bây giờ quý hiếm lắm, tại cá lớn ăn nó gần hết rồi .
Cậu con trai liền hỏi :
- Mẹ ơi . Những con cá làm thế nào mở được hộp cá mẹ nhỉ ?

Làm Sao Nhìn ?

Thấy ba bỏ kính trước khi đi ngủ, bé Hằng liền hỏi :
- Ba bỏ kính ra, nhỡ nằm mơ, ba làm sao nhìn được rõ ?

Chỉ Học Phần Sau Thôi

Vinh hỏi bố :
- Ba ơi, học tiếng Anh có khó không ạ ?
Bố :
- Thoạt đầu khó, nhưng học đến phần sau thì lại dễ .
Vinh :
- Thế thì con sẽ chỉ học phần sau thôi ba nhé .

Thật Thà

Cô giáo hỏi Thuỷ .
- Có phải em lại nhờ mẹ làm bài này, đúng không ?
Thuỷ thật thà trả lời :
- Dạ thưa cô, không phải ạ ! Mẹ em bận suốt ngày cho nên ba con làm dùm đấy ạ !

Xe Không Bánh

Anh Phong hỏi em Tùng :
- Nếu có một chiếc ôtô làm bằng SôCôla thì em sẽ ăn bộ phận nào trước ?
Không cần phải nghĩ lâu, Tùng nói luôn :
- Em sẽ ăn những cái bánh xe trước .
Phong thắc mắc hỏi, Tùng nhanh nhẩu giải thích :
- Chiếc xe Sôcôla mà mất bốn bánh thì sẽ không còn chạy đi đâu được, còn nếu mình ăn mấy phần khác thì xe bỏ chạy mất sao !

Cong Và Thẳng

A: - Sao không chọn cây mía thẳng mà lại chọn cây mía công thế, trong chẳng đẹp chút nào cả ?
B: - Cậu đúng là ngơ quá, thầy giáo toán đã dạy : "Đường thẳng là đường ngắn nhất hay sao ?".

Im Lặng Là Vàng

Con :
- Mẹ ơi, người ta bảo im lặng là vàng mà con lại thấy ngược lại .
- Sao con ? Mẹ hỏi lại .
Con :
- Sáng nay thầy giáo gọi con lên đọc bài . Con im lặng, thầy lại cho con zerô to tướng .

Nghiên Cứu Cào Cào

Một giáo sư côn trùng học nghiên cứu tâm sinh lý của loại cào cào . Ông bắt một con, để trên giấy và hô to :
- Cào cào, nhẩy .
Cào cào nhảy tung rồi lại rơi xuống tờ giấy . Ông bèn lấy kéo cắt hai cẳng cào cào, để lại trên giấy và hô to :
- Cào cào, nhảy .
Lần này cào cào đứng im, không nhảy, nó nhìn láo lơ . Nhà con trùng học lấy giấy bút ghi một cách thận trọng : " Khi ta cắt hai căng của cào cào, nó sẽ trở nên ... ĐIẾT !.

Sợ Điện Giật Lắm

Chú đưa thư mang đến một bức điện . Bé Phấn không dám cầm . Em lấy đũa gắp, thận trọng mang vào nhà đưa cho bố .
- Bố ơi . Điện của bố đây này .
Bố thấy vậy, vừa ngạc nhiên vừa buồn cười hỏi :
- Sao con lại phải lấy đũa gắp thế ?
Bé Phấn:
- Bố ơi ! Con sợ điện giật lắm . Bố cũng phải cẩn thận đấy .

Lúc Ầy Con Ở Đâu

Mẹ: - Ối, cái mũ mẹ mới mua cho con, con làm rơi ở đâu mà nhầu nát bẩn thỉu thế này ?
Con : - Dạ, bạn con lấy làm banh đá đó, mẹ .
Mẹ : - Thế lúc ấy con ở đâu mà để bạn lấy ?
Con : - Dạ, lúc ấy con đang ở ... hàng tiền đạo ạ .

Chữa Ủng Đi Mưa

Sau một trận mưa lớn, Vinh kéo lê đôi ủng của bố ra vũng nước nghịch . Dẫm nước đã khá lâu thì một chiếc ủng bị thủng lỗ, nước thấm ướt chân .
Vinh chợt nảy ra một ý : có lẽ cần phải chích thêm một cái lỗ nữa để nước có lối thoát ra ngoài . Lạ thay đã chích rồi mà nước lại vào trong ủng một lúc một nhiều thêm, khiến việc đi lại càng khó khăn hơn .
Vinh tức quá lẩm bẩm :
- Nếu vậy chỉ còn cách phải chích thêm vài cái lỗ nữa thì nước mới có thể thoát ra nhanh chóng được .

Chị Ầy Nói Sai

Ba có việc đi xa ở một tỉnh khác, đã lâu chưa về . Một buổi sáng, chị Hoàng Anh vui vẽ khoe với mẹ .
- Mẹ ơi, tối hôm qua, con nằm mơ, ba dẫn con đi xem vườn bách thú, thích lắm mẹ ạ .
Bé An cuống lên :
- Không phải . Chị nói dối nhé .
Mẹ ngạc nhiên hỏi :
- Vì sao con nói thế ?
Bé An liền kể :
- Hôm qua chính con nằm mờ đi với ba xem phim cả đêm, nào có đi vườn bách thú với chị Anh đâu mẹ .

Bố Hơn Con Một Lần

Bố mắng lý :
- Con càng lớn không chịu nghe lời bố mẹ gì cả . Tối đến không ôn bài lại cứ chạy sang chơi bên nhà cậu Vỹ . Bố sang đó chơi cờ, mười lần thì chín lần thấy con ở đấy .
Bố vừa nói xong, Lý đã reo lên vẻ đắc thắng :
- A hà . Hóa ra bố còn đi chơi nhiều hơn con một lần cơ đấy .

Ba Lần Bốn Là Mười Hai

Mẹ :
- Sao con luộc trứng lâu thế ?
- Mười hai phút cơ mà, mẹ ? - Con trả lời .
- Mẹ bảo con là trứng chỉ cần luộc 3 phút là chín thôi mà .
Con :
- Nhưng con luộc tới bốn quả trứng cơ mẹ ạ !

Giá Cả

Bà nội nói với cháu trai :
- Bà sẽ thưởng cho cháu trai hai nghìn đồng nếu cháu đừng nói cái chữ thô tục vừa nói ấy nữa .
Đứa cháu đáp :
- Vậy chữ đó cháu không dùng nữa, nhưng mỗi chữ tục khác thì cũng đáng giá hai ngìn đồng luôn đấy .100

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2006

Giấc Mơ Hoang Đường



   Có một giấc mơ cứ đeo bám cô suốt thời thiếu nữ. Trong đêm lập đông se lạnh, trên nền trời xám xanh trong suốt, một đốm sáng xa tít bay dần về phía cửa sổ cạnh giường cô.

Đốm sáng lớn dần trở thành vầng hào quang bao quanh người thanh niên tuấn tú quỳ trên tấm thảm bay, rồi đáp lại trên bậu cửa sổ. Người thanh niên bước xuống ngồi lên mép giường nhìn cô âu yếm, ánh mắt sâu hun hút khiến trái tim cô run rẩy, hạnh phúc căng tràn. Người ấy thì thầm giọng trầm ấm: Ta đến là để thuộc về em. Giấc mơ cứ lặp đi lặp lại mãi thôi thúc cô kiếm tìm ánh mắt ấy, giọng nói ấy.

Cô mở ngăn tủ anh dành riêng cho cô để những thứ thuộc về quá khứ. Cô lấy ra một cuốn nhật ký cũ sờn, giấy đã ngả màu ố vàng.

10-9-... Lớp tôi vừa nhận thêm một kẻ ngạo mạn. Nghe đâu hắn từ miền Trung chuyển vào theo cha. Để xem hắn học hành ra sao mà cứ bơ bơ nhìn người bằng nửa con mắt thế.

15-9-... Thật khó chịu, cô xếp hắn ngồi cạnh tôi. Hắn soi mói tôi từ đầu đến chân y như săm soi một căn phòng mới để quyết định nên đặt bàn ở đâu, ghế chỗ nào, giường ra sao. Rồi hắn ngồi xuống, để cặp ngăn đôi chiếc ghế. Tôi cúi gằm mặt xuống, tức nghẹn họng, cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm...

2-11-... Cả tháng nay tôi im như thóc, coi như không có hắn bên cạnh. Hắn vẫn giở những trò cũ, hết chuyện Cây gậy thần để tặng cho anh chàng cao nhất lớp nhưng thiếu bề ngang mà nói như tiên tri, lại đến chuyện Thầy bói mù tặng cho anh chàng thích đeo kính màu xám tro, lọ mọ lom khom như ông thầy bói.

Hôm nay hắn còn bày trò bỏ thư vào hộc bàn tôi. Tôi không đọc nhưng hắn nói nhỏ: Đọc đi, tớ muốn cậu hiểu rằng tớ nói thật, không chọc cậu đâu. Giọng hắn trầm ấm làm tôi thót tim nhưng ánh mắt không giống người thanh niên tôi hay gặp trong những giấc mơ. Ánh mắt hắn xa xăm như không của riêng ai, trong suốt như mắt trẻ thơ nhưng khi đã nhìn xoáy vào ai thì người ấy không thể nói dối được.

“Tớ muốn nói với cậu rằng đừng ảo tưởng về mình và đừng gây hy vọng cho người khác bằng cái vẻ thánh thiện ấy. Mẹ tớ đã từng là một người thánh thiện trước mắt cha con tớ và mọi người. Vậy mà mẹ đã bỏ tất cả đi theo tiếng gọi tình yêu. Trước khi đi mẹ khóc nói với tớ: Lớn lên con sẽ thông cảm cho mẹ. Tớ chẳng hiểu mình phải thông cảm thế nào khi nhìn cảnh ba tớ gầy rộc đi sau một tuần tự giam mình trong phòng trước khi quyết định cầm bút ký vào đơn ly hôn. Người mẹ mà tớ hằng yêu kính, người từng dạy dỗ tớ điều hay lẽ phải ở đời giờ đã ở bên kia chiến tuyến, tớ chọn sống với ba vì ba là người khốn khổ. Cậu có cái gì đó giống mẹ tớ nhưng lạ thay tớ không ghét cậu mà chỉ thấy tội nghiệp thôi”

Đọc xong tôi khóc, khóc vì thương hắn phải sống trong nghịch cảnh quá sớm nên già trước tuổi, khóc vì hắn so sánh tôi với mẹ hắn. Tôi chưa bao giờ làm khổ người khác, tôi cũng không đòi hỏi gì cho mình, tôi chỉ trông chờ một tình yêu dâng hiến, tôi thấy mình trong suốt như pha lê.

24-12-... Hắn rủ tôi lên thác chơi. Chẳng biết tự lúc nào chúng tôi đã là bạn tâm giao. Hắn bông đùa với bạn bè, thậm chí cả với thầy cô nhưng với tôi, hắn lại thủ thỉ chuyện trò rất ư tâm trạng. Bỏ cả giày dép, chúng tôi cẩn thận giẫm lên từng viên đá, cùng lội ngược dòng suối lên đầu nguồn, hắn hỏi tôi hiểu gì về cái tình yêu dâng hiến mà tôi đang đi tìm? Tôi kể cho hắn nghe giấc mơ của tôi và bảo tôi không hiểu nhưng tôi cảm nhận, thậm chí tin chắc là có một tình yêu như thế. Hắn mỉm cười, đặt ngay cho giấc mơ của tôi một cái tên dễ gây tự ái: “Giấc mơ hoang đường”. Tôi nguýt hắn một cái rõ dài. Hắn đưa một tay nắm tay tôi kéo lên dốc đá thẳng đứng, tay kia bám chặt vào một dây leo to vắt ngang vách đá. Tiếng suối chảy róc rách dịu êm dần được thay bằng tiếng thác ầm ào hung dữ. Chúng tôi đã leo lên đến đỉnh thác.

Hắn nhắc tôi: “Đá ở đây phủ rêu trơn lắm, giẫm lên thấy chắc chân rồi hãy bước qua hòn khác, hắn chỉ dòng nước chảy quanh những phiến đá chỗ chúng tôi đang đứng bảo: Xem kìa, nó thật hiền hòa êm ái, chỉ khi gặp nghịch cảnh nó mới hung dữ thôi. Thế cậu có biết cách biến “giấc mơ hoang đường” của cậu thành hiện thực không? Tôi bĩu môi: Làm như cậu biết. Hắn rỉ tai tôi vẻ bí mật: Cậu nắm tay người yêu thật chặt và lao vào dòng thác kia kìa, đừng buông ra nhé! Xuống đến dưới kia, hoặc hai người sẽ văng ra hai phía hoặc cậu sẽ nhận được tình yêu mà cậu đi tìm.

Hắn lại giễu tôi ấy mà. Tính hắn vẫn thế...

Cô gấp cuốn nhật ký lại. Thật bất ngờ! Hết lớp 12 hắn vào một dòng tu. Trước khi về Sài Gòn học, cô hỏi hắn: Sao cậu chọn con đường ấy? Hắn nghĩ ngợi: À, để thực hiện “giấc mơ hoang đường” của tớ thôi.

Từ giã cảnh cũ người xưa, cô hụt hẫng mất mấy tháng, rồi cuộc sống mới cũng đưa cô vào vòng xoay của nó. Bây giờ cô phải tự sắp xếp mọi thứ, tính toán chi tiêu trong khuôn khổ số tiền cha mẹ chu cấp. Cô có rất ít bạn, họ bảo cô ở trên núi có khác, lúc nào cũng chậm chạp, lặng lẽ. Cô cắm cúi học, học mãi, vài người ngỏ lời yêu nhưng họ mờ nhạt quá, không để lại một dấu ấn nào trong tâm hồn cô. Rồi 5 năm đại học cũng sắp kết thúc, một số bạn cùng lớp cô rục rịch chuẩn bị đám cưới. Họ thật đơn giản, quen nhau, cãi nhau, giận nhau, làm lành, chở nhau đi ăn, cùng đi làm thêm, cùng đếm tiền, để dành, cưa đôi, rồi cười đùa sung sướng, bây giờ lại đưa thiệp cưới. Cô không như vậy được, khi yêu cô phải dành những gì đẹp đẽ nhất cho người yêu, những gì thiệt thòi cô cất cho riêng mình.

Buổi lễ tốt nghiệp diễn ra long trọng. Ban giám hiệu mời những cựu sinh viên thành đạt về chia sẻ kinh nghiệm tìm việc và sống với nghề cho đàn em. Anh nói rất tự tin, anh bảo ngoài giỏi nghiệp vụ, các bạn còn phải biết tạo và giữ các mối quan hệ và nhất là không để cho sự chán nản xâm chiếm mình. Anh thật vững vàng, dù mới ra trường có 6 năm, đặc biệt là anh yêu cuộc sống đến kỳ lạ. Sau buổi lễ, tổ cô mời anh đi uống nước. Sau này khi lấy nhau rồi, anh bảo anh chú ý đến cô vì cô dè dặt, giản dị mà không dễ thỏa hiệp. Anh có một tật xấu là rất khó từ chối tình yêu nhưng khi đã ăn ở với nhau rồi thì anh không cưới.

Anh hăm hở lao vào công việc, tạo dựng các mối quan hệ đến quên cả bản thân mình. Anh chỉnh tề khi ra ngoài đường, còn những lúc ở bên cô, anh lại thoải mái tự nhiên từ ăn mặc đến lời nói, anh không che giấu những thói quen xấu. Đôi khi cô có cảm giác anh vô tư hồn nhiên như một đứa trẻ. Anh không bắt cô phải thế này thế nọ, cũng chưa hề than vãn vì bất cứ khó khăn nào nhưng sự chăm sóc tỉ mỉ của cô làm anh khó chịu. Anh không muốn trả lời cô những câu hỏi về giờ giấc, anh muốn cô hiểu anh tự biết sử dụng thời gian của mình sao cho hữu ích nhất. Anh cũng không muốn cô hỏi “tại sao” vì mỗi việc anh làm đều có lý lẽ của nó, cô đừng đặt ra bất cứ cái khung nào bắt anh chui vào. Sống với anh, cô buồn lắm, cô không tìm được một kẽ hở nào để đi vào thế giới của anh, cô thấy mình lạc lõng.

Cô về quê nghỉ ngơi một tuần, thời gian lắng lại giúp cô hiểu đúng hơn về hoàn cảnh của mình. Còn hắn đang làm luận văn thần học, chỉ được ra ngoài mỗi chiều thứ bảy. Gặp lại, cô ngạc nhiên khi thấy hắn vẫn trẻ trung, hóm hỉnh như ngày nào, chỉ khác là hắn, nghe nhiều hơn nói, còn cô đổi vai cho hắn nói nhiều hơn nghe. Sau khi nghe cô than thở chán chê về cuộc hôn nhân của mình, hắn tủm tỉm: Bây giờ mới đúng là cậu.

Cô trêu hắn:

- Cậu đi tu thật là phí. Nếu không, cậu sẽ là người chồng người cha tốt đấy.

Hắn nghiêm chỉnh:

- Này, tớ thấy cậu yêu anh ấy lắm, muốn giữ anh ấy, cậu phải biết anh ấy ước mơ gì và chịu khó đan xen vào cuộc sống của anh ấy.

- Sao lại phải chịu khó, tớ muốn mà anh ấy cứ đẩy tớ ra.

- Cậu muốn anh ấy làm theo ý cậu thì có, vì đan xen vào anh ấy, cậu phải hy sinh một phần cái tôi của mình, phải mở lòng ra đau lắm.

Cô trở về với gia đình và công việc hằng ngày, cô tập đan xen vào anh. Đau thật! Cô phải bỏ qua những tật xấu của anh bằng cách nghĩ nếu ngày mai anh biến mất khỏi đời cô thì sao, cô luôn sống như hôm nay là ngày cuối cùng có nhau, cố gắng không đòi hỏi gì cho mình. Một lần, cô mua cho anh bộ quần áo mới, cô muốn anh thử ngay xem có vừa không nhưng anh loay hoay trên mạng chưa muốn thử.

Cô vùng vằng:

- Không cần em thì anh lấy em làm gì, em muốn ly thân để xem lại mình có thật cần có nhau không. Em sẽ phát điên nếu cứ sống thế này mãi.

Anh thản nhiên:

- Thế em muốn gì? Em muốn dốc hết tình cảm cho anh để chứng tỏ tình yêu của em chứ gì?

- Như thế mới là yêu.

- Sai lầm rồi cô bé ạ. Em muốn cho hết những gì em có thì chỉ là sự lệ thuộc thôi, em đâu phải thánh mà không biết đòi hỏi, sợ rằng đến lúc em đòi lại anh không trả nổi. Em có biết anh cần gì không?

- Anh cần có một gia đình để khỏi khác mọi người.

- Không đúng, anh cần em biết sống cho mình một chút, để phát triển bản thân và để trưởng thành, anh không cần một cô bé lúc nào cũng xoay quanh những nhu cầu của anh mà cần một người vợ độc lập, hiểu, chia sẻ cuộc sống với anh.

Anh kéo cô vào lòng, hôn lên mắt cô thì thầm: Ngốc ạ, em phải là vợ anh, bảo mẫu của anh, bạn của anh nữa. Cô vòng tay quanh cổ anh âu yếm: Em chỉ thích làm vợ anh thôi. Anh bế thốc cô lên giường, dụi đầu vào ngực cô, anh chìm vào thế giới của cô dịu êm nồng nàn, anh cười mãn nguyện.

Những tia nắng ban mai xuyên qua khe cửa hắt lên gương mặt cô vốn không hồng hào, giờ càng xanh xao tiều tụy.

Cô mở to mắt ngắm nhìn khuôn hình chụp gia đình Tết năm ấy, anh đã phóng to và treo trang trọng trên bức tường phòng ngủ. Vậy mà chỉ cách nay mấy tháng, cô đã nhìn nó nước mắt lưng tròng vì nghĩ rằng không có chỗ cho cô trong cuộc đời anh. Cô tung chăn xua đi những ý nghĩ đen tối của quá khứ, mở rộng cửa sổ hít thở mùi hương ngọc lan cùng ánh nắng ấm áp đang ùa vào phòng. Cô sờ tay lên cái đầu còn đang lún phún tóc sau trận sốt thương hàn thập tử nhất sinh vừa qua và bất giác mỉm cười. Giấc mơ hoang đường đã thành sự thật.
151

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2006

Bà con chòm xóm



Một buổi chiều cuối năm, nằm tưởng nhớ lan man về làng quê, tôi mấy lần tự bắt gặp mình nghĩ tới chị Bốn Chìa Vôi. Hình ảnh chị xua đi lại trở về. “Ơ hay!” tôi ngạc nhiên về mình. “Vẫn chị Bốn! Thì chị Bốn. Xem chị có gì nào!”

Trong nhân cách chị có nhiều đặc điểm, nhưng đối với người làng điều thường được nêu lên như một tiêu biểu là chị không sợ thằn lằn rắn nước. Con người, đa số, vẫn đố kỵ loài bò sát; chị Bốn không đố kỵ. Chị biết khai thác đặc điểm của mình, khiến mọi người chú ý. Một nhóm bạn bè đang ngồi tán dóc, chị chạy tới mời ăn me. Đàn bà con gái nào lại không thích me? Mỗi người giành lấy một quả xong, chị Bốn rút từ trong bọc ra một gói nhỏ. Trời, sao mà chu đáo thế: lại có cả muối ớt nữa kìa. Vài bàn tay nóng nảy giật nhanh gói giấy, mở ra: con thằn lằn luống cuống nhảy hoảng vào lòng một chị nào đó. Cả bọn la như cắt cổ.

Chị Bốn Chìa Vôi có thể bắt nhốt vào túi áo một con rắn nước, lấy kim băng cài lại cẩn thận. Để rồi chỉ mở túi khi đã ngồi sát kề vài người bạn. Rắn vọt ra, kẻ nhanh nhất cũng không tránh kịp.

Người ta sợ những con vật hiền lành vô hại, sợ một cách vô lý. Chị Bốn không vô lý, thế là chị bị coi như nham nhở, lì lợm. Giá là “hôm nay”, chị được cho là rất chì. Chì thì không có gì tệ. Nhưng ở địa phương, hồi đó, người ta đánh giá thấp thái độ ấy. Có người bảo: Con đó ma vật không chết, thiên lôi đánh không chết v.v... Toàn thị là những nhận xét có tính cách thóa mạ. Trong chỗ địa phương, giàu có chẳng được mấy kẻ, hầu hết là dân nghèo với nhau. Từ lối xưng hô cho đến cách nhận xét nhau nghe có vẻ sỗ sàng mà thân mật. Xóm giềng với chị Bốn Chìa Vôi là anh Ba Càng Cua, chú Năm Cán Vá, anh hai Mỏ Gảy, cậu Ấm Sứt v.v... ai nấy đều thông cảm sự giễu cợt của bà con chòm xóm, không oán trách gì. Trường hợp đáng để ý là một người tên Hai Cư. Anh ta cũng lớn lên trong cảnh nhà nghèo khổ, không có tham vọng. Bỗng có người tuổi tác tốt bụng mách cho biết nội tổ của anh ta từng có quan tước, nếu chịu mất hai đồng bạc cho làng, anh có thể làm đơn xin tập ấm để được miễn sai. Anh nghe theo, anh được chỉ vẽ, giúp đỡ, cuối cùng được thành một ấm tôn. Anh mở tiệc khao làng và họ hàng thân thuộc. Ngay trong tiệc vui ấy anh đã nghe loáng thoáng cái tiếng “ấm sứt”. Anh lặng người đi một lát. Rồi anh bâng khuâng, trầm ngâm, như một người bắt đầu chịu trở nên chín chắn, từ bỏ những ngông nghênh rồ dại nhất thời để trở về với những cái thiết thực. Rốt cuộc, anh nhếch miệng cười nhẫn nại, chấp nhận. Tiếng “ấm sứt” phổ biến nhanh chóng. Dân làng mừng rỡ, không ganh tị tí nào đối với chút quyền lợi anh được hưởng, nhưng còn sự danh giá thì họ đã bảo toạc ngay cho anh biết là không có đâu.

Chị Bốn ngày nhỏ tên là Bình. Nhưng càng lớn chị càng toe toét, nói bậy nói bạ, bừa bãi lung tung; cho nên bị coi không xứng là miệng Bình, dù là bình vôi. Do đó, bèn đặt tên là Chìa Vôi.

Kể ra đặt như thế cũng bừa bãi, chẳng có ý nghĩa gì. Tôi thuật lại bấy nhiêu điều là để chứng tỏ ở đây người ta sống gần gũi, cởi mở. Cho đến cái tên của nhau ai nấy cũng tha hồ bôi bác lên đấy tùy thích, cái tên riêng của cá nhân không còn thuộc về cá nhân mà là kết quả những ý kiến tập thể. Sự can thiệp ngang nhiên, không e dè nể nang gì cả. Thoạt đầu, có người bất bình chút ít, rồi đâu lại vào đó.

Chị Bốn nham nhở đến nỗi mang tên là Bốn Chìa Vôi, lại còn bị rủa là thiên lôi đập ba búa không chết. Không sợ loài bò sát, đó chỉ là tính tiêu biểu, thật ra chị còn lắm điều ngổ ngáo khác. Chẳng hạn nói tục. Các nhà nghiên cứu chuyện tiếu lâm đồng ý rằng đề tài trào lộng chính của dân quê ngày xưa là cái tục. Có những vị còn đi xa hơn, cho rằng như thế không phải vì dân lao động nghèo khổ ham thích cái tục hơn hạng nho sĩ trí thức; họ nói tục chính vì óc tranh đấu bài phong tức là vì một lý tưởng cao đẹp. Hạng giàu có nho sĩ sống trong lễ giáo giả dối, tránh chuyện tục tĩu; kẻ vô sản đầy tinh thần cách mạng bèn xổ tục ra, có ý tỏ sự chống đối, khinh khi, khiêu khích, có ý muốn quăng những cái tục ấy vào mặt bọn giàu sang trí thức.

Tôi không có dịp trông thấy chị Bốn Chìa Vôi quăng cái tục vào từng lớp thống trị. Chỉ thấy chị thường nói trong lúc chuyện trò, làm lụng. Giữa đồng nước lênh láng tiết tháng mười, chị vừa cấy mạ vừa kể chuyện. Xung quanh chị, đàn bà con gái thỉnh thoảng nhao nhao, kêu oai oái, kêu lóe chóe, kêu ầm lên, như không chịu nổi. Thế nhưng họ chịu được tất. Hơn nữa, ai nấy đều hau háu đối với chuyện của chị Bốn Chìa Vôi. Họ tranh nhau nghe, họ kêu, rồi họ cười ngắc nghẻo, họ oằn người, gập người lại mà cười.

Nhìn cảnh tượng những người lao động nói cười ầm ĩ như thế giữa công việc, giữa trời nước bao la, dễ có cảm tưởng họ sung sướng vui vẻ, họ đang dự vào một sinh hoạt lành mạnh, làm sảng khoái tinh thần. Thú thực, chưa có lần nào trước cảnh ấy tôi có ý nghĩ chị Bốn Chìa Vôi đang đầu độc trí óc bạn bè. Có lẽ những câu chuyện tiếu lâm đã thành hình trong dân gian theo kiểu ấy. Có điều các khảo cứu không hay chú ý tới nỗi khổ tâm, hy sinh, của người sáng tác. Tôi được biết có lần chị Bốn Chìa Vôi bị chồng đánh một trận tơi bời, vì trong lúc cao hứng, hăng say, chị đã mang cả chuyện riêng trong buồng the ra làm trò cười.

Xưa, tôi cũng lây cái thành kiến của người làng mà coi nhẹ chị Bốn, mặc dù đối với tôi chị Bốn Chìa Vôi bao giờ cũng tốt. Ngày nay, tưởng nhớ đến chị trong niềm hối hận chân thành, tôi chỉ muốn đem tất cả sự hiểu biết lõm bõm của mình mà tìm ra một ý nghĩa cách mạng trong thái độ của chị. Bèn nghĩ rằng cái tục là cái cấm kỵ (tabou) trong cuộc sống xã hội loài người với nhau, bò sát là một cấm kỵ khác; thiên hạ tránh né những cấm kỵ ấy, chị Bốn ngang nhiên bất chấp, ấy không phải là chống đối, phản kháng, là hành vi “nổi loạn” sao? Những kẻ văn nhược nho nhã chúa sợ rắn, sợ thạch sùng, sợ các tiếng tục tĩu, những kẻ ấy đớn hèn đã đành. Còn trong hạng lao động khả kính, đầu làng cuối xóm thiếu chi người, tại sao ý thức nổi loạn lại cứ nhất định nhóm lên từ đầu óc một người nghèo rớt mùng tơi, nhà dột cột xiêu, từ một chị đàn bà lôi thôi lếch thếch, vú bõ lòng thòng? Đó chẳng phải là điểm vinh dự riêng cho chị Bốn sao?


Cái tốt đặc biệt của chị Bốn tôi không quên được là chị thường cho chim. Chị là người đàn bà độc nhất trong vùng có thể bắt được chim. Bởi vì chim chóc không phải như con cua, con ốc, con chí, con rận. Phải lanh lẹ, ph%E
1156

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2006

4 Con Chó



Khi tôi chưa sinh ra, nội đã đưa Nhưng Thẩm về nhà. "Nhưng" là đẳng cấp cao do vua ban cho nghệ sĩ nhà hát tuồng cung đình. Khi Quản ca, viên chức quản lý ban hát, sửa đổi nội dung kịch bản cổ với mục đích nịnh vua, Nhưng Thẩm quyết định uống dầu lạc nóng trong bát đèn sau một đêm thức trắng để không phải hát điều xằng bậy. Thanh quản hủy hoại, Nhưng Thẩm bị đuổi khỏi nhà hát tuồng cung đình như một phế nhân, lang thang kiếm ăn ngoài chợ. Nội thời trẻ thường rước đào hát về nhà tổ chức cuộc vui. Với Nhưng Thẩm thì khác. Rước về nuôi dưỡng vì nghĩa khí giang hồ.

Khi tôi bắt đầu hiểu biết đôi chút, nội đã qua đời, nhưng Nhưng Thẩm vẫn còn sống. Tất nhiên ba tôi không thể yêu quý ông lão bằng nội. Nhưng Thẩm chẳng thiếu cái ăn cái mặc nhưng cứ buồn như lá héo. Chỉ còn mình tôi thỉnh thoảng bắt chuyện vì ông lão là một kho chuyện ly kỳ. Năm tôi rời Huế đi học tận Sài Gòn, Nhưng Thẩm càng buồn. Tôi xin con chó nhỏ đem về cho lão có bầu có bạn. Lão đặt tên Vá, theo ngoại hình của nó.

Không dè tôi đã hại lão.

Gần một năm sau tôi nhận được thư ba tôi báo tin Nhưng Thẩm đột ngột qua đời. Chiều chiều ông lão thường ra nhà hóng mát ở vườn sau. Nhà này kiến trúc mái hình lục giác và chỉ có một cột. Lão thích nhâm nhi chén rượu ngang, ngắm mặt trời lặn trên sông Hương ở đấy. Con Vá thường bị chủ xích vào cột, nằm nghịch mẩu xương thừ. Nó lớn lúc nào không hay. Một ngày tháng bảy âm năm ấy, con Vá động cỡn, bỗng quên chủ, quên khúc xương, quên sợi xích, vụt lao theo mùi hương con chó cái vật vờ bên kia hàng rào chè tàu. Cây cột gãy, mái lục giác sụp đổ, chôn luôn lão Nhưng Thẩm xấu số trong đống đổ nát.

Cuối thư, ba tôi viết một câu, dường như cho chính tình cảnh sa sút của gia đình tôi bấy giờ: Con biết không, cây cột hai người ôm sơn son thếp vàng ấy hóa ra mục ruỗng từ lâu lắm rồi...

Hồi nhỏ, tôi được nghe Nhưng Thẩm kể nhiều chuyện ly kỳ mà mãi sau mới hiểu thấu ý nghĩa. Dưới đây là một trong số chuyện như thế.




CÁI CHẾT CON CHÓ HOANG

Sử quan dường như thức trắng đêm. Dù vậy, trông ông không có vẻ gì mệt mỏi khi đón ngày mới. Trái lại, nỗi phấn khích còn lộ trên đôi mắt tươi vui của ông. Đêm qua ông đã phóng bút chép nốt một thiên quan trọng trong bộ thông sử. Mọi việc hầu như trôi chảy. Riêng trường hợp quan tướng quốc triều trước là có phần khó xử. Trong số tài liệu gồm nhiều nguồn, nhiều loại liên quan hành trạng quan tướng quốc có những điểm khác nhau. Khổ nỗi, mức độ khác nhau không chỉ ở tình tiết mà lại quyết định cả cách đánh giá một nhân vật lịch sử quan trọng. Các bài hát dân gian và truyện truyền kỳ xem tướng quốc như một kẻ gian hùng. Trong khi văn sách của triều trước ca ngợi ông như một bậc anh hùng. Cuối cùng, sử quan đã chọn cách đánh giá của những đồng nghiệp tiền bối. Vả lại bộ thông sử cần hoàn tất trước lễ đại khánh. Điều đó hẳn sẽ làm hoàng thượng vui lòng.

Dùng xong bát cháo gà nóng sốt, sử quan sai người hầu bày bàn trà trước hàng hiên. Ông muốn hưởng không khí thanh sạch ban mai, được thư giãn đôi chút trước khi nhập triều. Từ đây, ông có thể đưa mắt ngắm vườn hoa trong dinh phủ, nhìn ra con đường cái chạy dọc tường vi, trông xa tận những ngọn đồi thông xanh mát phía đông kinh thành.

Buổi sáng yên tĩnh của sử quan chấm dứt đột ngột. Có tiếng reo hò từ phía Văn miếu vọng lại, mỗi lúc một gần. Lát sau đã nghe rõ tiếng chân nhiều người rầm rập trên đường cái. Ông chưa đoán được việc gì đang xảy ra đã trông thấy cảnh náo nhiệt bên ngoài tường vi dinh phủ. Đặt chén trà uống dở xuống bàn trà, ông đứng lên để trông cho rõ hơn. Một tốp người cầm gậy gộc đuổi theo một con chó. Họ vừa đánh vừa quát ầm ĩ: “Chó dại! Đánh chết nó đi!”...Con chó và tốp người kia vụt khuất sau mành lá rậm của rặng liễu. Tiếng kêu ăng ẳng đau đớn tuyệt vọng của con vật, tiếng gào thét đến man rợ của con người, tiếng gậy gộc giáng xuống mặt đường lát đá, xuống thân con chó dội vào tai sử quan. Lát sau, đám đông hiếu kỳ cùng những người đánh chó tản ra với những gương mặt hể hả pha lẫn hoảng sợ. Con chó đã chết.

Chuyện vặt ngoài đường chẳng đọng lại lâu trong tâm trí sử quan. Ông đang bận bịu với những điều to tát hơn nhiều...

Tối hôm ấy, trong bữa yến thưởng trăng tại Vọng nguyệt lâu vườn thượng uyển, hoàng thượng đích thân thù tiếp các quan cận thần. Trong khi chờ hoàng thượng giá lâm, các quan tán chuyện rôm rả. Tình cờ, cái chết con chó ban sáng trở thành đề tài lôi cuốn mọi người. Viên sử quan dửng dưng, không buồn bắt chuyện. Nhưng các mẩu đối thoại cứ lọt vào tai ông.

Thượng thư bộ lễ chép miệng:

"Hình như là chó dại..."

Đông các điện đại học sĩ không bằng lòng cách nói mơ hồ ấy của đồng liêu:

"Còn hình như gì nữa? Con chó hoang này dại thật rồi. Chính mắt tôi trông thấy lưỡi nó thè ra cả tấc, nước bọt nhễu trắng mõm."

Tả thừa tướng lên tiếng:

"Sao lại chó hoang, phải có chủ chứ? Các ông có thấy bộ lông nó mượt thế nào chưa?"

Tiền thị vệ giọng xởi lởi:
"Bẩm phải, tôi cũng nghĩ vậy."

Hàn lâm cung phụng gật gù tiếp lời:

"Chính mắt tôi trông thấy vòng da đeo trên cổ nó..."

Bỗng ai đó đặt câu hỏi ngớ ngẩn:

"Kẻ nào là chủ con chó he?"

Không quan cận thần nào biết được. Vọng nguyệt lâu lặng đi chốc lát.

Sử quan trầm ngâm nhìn ánh trăng rằm lung linh tự hỏi: "Có phải bộ lông con chó óng mượt? Có phải cổ nó có đeo vòng da?...". Sáng nay đã thấy nó chạy ngoài tường vi dinh phủ. Thế mà bây giờ mình không dám chắc một điều gì cả. Kể cũng buồn cười thật!"

Hoàng thượng vẫn chưa giá lâm. Câu chuyện phiếm lại tiếp tucï, có phần sôi nổi hơn. Các quan lớn đang bàn cãi về cái chết của con chó.

Đông các điện đại học sĩ:

"Nó đã cắn nhiều người, đánh chết thế là hay."

Thượng thư bộ binh:

"Đánh là thế nào? Không đuổi kịp, bọn lính giản đã bắn mất phát tên mới giết được nó đấy chứ."

Tiền thị vệ vẫn giọng xởi lởi:

"Bẩm phải. Tôi biết trong đội lính giản có nhiều cung thủ tài ba."
Hữu thừa tướng gạt đi:

"Toàn lời đồn huyễn. Không có cung tên nào hết. Con chó chỉ bị đánh bằng gậy thôi!"

Vọng nguyệt lâu như sôi lên. Các quan cận thần chia làm hai phe, tranh cãi ầm ĩ, không ai chịu ai.

Tả thừa tướng phân giải:

"Các ông đều đúng cả. Lính giản b119

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2006

Tiếng Đờn Trong Những Đêm Trăng



     A, gã đây rồi! Gã xuất hiện từ bờ bên kia và lò dò tiến về bờ bên này. Gã lại vòi rượu đây. Này, mi một ly, ta một ly, cạn! Dưới mẩu trăng cuối tháng còm nhom, lão ngồi chén tạc chén thù. Lão rót rượu ra hai cái ly, rót đầy tràn cả ra ngoài. Rồi lão mời bạn, cụng ly, rồi cạn. Uống hết ly của mình, lão cạn luôn phần của bạn. Khi chai rượu đã gần cạn, vừa lúc trăng trên mặt sông đã đến gần bên lão, lão mang đờn ra. Và kéo.

Tiếng đờn cò ai oán trong đêm, len lỏi qua từng giọt sương oằn mình trên ngọn cỏ. Những giọt âm thanh thấm vào đêm như hòa mình vào một thế giới tưởng chừng quen thuộc lắm. Tiếng đờn bên sông chỉ heo hút thổi vào gió không đủ làm ai tỉnh giấc, kể cả những người khó ngủ nhất. Vă trăng cũng yếu ớt như tiếng đờn không đủ chia ánh sáng cho mấy nóc nhà xa xa...

Người làng gọi lão là lão Gàn. Mà lão gàn thật. Lão sống một mình trong túp lều bên sông cuối làng, không họ hàng, không vợ con. Suốt ngày lừa mấy con vịt còm, đêm đến một mình ngồi uống rượu kéo đờn cò. Ngoài chăn vịt lão còn có một cái nghề mà chỉ mới nghe nhắc đến, nhiều người đã nổi da gà: nghề bốc mả. Lão chuyên đi bốc mả, hốt cốt cho người trong làng, chỉ người làng này thôi. Những cái mả mấy chục năm trời lưu lạc, nay con cháu muốn đem về nằm cạnh nhau; những cái mả không ai thừa nhận cần chuyển đi nơi khác, những cái mả dưới đáy ao... tất cả đều nhờ vào tay lão. Mỗi khi cần bốc mả người làng lại tìm đến lão. Lão có cách làm việc thật lạ lùng, chẳng cần bao bọc che chắn gì sấc, chỉ cần hai xị, đúng hai xị thôi là lão tiến hành công việc ngay tức khắc. Lão làm việc rất tỉ mỉ, lượm từng mẩu xương lau chùi, thổi rửa, thật sạch mới xếp lên tấm vải, rồi tự tay gói cẩn thận đặt vào chiếc hòm con. Lão không lấy tiền công ai bao giờ, chỉ nhận rượu cúng, còn bánh trái chia cho tụi con nít hết. Mỗi lần như thế, lũ trẻ mừng lắm, dù người lớn vẫn hay đe: nếu ăn đồ cúng mả thì sẽ bị ma bắt.

Sau mỗi lần bốc mả lão lại dầm mình trong rượu và lại kéo lên những âm thanh não nùng giữa đêm trăng cuối tháng vàng bệch như màu da người bị bệnh gan gần chết...

* * *

Vào một đêm cuối tháng, trăng nhợt nhạt như lòng đỏ trứng gà ung, trước ngõ nhà hội đồng Hào vang lên tiếng khóc khe khẽ của trẻ con. Hội đồng sai mụ Nhót ra xem. Thấy mụ đàn bà cà thọt ẵm một đứa bé vào, lão quát cho một hồi, nhưng sau nghĩ lại cứ để mụ ấy nuôi đứa bé, biết đâu sau này lại được việc.

Thế là thằng bé lớn lên trong sự chăm bẵm của mụ Nhót. Cũng như mọi đứa trẻ bị bỏ rơi khác, nó dễ nuôi đến lạ lùng, cho gì ăn nấy, chẳng bệnh hoạn gì, té không khóc, chân giẫm phải mảnh chai gai sắt, lấy bùn trét vào là khỏi.

Năm đứa trẻ lên mười, người đàn bà tội nghiệp ấy ra đi sau một lần bị rắn độc cắn. Kể từ đó, nó chính thức trở thành một đứa ở trong nhà hội đồng. Và đúng như lão hội đồng dự đoán mười năm trước, nó rất được việc. Nó chăm như con kiến, hiền như cục đất, bảo thì làm, hỏi mới nói.

Hai mươi năm sau, đứa trẻ bị bỏ rơi trước nhà hội đồng Hào bây giờ đã là một chàng trai cường tráng, gánh vác hết mọi công việc nặng nhọc trong nhà.

Hội đồng Hào có ba cô con gái, hai cô chị đã yên bề gia thất, riêng cô út thì tính lẳng lơ, đến hăm lăm mà vẫn chưa chồng. Một đêm trăng treo xếch ngược qua cửa sổ phòng khách, lão hội đồng cho gọi thằng ở lên. Từng lời đường mật lần đầu tiên trong đời chảy vào tai con người côi cút ấy. Tao gả cô út cho mầy, coi như mầy đã trả ơn cho tao, tao còn cho mầy mảnh đất sau đồi, mai mốt sẽ cho tụi thợ xây nhà ở đó.

Anh tá điền đứng đực người ra. Bây giờ anh mới hiểu tại sao mấy hôm nay cô út thường ra cây khế phía sau vườn hái quả nhai ngấu nghiến, còn ông hội đồng thì lúc nào cũng vò đầu bứt tai tức tối. Anh chợt hiểu ra hoàn cảnh của mình lúc này. Anh không có quyền lựa chọn.

Rồi căn nhà sau đồi cũng được dựng lên. Và một bé gái ra đời. Anh rất thương con, chăm chút từng li từng tí. Đêm nào đi soi, anh cũng bắt vài con ếch nấu cháo cho nó.

Thỉnh thoảng trong cuộc nhậu có kẻ khịa khích, anh chỉ cười trừ ''Trâu ai nghé mình''. Những người hàng xóm luôn ái ngại cho anh. Họ thương anh vì cô út từ ngày lấy chồng vẫn không thay đổi tính nết. Mỗi lần nghe hàng xóm kể chuyện, anh chỉ cười buồn rồi bỏ đi.

Năm con bé tròn năm tuổi, cái nghề anh không hề mong đợi nhưng tất phải đến cũng đã đến. Đêm ấy là một đêm cuối tháng, trăng vàng chạch lả bả trên sông, đi mỏi cẳng mà chẳng kiếm được con cua con cá nào, anh quay về giữa chừng. Vừa đẩy cửa vào nhà đập ngay vào mắt anh là một cảnh tượng tồi tệ. Anh với cái rựa dựng ở góc nhà. Một tiếng tru ai oán vang lên giữa đêm khuya...

Mọi người sẽ tưởng anh chết già trong tù, nhưng không, anh đã trở về sau hai mươi năm chăm chỉ lao động cải tạo, nhờ có thành tích vạch trần một âm mưu vượt ngục, anh được đặc xá. Trở về với cây đờn cò và ngón đờn do một người bạn tù xấu số truyền lại trước khi ra đi, anh không còn chốn dung thân. Hàng xóm kể, đứa con gái mà anh yêu thương, cất công chăm bẵm đã bán đất, bán nhà theo một tay anh chị ra nước ngoài mấy năm rồi.

Rồi vào một đêm cuối tháng, có một người lặng lẽ bơi qua sông dựng một túp lều nhỏ cuối xóm. Và cũng từ đó, người ta bắt đầu nghe những tiếng đờn thê thiết trong những đêm trăng.

Những người già trong làng thỉnh thoảng kể cho lũ cháu nghe về cái ngày mà lão từ bờ bên kia bơi sang bờ bên này. Ngày đó đã xa lắm rồi, ít người nhớ đến. Họ cũng không quan tâm lắm đến một con người mà nếu không có người ấy vẫn không ảnh hưởng đến cuộc sống của ai. Lão nuôi bầy vịt còm, câu cá, bắt cua sống qua ngày, đi bốc mả kiếm rượu uống đêm đêm, không nhờ vả ai, không nợ nần ai. Dần dần người ta cũng quen với những tiếng đờn cò ảo não trong những đêm trăng cuối tháng...

***

Có người từ ''bên kia'' về thăm nhà. Người nhà xôn xao chuyện con gái lão gởi cho lão mấy ''vé". Hôm người ấy đem tiền đến cho lão, lão cười nói luôn. Chưa bao giờ dân làng thấy lão nói nhiều như vậy. Lão mua bánh kẹo cho tụi trẻ con và mua rất nhiều rượu. Đêm hôm ấy lão lại ngồi uống rượu một mình với trăng. Đến nửa đêm lão lại lấy cây đờn ra và kéo. Những giọt đờn run bần bật giữa hơi sương giá lạnh...

Hôm sau và sau nhiều hôm nữa, bên sông không còn bóng dáng túp lều đâu nữa. Có người quả quyết lão đã ôm tiền đi xứ khác mà hưởng vinh hoa phú quý. Có người thì khẳng định lão lấy tiền đốt lều của mình rồi nhảy xuống sông mà chết, sau trôi ra biển nên không thấy xác... có người nói như đinh đóng cột rằng mình vẫn nghe tiếng đờn thảm thiết trong những đêm trăng tàn... *
182

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2006

Án Mạng Ðêm Cuối Năm



Luật sư Mayher chăm chú quan sát chàng trai ngồi trước mặt ông, con người bị buộc tội giết người có dự mưu.

- Voler, tôi thiết nghĩ, anh nên thành thật khai báo, tôi mới có thể bào chữa cho anh được.

- Biết nói thế nào nhỉ. Tôi không thể bị buộc một tội mà tôi không hề làm. Tôi vô tội, tôi vô tội. Ông phải hiểu điều đó.

- Vâng. Tôi đang cố gắng lo cho anh được tự dọ Nhưng mọi bằng cớ đều chống lại anh. Không phải cứ la lên là mình sẽ vô tội.

- Tôi xin thề trước Thượng đế là tôi bị nghi oan. Tôi đã rơi vào một cái lưới không thể thoát ra được.

- Anh đừng thề mà hãy nói rõ cho tôi nghe, anh quen bà Fren trong trường hợp nào?

- Hôm đó, bà Fren suýt bị xe buýt tông, nên hoảng hồn đánh rơi đồ đạc tung toé ra đường. Tôi có mặt ở đó nên đã nhặt giùm cho bà ấy. Sau đó, tôi gặp lại bà trong một bữa tiệc tại nhà người bạn. Bà nhận ra tôi, nói chuyện với tôi rất thân mật, và khi ra về, bà yêu cầu tôi ghé thăm bà. Bạn tôi nói bà là một cô gái già rất giàu có, sống một mình với chị người làm và tám con mèo.

- Anh đang túng thiếu, lại làm quen với một bà già giàu sụ và cố tình kéo dài sự liên hệ thân mật. Nếu chúng ta chứng tỏ rằng anh không hề biết bà Fren giàu và anh chỉ đến thăm vì xã giao...

Mặt Voler tái đi:

- Havey, bạn tôi đã nói vụ bà Fren giàu trước mặt tôi và rất nhiều người, một vài người còn chế giễu tôi là chuột sa hũ nếp nữa chứ.

- Như vậy thì tôi phải giải thích sao khi một người trẻ tuổi đẹp trai như anh lại mất thì giờ cho một bà đã luống tuổi có tính khí khác thường.

- Thú thật với ông, sau lần viếng thăm đầu tiên, bà đã khẩn khoản mời tôi đến nữa. Bà than rằng bà cô đơn quá, nên xem tôi như con. Bà tử tế, nuông chiều tôi, do đó, tôi thực sự cảm mến bà như một người mẹ.

- Đến lúc nào thì bà ấy yêu cầu anh trông nom sổ sách cho bà?

- Sau bốn, năm lần viếng thăm. Bà ấy tính toán kém trong việc hùn hạp làm ăn.

- Vậy mà chị hầu phòng Jannette quả quyết rằng bà chủ của chị rất thạo việc. Đấy cũng là ý kiến của các ngân hàng có tài khoản của bà ấy.

- Họ nói sao ấy chứ trước mặt tôi, bà ấy tỏ ra rất vụng về.

Luật sư Mayher nhìn Voler. Ông tin vào sự vô tội của chàng thanh niên. Voler đã nói thật. Tâm lý các cô gái già là thường giả bộ ngây thơ để nhận ở những người đàn ông sự giúp đỡ. Và Voler đã đáp ứng được điều đó. Tằng hắng, ông hỏi:

- Có bao giờ anh lợi dụng lòng tin của Fren để kiếm lợi riêng cho anh không? Tôi sẽ có hai cách để bào chữa. Nếu trung thực, anh sẽ không cần nhúng tay vào máu để kiếm được món tiền mà anh có thể kiếm được một cách lương thiện. Bằng ngược lại, anh có những thủ đoạn mà bên công tố biết và sẽ đưa ra. Khi đó, tôi sẽ bảo rằng anh chẳng dài gì mà giết con gà đẻ trứng vàng ấy cả.

- Cảm ơn lòng tốt của ông. Tôi lúc nào cũng ngay thẳng khi làm việc với bà ấy. Nếu người ta cho rằng, tôi lợi dụng vật chất nơi bà ấy, thì cái chết của bà chỉ thiệt hại cho tôi thôi.

Luật sư Mayher nhìn thẳng vào mắt Voler:

- Anh có biết là bà Fren đã lập di chúc để một phần lớn tài sản cho anh không?

Voler nhỏm dậy như bị điện giật"

- Ông nói sao? Bà ấy để của cho tôi à? Vô lý.

Giọng luật sư vẫn điềm tĩnh:

- Anh không biết việc này thật à?

- Ồ, tôi hoàn toàn không biết gì cả.

- Vậy mà cô Jannette lại quả quyết là anh biết cơ đấy. Chính bà Fren đã tiết lộ với cô ta về chuyện này.

- Jannette ghét tôi nên bịa đặt đấy. Ông phải tin lời tôi.

- Anh đã đến nhà bà Fren vài buổi tối, chỉ có mình bà, và sáng hôm sau bà bị giết ở phòng khách. Quả thật tối hôm đó, lúc 9 giờ rưỡi, Jannette có ghé nhà bằng cửa sau để lấy một vài món lặt vặt ở phòng riêng rồi đi ngaỵ Cô ấy khai là có nghe thấy tiếng nói chuyện giữa bà chủ và một người đàn ông từ phòng khách.

Voler đứng phắt dậy:

- Vậy là tôi thoát nạn rồi. Vào lúc chín rưỡi, tôi đã về tới nhà. Vợ tôi có thể chứng minh cho tôi. Cảm ơn Thượng đế xui khiến Jannette ghé về đúng lúc.

Nét mặt luật sư vẫn không bớt đăm chiêu:

- Vậy theo ý anh, ai đã giết bà Fren?

- Một tên cướp. Y đã dùng thanh sắt đập vào đầu bà Fren. Một cánh cửa sổ bị phá vỡ, một số đồ vật bị lấy đi. Nếu không có sự nghi ngờ vô lý của Jannette và ác cảm của cô ta đối với tôi...

- Sự việc không đơn giản như vậy đâu. Anh nói anh về nhà lúc chín rưỡi, vậy mà Jannette lại nghe tiếng đàn ông nói chuyện với bà chủ trong phòng khách. Không lý bà ấy đi nói chuyện bình thường với một tên cướp?

- Dù sao đi nữa, người đó cũng không phải là tôi. Tôi đã có mặt tại nhà lúc chín rưỡi. Xin ông hãy đến gặp Romen, vợ tôi sẽ xác nhận lời khai của tôi.

- Bà Fren biết anh có vợ không?

- Dĩ nhiên là có.

- Jannette đã khai là chưa bao giờ anh đem vợ đến thăm bà Fren, cho nên bà ấy tưởng anh độc thân và có ý định sẽ lập gia đình với anh.

- Vô lý, bà ta quá già.

- Chuyện đó không thành vấn đề.

Voler đỏ mặt:

- Đó chỉ là sự tưởng tượng của Jannettẹ Tôi van ông, hãy đến gặp vợ tôi.

Romen, vợ Voler là một phụ nữ cao lớn, tiều tụy. Bà tiếp luật sư Mayher với vẻ hững hờ. Trông bà bình tĩnh đến lạnh lùng, điều này đã làm cho luật sư e ngại. Dù muốn dù không, ông cũng phải trình bày mọi việc cho người đàn bà ấy nghe. Im lặng một lát, Romen cất giọng đanh thép:

- Voler muốn tôi xác nhận là tối hôm đó, hắn trở về nhà lúc 9 giờ 20 phút chứ gì. Đừng hòng. Tôi không bao giờ đồng lõa với kẻ sát nhân đâu. Ông hãy nghe cho rõ đây, tôi xác nhận là Voler đã biết Fren có để lại gia tài cho hắn nên hắn đã giết mụ già để sớm được vinh thân. Tối hôm đó hắn trở về lúc 10 giờ hai mươi, trên áo đầy máu. Hắn thú nhận tất cả với tôi. Tôi sẽ là nhân chứng buộc tội hắn.

- Chị không thể làm chứng chống lại chồng.

- Hắn không phải là chồng tôi mà là một người đàn ông tồi tệ. Tôi căm thù hắn. Tôi muốn trông thấy hắn bị treo cổ.

- Tôi sẽ đến gặp chị sau khi liên hệ với Voler.

Romen bĩu môi:

- Ông tin là hắn vô tội ư? Thật đáng thương!

Trước ngày tòa xử, luật sư Mayher nhận được một lá thư, nét chữ nguệch ngoạc: "Nếu ông muốn vạch mặt mụ đàn bà đã hại chồng mình như thế nào, mời ông mang theo 2.000 đô la, đến địa chỉ X... vào lúc 19 giờ, hỏi bà Motion".

Khó khăn lắm, luật sư Mayher mới tìm thấy địa chỉ căn nhà. Đó là một túp lều ổ chuột nằm trong một con hẻm lầy lội, dơ dáy. Một mụ già lưng còng đợi ông sau cánh cửa:

- Chào anh chàng luật sự Vào đây, vào đây.

Ngọn đèn trên trần tỏa ánh sáng lờ mờ. Luật sư Mayher giật mình khi thấy gương mặt mụ già đầy những vết sần sùi đỏ hỏn. Mụ cất tiếng the thé:

- Axit đấy, anh bạn trẻ ạ. Tôi sẽ trả thù, trả thù.

- Thôi đi, bà hãy vào vấn đề nhanh lên.

Bàn tay gầy đét với những ngón cáu bẩn đưa ra:

- Thế tiền đâu? Phải đủ hai ngàn đấy nhé.

- Nếu bà biết điều gì đó, bà có bổn phận ra tòa làm chứng.

- Không. Tôi chả biết quái gì cả, nhưng tôi có thể cho anh một vài thứ rất haỵ Anh có thích đọc một lá thư của mụ Romen không? Rất cần thiết cho anh đấy. Đưa tiền đây.

- Tôi chỉ có một ngàn thôi. Nếu bà không chịu tôi xin kiếu.

- Quỷ tha ma bắt anh đi. Nào, bốc xỉa ngay.

Mụ già rút dưới tấm nệm rách ra một xấp bì thư, ném trước mặt Mayher:

- Chắc chắn anh sẽ khoái lá thư trên cùng.

Tất cả đều là những bức thư tình, do Romen viết gửi cho một người tên Mac. Lá thư cuối cùng viết đúng ngày Voler bị bắt: "Mac yêu quý, Voler vừa bị bắt vì tình nghi giết người. Em biết, Voler là một tên hiền như bụt, không hại đến một con ruồi. Nhưng em sẽ khai trước tòa là hắn trở về nhà với máu me đầy mình và đã thú nhận tội lỗi với em. Hắn sẽ bị treo cổ và chúng ta sẽ có nhau... ".

Mụ già nói thêm:

- Mac là chồng tôi. Ngày xưa, vì con bé Romen mà anh ta đã tạt axit vào mặt tôi. Tôi thù nó và đã theo dõi, rình rập nó trong bao nhiêu năm trời. Bây giờ nó sẽ bị trừng phạt vì tội khai man để đẩy chồng vào tù. Anh cứ tin đi. Hãy đến rạp chiếu bóng Eden đưa tấm hình Romen ra, người ta sẽ cho anh biết sự thật.

Không bỏ phí thời gian, luật sư Mayher đến ngay rạp chiếu bóng và ông đã đạt được ý muốn. Chẳng qua, trước khi lấy Voler, Romen từng là diễn viên kịch, nên nhiều người biết mặt. Họ xác nhận, đêm hôm xảy ra án mạng, Romen vào rạp coi xuất chót, vào lúc 10 giờ 20.

Ngày họp tòa. Romen khai rằng buổi tối hôm xảy ra án mạng, Voler ra khỏi nhà mang theo một thanh sắt. Hắn trở về lúc 10 giờ 20 và thú nhận với chị là đã giết bà Fren, hắn còn dọa sẽ giết chị nếu chị nói sự thật.

Lập tức, lá thư tội lỗi được đưa ra. Các chuyên viên về chữ viết đã xác nhận chữ trong thư đúng là của Romen. Người đàn bà điêu ngoa đã phải gục đầu thú nhận. Quả thật, Voler đã trở về nhà lúc 9 giờ 20 như lời anh đã khai.

Voler được trắng án.

Nhưng sự việc không ngừng ở đây, bởi lương tâm luật sư Mayher cảm thấy không yên. Lòng dạ Ông bồn chồn khi nhớ lại những cử chỉ của Romen trước vành móng ngựa. Lưng chị hơi còng, bàn tay phải luôn xòe ra, một thói quen kỳ la... hình như ông đã thấy một người cũng có cái tật như thế. Ai? Luật sư giật nẩy mình. Đúng rồi, Romen đã từng là kịch sĩ... mụ già mặt thẹo!

Ông tìm đến nơi Romen đang trả giá ba tháng tù vì tội khai man. Đầu óc ông quay cuồng với bao câu hỏi. Tại sao? Tại sao?

Người đàn bà trở lại vẻ lạnh lùng cố hữu:

- Tại sao tôi lại chơi cái trò ấy à? Tôi phải cứu chồng tôi chứ. Một lời khai của người vợ thương chồng đâu có thuyết phục được ai. Nếu những lời nói của tôi không tự ý mình, mà do những tác động bên ngoài bắt buộc thì ai cũng phải tin. Tôi bị phạt tù vì khai man hại chồng, nhưng chồng tôi sẽ được cảm tình của tòa và mọi việc sẽ thuận theo chiều hướng tốt đẹp.

- Còn tập thử Còn anh chàng Mac?

- Nếu chỉ viết một lá thư thì có vẻ giả tạo quá. Còn anh chàng Mac ư? Làm gì có, đó chỉ là một cái tên ma.

Luật sư Mayher hậm hực:

- Lẽ ra chị không nên làm thế. Chúng ta có thể chứng minh sự vô tội của Voler bằng một cách hợp pháp hơn.

Romen nhếch mép:

- Thế ông vẫn tin Voler vô tội ư?

- Dĩ nhiên. Chị đã rõ là tôi tin như vậy.

- Tôi thì chả rõ gì cả. Tôi biết chắc là chồng tôi đã giết bà Fren. Để làm gì ư? Vì chúng tôi quá nghèo, ngài luật sư ạ.
129

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2006

Bà Chủ Hờ



Cuối cùng, tôi 'chịu' gã và nhận chức bà chủ của một khu nhà vườn khá thơ mộng. Một bà chủ chẳng phải vợ ông chủ vì không có cưới xin, không công khai, mặc ai muốn hiểu sao thì hiểu. Gã có vợ, mấy đứa con đã lớn cả. Chúng vào hùa với mẹ gầm ghè tôi nhưng không làm gì được vì cái 'uy' của gã. Từ đó, cứ lãnh thổ của ai người đó quản. Vợ con gã làm chủ một dinh thự lớn ở phố cùng một số cửa hàng kinh doanh đồ điện. Còn tôi chịu trách nhiệm cai quản khu nhà vườn với hơn chục phòng trọ. Gã thích đi đâu thì đi, đến đâu thì đến. Với tôi, điều đó chẳng mấy quan trọng. Tôi theo gã chẳng qua để đánh đổi một cuộc sống vật chất. Cái giá rất sòng phẳng. Trong hợp đồng này không có tình yêu, nhớ nhung và những gì đại loại như thế.

Phòng ngủ của tôi quét vôi màu nắng. Đó là tôi bảo gã sửa sang lại trước khi tôi đến. Những căn phòng còn lại vẫn được giữ nguyên một màu xám nhờ khó gọi tên, khiến căn phòng quét vôi mới trở nên lạc lõng, trơ trọi và có vẻ hơm hĩnh. Ngày trước, cạnh nhà tôi là một ngôi nhà nhỏ màu nắng. Chủ nhân là hai người chẳng giàu có gì nhưng rất yêu nhau. Với tôi, màu của căn nhà người láng giềng kia lại rạng rỡ hơn bất cứ sắc nắng nào trên trần thế, để từ đó ngấm ngầm mơ ước. Nhưng té ra, tôi có thể gọi thợ quét bao nhiêu lớp vôi mầu vàng tùy thích mà không thể khiến nó trở thành căn nhà rạng rỡ trong ký ức.

Cửa sổ phòng ngủ mở ra một khoảng vườn rộng. Một nhánh bàng như thể chia tay tự giới thiệu mình. Cây bàng vươn lên từ đất, vững chãi và trầm tư, làm điểm tựa cho cành lá lòa xòa trong mưa, trong nắng, trong ngày và đêm. Có cảm giác chỉ cần làn gió nhẹ thoảng tới, chiếc lá đỏ rực kia sẽ sà xuống cửa sổ để nói với tôi bằng ngôn ngữ riêng của nó. Điều đó khiến lòng tôi dịu xuống. Chỉ có một điều khó chịu, mỗi khi cánh cửa sổ mở ra, dù muốn hay không tôi cũng phải nhìn thấy dãy phòng cho khách trọ, như một cái gai mà người ta cố quên đi càng không thể quên được. Với tôi, sự hiện diện của những phòng trọ kia không những làm lợn cợn vẻ nên thơ của khu vườn mà còn gợi lên cảm giác lờm lợm chẹn ngang cổ khi tôi quyết định 'lên ngôi' bà chủ như thế này. Mỗi ngày mở cửa là mỗi ngày bắt buộc tôi tự nhìn vào tâm can của mình để đối diện với một sự khuất phục.

Những căn phòng trọ được xây dựng kiên cố nhưng vẫn không thể nào che dấu nét tạm bợ. Bởi nó chẳng thuộc về ai. Ai yêu mến chúng? Những người ở trọ rồi sẽ ra đi, còn với kẻ kia chúng chỉ là một phương tiện kiếm tiền.

Khách trọ của tôi phần lớn là sinh viên. Có vài người công nhân và duy nhất một cô gái làm nghề bán bia... ôm. Những người đến trọ thường ghép hai hoặc ba người để ở một phòng cho đỡ tiền. Riêng cô gái bán bia ôm ở một mình. Cô ta không có bạn cùng ở hay không muốn cùng ở với ai tôi không được rõ. Chỉ thấy cô chọn căn phòng cuối lối đi, cũ kỹ và tồi tàn. Tôi biết chắc là cô chọn nó, bởi vì còn mấy phòng tốt hơn vẫn để trống.

Xem trong sơ đồ và danh sách người thuê nhà, tôi biết cô gái bia ôm tên Vân. Thường mỗi buổi sáng, cô ở nhà. Nếu không giặt giũ gì cô đóng tịt cửa lại, chẳng giao tiếp với ai. Khoảng ba giờ chiều cô 'đi làm' và đến tận khuya mới trở về. Tôi để ý đến Vân không vì cô là gái bia ôm mà bởi vì cô là một gái bia ôm lạ lùng. Hôm đến thu tiền nhà, tôi ngạc nhiên bởi cách bài trí căn phòng của cô. Tuy đơn sơ nhưng trang nhã, tự tin. Những bông cẩm chướng xòa xuống gợi một cảm giác cô đơn đau nhói. Không dưng tôi cảm thấy bối rối. Cảm giác không còn tin vào bản thân trở lại khứa vào da thịt khiến tôi bải hoải, rã rời. Chắc là Vân hiểu nhưng không nói gì. Cô nhìn tôi bằng một cái nhìn cảm thông. Thoạt tiên, tôi phản ứng bằng một cơn giận dữ nhưng rồi tôi nhớ lại cái hợp đồng bất thành văn quỷ quái của cuộc đời mình, đôi tay xuôi xuống.

Sao thế nhỉ? Một người dưới đáy xã hội như cô ta mà vẫn còn tin vào bản thân ư? Vậy sao Vân không tự mình thay đổi số phận? Tôi không biết Vân đã học đến lớp mấy, gia cảnh thế nào và vì sao lại làm cái nghề hèn kém, khiến người ta không thể đối xử với cô bình đẳng như với những người khác ngay từ trong ý nghĩ. Coi thường, đó là sự đồng hành với những người đối diện với cô, kể cả những kẻ tiền chùa rửng mỡ đến quán bia của các cô, chịu cái giá cắt cổ để được những cô gái như cô ngồi cạnh, mơn trớn. Những gã đàn ông vỗ ngực tự xưng 'thượng đế' đôi lúc cũng làm ra vẻ tìm hiểu thân phận của các cô gái nhưng chẳng cần câu trả lời. Hỏi chỉ để mà hỏi.

Thực ra, các gã kia chẳng có tư cách và lý do gì để có thể hỏi. Những gã đàn ông ấy, mỗi khi đã dùng thân xác phụ nữ làm trò mua vui giải trí bất cứ dưới hình thức nào chăng nữa, cũng là đồi bại lắm.

Những gã khốn nạn! Tôi rùng mình nhớ lại bộ mặt nung núc những thịt và mỡ của sếp, đến cuộc giằng co trong phòng lạnh đóng kín và hậu quả là một chiếc cúc áo của tôi văng ra. Chuyện sẽ chẳng ai hay, sếp có thể được bảo toàn danh dự nếu chị tạp vụ không tình cờ vào phòng sếp quét dọn, bắt gặp tôi đâm bổ ra với gương mặt hoảng hốt. Và trong khi quét dọn chị nhặt được chiếc cúc áo. Thế là tôi bị sa thải vì 'không đáp ứng được yêu cầu của công việc'. Tiếp sau đó là những ngày thất nghiệp, lê chân khắp cái thành phố nhỏ bé kiếm việc làm. Việc gì cũng được, miễn lương thiện. ở đâu người ta cũng bảo chờ. ủy là một cách tế nhị của câu trả lời 'không'.

Hy vọng kiếm được việc làm càng mong manh hơn khi người ta không tiền bạc, không cả một 'chỗ dựa'. Tôi quyết tâm sống tự lập mỗi khi nghĩ đến mẹ vò võ như một chiếc bóng ngay chính trong ngôi nhà mình. Cái hôm ba quát vào mặt mẹ rằng' tao làm ra tiền, tao có quyền đưa gái về nhà... đừng lộn xộn...' Hôm đó mẹ tự tử.

Thế mà nhiều lần mẹ nói với tôi sẽ tự tử, tôi chỉ cười nhạt. Cái kiểu cười có vẻ như ngạo đời nhưng thực ra cũng mang lại cho người ta chút ít niềm an ủi. Và tưởng rằng có thể an ủi được mẹ. Nhưng chẳng hiểu vì sao, cứ mỗi lần mẹ rên rỉ về điều đó, tôi lại liên tưởng đến xác cô gái trong một vụ tự tử mà tôi chứng kiến. Cô gái chấm dứt cuộc sống của mình bằng cách nhảy xuống sông. Người ta bảo, vì uất ức quá mà trầm mình. Xác chết được vớt lên đặt trên bãi cỏ trong cơn nắng gay gắt của một ngày cuối hè. Cô ta nằm đó, thân phận bọt bèo câm lặng một cách thiêng liêng cách biệt với những người tò mò xúm quanh...

May mà mẹ không biết. Người
ta kịp đưa mẹ đến bệnh viện 'súc' sạch đống thuốc mẹ nuốt vào dạ dày. Nếu không, với cả tôi, mẹ cũng sẽ trở nên bí mật trong cái thể xác câm lặng vĩnh viễn. Mặc kệ tất cả, mặc kệ...

Phải tự lập. Tôi đành xin tiếp thị bia. Cũng may người ta chấp nhận ngay vì tôi có một ngoại hình khá. Thực ra công việc tiếp thị bia bọt trong nhà hàng của các cô gái gặp không ít khó khăn. Họ phải làm sao luôn luôn tươi cười mà không lơi lả, đứng đắn nhưng không nghiêm nghị quá... Nói chung, phải thiết lập một khoảng cách cần thiết để tránh sự sàm sỡ của một số thượng đế... mà vẫn mời được khách mua hàng.

Một hôm, tôi bị thằng choai choai ngật ngưỡng bất ngờ thọc tay bẹo đùi. Tôi giáng cho hắn một cái tát rồi bỏ việc. Sau cú đó, tôi 'gật' gã.

Tôi quen gã cũng chính trong nhà hàng. Gã đợi ai đó. Tôi đến mời gã dùng loại bia của hãng tôi tiếp thị. Gã chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân như thể người ta đang đánh giá cân nhắc một món đồ nào đó mà người ta có dự định sẽ mua với bộ mặt lộ vẻ ưng ý. Sau vài lần như thế, gã bảo muốn có tôi làm 'vợ lẽ', rằng tôi sẽ là bà chủ một cơ ngơi khá. Gã nói về điều đó một cách chậm rãi chính xác từng chữ, dường như để tôi nhận diện sự việc thật rõ ràng trước khi đồng ý hợp đồng với gã.

Công bằng mà nói, gã chẳng làm gì để tôi phải ghét. Gã chu cấp cho tôi cuộc sống vật chất thừa thãi, giữ lời hứa để tôi làm 'bà chủ' khu nhà vườn, hàng tháng thu tiền khách trọ, muốn làm gì tùy thích gã không động tới. Chỉ có điều, mỗi lần lên giường cùng gã, cảm giác như muốn nôn ọe bởi nhơ nhớp tiết ra từ chính bản thân. Tôi tập cho mình có thể đánh mất cảm giác, có thể trơ lỳ ra, nhưng không kết quả, chỉ có thể mím môi nhắm tịt mắt lại, chờ đợi lúc gã kết thúc, với luận điệu tự an ủi, rằng gã đã thẳng thắn và sòng phẳng. Còn tôi, cũng đã tự nguyện chấp nhận trò đổi chác chẳng do ai ép buộc, cũng như tự nguyện gục mặt xuống để họa cho mình một kiểu đi lầm lũi.

Vân thì khác. Vân có dáng đi rất ấn tượng. Lưng, cổ và đầu đều thẳng khiến những bước đi thanh thoát. Cũng như cách bài trí căn phòng, dáng đi của cô toát lên một sự tự tin và cô đơn quá. Tôi lấy làm lạ lùng. Cốt cách kiêu hãnh kia lại có thể chung chạ với cái mà bản thân mà cô khinh bỉ.

Đêm nọ, Vân trở về khá muộn so với thường lệ. Cô có vẻ say, tra mãi chiếc chìa khóa mà không làm được. Lại một sự lạ nữa. Tuy là gái cùng ngồi với khách nhưng chưa bao giờ cô uống. Cô cười nhạt kể: 'Đổ cha nó hết xuống gầm bàn để rồi cứ đầu chai mà chém. Đó là công việc của tụi em mà'. 'Người ta chịu mất tiền dễ dàng thế sao?'. 'Thì cũng phải hy sinh chút đỉnh, quàng tay qua vai hoặc ôm cổ chẳng hạn, cốt nhất là rót vào tai chúng những lời thật trơn. Còn khoản kia 'em' nào đồng ý với khách thì cuốn nhau đến một xó xỉnh nào đó ai mà biết được'...

Tôi giúp Vân vào phòng. Cô bảo tôi ngồi xuống, cô kể điều này. Cô ngước nhìn tôi, miệng cười mà mắt lại đang khóc. Những giọt nước mắt không chịu lăn ra cứ tràn trề trong mắt lấp lánh. Tôi nhận thấy ngay, đó không phải là nỗi đau, trái lại, nó đồng nghĩa với nụ cười và còn cao hơn cả nụ cười, đó là niềm hạnh phúc. Hạnh phúc khiến người ta khóc phải là một hạnh phúc lớn lao lắm.

'Ông ấy đã tin tôi. Có một người đã thực sự đau lòng trước hoàn cảnh và số phận của tôi' - Lúc này, Vân như đang nói với chính mình chứ không phải là kể cho tôi nghe nữa. Nhưng tôi vẫn ngồi đó, như thể bị dán chặt xuống chiếc ghế.

- Lúc ông ấy bước vào cùng những người khác, thằng đại ca rỉ tai em bảo, phải tiếp đón con người chững chạc kia cho chu đáo. Ông ta là nhà văn đấy. Nhà văn đây cũng cóc cần. Đã bước chân vào chốn này thì cùng họ hàng với nhau cả. Ông ta còn là một ông già cơ đấy. Càng già bao nhiêu lại càng đáng khinh bấy nhiêu. Lúc em bắt đầu dùng khăn ướp lạnh lau mặt cho ông ta theo bài bản, ông liền ngăn lại và bảo.

- Con không cần phải làm như thế.

- Thì ông đến đây làm gì?

- Để biết.

Chẳng hiểu sao lúc đó em nổi xung lên, trợn mắt hỏi:

- Vậy ông có biết vì sao tôi lại đi làm cái nghề này không?

- Ta nghe đây - Ông nhìn em như một người cha độ lượng nhìn đứa con.

Và thế là em kể hết, kể cho ông nghe điều kinh khủng mà em đã phải trải qua. Cái điều mà chưa bao giờ em hé răng cho ai biết. Cái nguyên nhân khiến em bán linh hồn cho ma quỷ.

Ông ngồi lặng lẽ. Lúc lâu sau, ông rút trong túi áo ngực đưa cho em một chiếc phong bì bảo đó là tiền nhuận bút của ông vừa nhận sáng nay, thế rồi ông đi. Em chỉ còn biết ngồi trơ ra đó, nhìn theo. Ông cúi đầu đi mải miết. Được một lúc thì rẽ sang phố khác, và em chẳng nhìn thấy ông nữa.

- Thế đám người cùng đến với ông ấy?

- Họ đang say sưa, chỉ bảo kệ ông ấy. Ông ấy hơi bị gàn gàn đấy.

- Thế ông không khuyên dạy một điều gì sao?

- Không. Ông chỉ bảo, về đi con. Vậy thôi. Nhưng mặt ông ấy lạ lắm, như thể là nỗi đau đớn, em cam đoan với chị đấy, một nỗi đau đớn. Thế là em ngồi đó uống và uống. Chẳng ngon lành gì, đắng lắm, nhưng em vẫn uống'.

Một cái gì đó đang vỡ ra. Ngay chính bản thân tôi cũng cảm nhận được. Vân run run mở xách, lấy từ trong đó ra chiếc phong bì, giọng trầm xuống như một lời thì thầm: 'Em đã bán linh hồn cho ma quỷ. Và đây, chính là món tiền chuộc'.

Mấy hôm sau, Vân trả phòng. Và ra đi...

Không ngờ rằng, một người ở trọ ra đi lại có thể tác động mạnh đến cuộc sống của tôi như thế. Như bị cảm, tôi lên cơn sốt, lúc nóng lúc lạnh, tâm tư thảng thốt. Tôi đóng cửa nằm lì trong phòng, đôi lúc lên cơn mê sảng. Trong cơn mê, tôi thấy mình là một vận động viên trong cuộc thi chạy đường dài. Những người tham dự cuộc thi đang cố gắng để về đích, cái đích dường như ở ngay trước mắt nhưng thực ra vẫn còn xa lắm. Người ta chạy, chạy mãi, kẻ trước người sau. Riêng tôi khó nhọc nhấc những bước chân nặng nề và cuối cùng tôi bỏ cuộc. Vài người chạy qua tôi, nhìn tôi bằng những con mắt xa lạ. Nhưng rồi có một đôi mắt với tôi thân thuộc lắm, đôi mắt với những đường hằn mệt mỏi, đau đáu nhìn tôi. Mẹ! Tôi vùng vẫy, cố tỉnh dậy, nhưng dường như ai đó níu lấy tôi. Gương mặt Vân lòa nhòa. Vân hỏi, bao giờ tôi ra khỏi nhà trọ?

Lần này tôi tỉnh được. Đầu nặng trĩu. Cảm thấy ngột ngạt, tôi mở toang cửa sổ. Chiếc lá đỏ rực hôm nào đã không còn. Thay vào đó là chiếc lá xanh non mơn mởn. Có nghĩa, trong lúc tôi trải qua những cơn mê thì chiếc lá đỏ cũng trải qua thời kỳ sống để giã biệt thân cành. Thì ra, những chiếc lá cũng có cuộc sống riêng của chúng. Còn tôi lại không dám sống bằng chính cuộc sống của mình với bao nỗi đau, hạnh phúc và khát vọng...

Cũng giống như chiếc lá đỏ trước kia, chiếc lá xanh non rung rung theo gió, như tự giới thiệu mình. Chiếc lá hình con mắt như thể nhìn tôi hỏi, tôi là ai?
154