This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2008

Ảo Ðăng



Mỗi lần vào nghĩa trang, tôi sờ tay lên phiến huyền thạch mát lạnh, rồi ngó bâng quơ cây thập tự bằng đồng đỏ ối vươn cao. Chín ngày sau đám tang, phần mộ xây xong, tôi trở vào đó nhìn chăm bẳm tấm bia. Chỉ là cái tên sao đủ cho tôi khép chặt mắt lại mà vẫn thấy khuôn mặt mình rõ ràng là bản sao trung thực của người mang nó. Cũng cặp mắt lệch, một con đuôi dài khem khép, con kia cùn cụt lồi ra chắc để cố giữ quân bình thị độ. Vành lông mày rậm đánh lên thẳng thừng vô cớ, còn hai cánh tai càng ngày càng cố tình xòe ra như cặp loa hẳn để nghe cho rõ tiếng đời sống thất thanh kêu rú ngoài thế giới âm u này. Thường, tôi đứng dậy ra về trước khi những cây dẻ tàn rậm sẵn sàng ôm trùm các ngôi mộ, xoá sạch hết lối đi.

Không gian mỗi ngày một kín mít, đêm đổ chẳng ngại ngần, tôi nằm vật xuống chiếc giường rộng thênh, đầu óc rỗng. Về đến căn nhà từ khi trời nhập nhoạng cho đến lúc đồng hồ treo tường vượt qua một ngày khác, tôi thường chẳng nhớ mình làm những gì trong khoảng thời gian ấy. Chui vào phòng tắm xịt nước ào ào rồi tròng cái T-shirt thùng thình lê vào bếp, lôi ra mẩu bánh mì từ cái bao vải, xẻ một miếng phó mách, rót một ly rượu vang. Ði qua đi lại, nhai và nuốt. Không mấy lần tôi chịu khó ngồi ở chiếc bàn con để chậm rãi thưởng thức bữa tiệc bánh mì, phó mách và rượu ấy. Ăn cho xong và tắm cũng cho xong. Trong gian nhà hai phòng hơn ba mươi mét vuông, tôi lẩn quẩn, cuối cùng ném xuống giường tấm thân vô tội.

Cứ thế, tôi nhập vào bóng tối, trong khi ngoài cánh cửa sổ đã đóng chặt có sẵn ngọn đèn đứng khẳng khiu bên bờ kinh vẫn vắt lên tới tầng lầu này một thứ ánh sáng vàng lãng. Nước dưới ấy chảy âm thầm, bải hoải vì tên thiết kế con kinh nhân tạo luồn giữa hai dãy nhà đã quên đặt vài hòn đá, đôi khúc cây trong lòng hay bên bờ để thay đổi chuyển động của dòng nước. Tuy thế những bụi hoa mận tiá và mấy cây liễu dáng chừng thoả mãn, soi bóng lung linh trên mặt lục. Còn tôi, chẳng mấy khi có nhu cầu ra đứng ở lan can nhìn xuống, chộp lấy chút sắc xanh sóng sánh hay ngửi hơi gió thoảng. Dọn về đây đầu đông, cho đến cuối hè là gần một trăm đêm tối nằm ngang sổ dọc trên mặt nệm. Hai chân quấn quíu vào nhau, một bàn tay vuốt ve cuống cổ, tay còn lại luồn dưới vải áo mân mê, tôi truồi dần vào những cơn mơ cho đến bốn giờ mười lăm phút sáng. Hôm nào cũng thế, giờ ấy tôi bị lôi ra khỏi giấc mộng thật đột ngột bởi tiếng nước kéo ào xoáy khọt vào tai bên kia vách. Những ngày đầu bực bội, tôi định đập vô tường hét vọng qua : Ðợi tới sáng giật nước cũng chẳng hôi hám gì. Nhưng cuối cùng, sự lười biếng lê chân khỏi giường cho tôi đủ bình tĩnh để nghĩ lại : Thà bị đánh thức còn hơn tiếp tục cơn mơ đuổi bắt mệt nhoài những hình nhân không mặt mũi, hay nghẹt thở bò rạp giữa thảm cỏ ẩm ướt tối, chúi mắt đánh vần từng tên người trên những phiến bia.

Ðến hôm nhìn rõ ra người hàng xóm, không những tôi chẳng còn giận dữ mà đêm đêm nếu bất chợt tỉnh mộng trước bốn giờ mười lăm tôi nằm đợi rồi mỉm cười với tiếng nước ban đầu sè sè xong nhỏ lại, ngập ngừng. Người đàn bà đi tiểu đêm đúng giờ đúng khắc ấy mang khuôn mặt Á Châu đằm thắm. Mấy nếp gấp của tuổi sáu mươi nơi khóe mắt nhếch lên cùng với mép cười có chút gì tinh quái mà tôi chỉ nhận ra độ sau này, từ một hôm bà đến ngồi gần cửa sổ trông ra ngoài hành lang là lối vào chung cho mấy căn nhà cùng xoay về một hướng. Chiếc phong linh reo vui khi bà ấy mở cửa bước hẳn ra ngoài, vài ba câu rồi bà rủ tôi vào nhà. Hai căn cùng một diện tích nhưng bên tôi trống trải lạnh lẽo bao nhiêu thì đầy đặc và ấm áp vô cùng trong không gian người đàn bà ấy. Tranh ảnh, cây xanh, lồng chim, dây giăng ngang trần treo lủng lẳng những quả chuông, đèn lồng. Mùi nhang trầm phảng phất với một thứ hương nồng nả. Bà chỉ cây hoa cánh dài trắng muốt bảo đó là hoa ngọc lan nhiệt đới, rồi ngắt một bông cài lên mái tóc rối bù của tôi. Những ngón tay đều đặn, hồng và mềm lạ lùng của một người quá tuổi. Thân mật kéo sợi tóc ra khỏi vành tai cho tôi, bà vuốt sổ xuống nhẹ nhàng :

- Ðể thế này thì hơn.

Lần đầu tiên tim tôi không nhói lên trước một câu nói động chạm xa gần tới khuôn mặt mà lâu rồi vì nó, tôi đập vỡ những chiếc gương.

***

Hôm bà vẫy sang, tặng chiếc lồng có cặp chim mỏ đỏ lông vàng cũng là lần đầu tiên tôi đứng lâu ở chiếc ban công nhà bà sát cạnh của tôi. Trời bây giờ mau tối, ánh tím chiếu trên mặt nước con kinh lềnh dềnh lá liễu thon cong rụng trở mùa. Ngửng mắt sang khu nhà đối diện, bất chợt tôi bắt gặp những chiếc đèn lồng vừa nháy lên trên đầu một chậu cây bách diệp. Quay lại tôi hỏi :

- Bên kia hẳn nhà người Á Châu, họ cũng có mấy cái đèn giống y.

Người đàn bà đang rót nước vào bình trà dưới cửa sổ ngó ra :

- Không, tên ấy chắc người Ý.

- Sao lại chắc ?

Bà ta chép miệng :

- Ðoán thế, giống mấy thằng tài tử xi-nê, với lại bọn Ý khoái ảo thuật.

Tôi cười trước sự suy diễn dễ dàng :

- Bà thấy hắn làm ảo thuật à ?

Người đàn bà chặn ngay :

- Tại cô cứ nằm im ỉm trong nhà nên chẳng thấy hắn tập dượt. Xem đã lắm.

Tự nhiên tôi tò mò :

- Thế hắn có trình diễn trên truyền hình không ? Tên gì ?

Bưng khay trà đặt trên chiếc bàn con, bà chậm rãi chuốc nước từ cái chung sành xanh biếc nhỏ xíu này sang cái chung kia, cơ hồ chẳng nghe câu hỏi. Ðầu những ngón tay cắt gọn, hơi vuông vức nhưng chúng cân xứng với khuôn mặt và cả con người tầm thước của bà ta. Tôi chăm chú nhìn, quên bẵng điều mình muốn biết, cho tới lúc bất ngờ bà thản nhiên nói tiếp :

- Tài tử thôi. Hắn có việc làm nhất định, đi sớm về muộn hơn cô.

Ðêm đó mắt trâng tráo, cơn mơ lọt ra ngoài. Bàn tay vẫn luồn trong chiếc áo ngủ rộng thênh, xoa xoa mảnh bụng nhộn nhạo. Hai con chim sùng sục, khi gù gù lúc dãy phành phạch. Bóng đen đặc quánh. Chẳng thấy chúng làm gì nhưng tôi tưởng tượng những cánh lông xù lên, rồi bị dứt khỏi da bay loạn mù trong chiếc lồng, mỗi cuống lông mang một giọt máu nhểu hoài không cạn. Mãi gần sáng tôi thiếp đi trong đốm sáng lúc tròn xoe ấm áp của đèn lồng, lúc xanh lạnh như sao trời hun hút.

Sáng trở dậy tôi đem chiếc lồng treo ngoài ban công. Hai con chim suốt đêm trong bóng tối đang cú rú vào nhau thảm hại, mỏ quẹt quẹt, đuôi cà cà. Khi ngửi ra hơi sương sớm bốc từ mặt kinh chúng ngóc đầu rồi hớn hở bay lên đánh đu trên thanh tre cao nhất. Chiều đi làm về tôi ghé mua chậu cây, những bông hoa đỏ li ti làm sáng mắt cặp chim, chúng nhảy nhót kêu riu ríu, đến nỗi bà ta bên kia cất tiếng :

- Chao, làm gì bắt loạn.

Tối lại tôi bỏ giường mở cửa ngó sang c143

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2008

Bao Giờ Cho Ðến Bốn Năm Sau ?



Lần cuối cùng bạn tự động bắt chuyện với ông giáo sư gì thường lách vội qua cái ngõ bị bạn khuỳnh tay đứng chắn là bao giờ nhỉ ? Bạn thuộc giới vô công rồi nghề, ông ấy thuộc giới vô tích sự, chẳng bên nào hơn bên nào, nhưng ông ấy kém bạn ở cái khuỳnh tay đứng ngõ. Việc gì phải hạ cố bắt chuyện. Lần cuối cùng bạn thấy bọn trí thức cũng đáng hưởng chút tình hàng xóm, thậm chí bạn ngầm thừa nhận cái địa vị và học thức của ông giáo sư gì, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm trước, vào mùa World Cup bóng đá. Nhà văn Uruguay Eduardo Galeano, tác giả cuốn kinh thánh bóng đá Quả bóng hình tròn, cho rằng thượng đế và bóng đá giống nhau ở chỗ : dân chúng càng kính ngưỡng thì kẻ trí thức càng hoài nghi. Tôn giáo và bóng đá đều là thuốc phiện cho nhân dân. Thượng đế đã chết thật, hay thượng đế lại đầu thai vào quả bóng ? Pelé vĩ đại đã nói rồi, may mà có bóng đá, nếu không thì nước Brazil chúng tôi chắc phải làm cách mạng. Nhà văn Tây Ban Nha Javier Marias, cổ động viên chung thuỷ của Real Madrid thì cho biết, hai mươi năm trước không một trí thức Tây Ban Nha nào dám công khai ngưỡng mộ bóng đá, bây giờ muốn lên a-văng-gác lại phải rành đá banh. Thuốc phiện cho nhân dân hay viagra cho ám ảnh bất lực của kẻ sĩ trong kỉ nguyên huy hoàng của văn hoá đại chúng ?


Những chuyện ấy chẳng quan hệ đến bạn và ông giáo sư gì. Vào mùa bóng đá, ông ấy hết vô tích sự và bạn hết vô công rồi nghề. Ông ấy thuộc tên các câu lạc bộ, cầu thủ, huấn luyện viên và trọng tài hơn bạn nhiều, toàn tên nước ngoài, bạn làm sao nhớ nổi ? Ông ấy phân tích luật chơi đâu vào đấy, dùng từ chuyên môn chuẩn xác, nhờ vậy mà bạn biết cái vị trí offside là " việt vị ", trước đây bạn toàn nghe đám thất học gọi bừa là " liệt vị ". Việt là vuợt, như tên nước mình, ông ấy giải thích và bạn gật gù. Nước mình chả biết vượt đi đâu, nhưng nghe cũng khoái hơn một cái tên vô nghĩa. Bù lại, nhờ bạn mà ngôn ngữ bóng đá của ông ấy ác chiến hơn, cũng " bóng nóng ", " bóng nguội ", " tanh ", " máu ", " xích lô chỏng càng ", " ngả bàn đèn ", " nhả ", " ngoáy ", " găm ", " mồi ", " bốc "," lí nhí củ lạc ", " nấu cháo sườn "," chuối ", " siêu chuối "... Ông ấy bình luận rất chí lí về phong cách chơi tức phong cách tồn tại của từng dân tộc, nhờ vậy mà bạn biết chuyển từ ngưỡng mộ sang khinh bỉ cái tinh thần duy lí, thực dụng, phi nghệ thuật, thiếu hào hoa của bóng đá và chủ nghĩa Ðức. Bọn Ý cũng không khá hơn. Chúng nó cùng một duộc phát xít là phải. Tất nhiên nếu chạy đủ tiền, bạn sẽ cho thằng con lớn đang chờ chiếm cái chỗ khuỳnh tay đứng ngõ của bạn sang Ðức tị nạn chứ không sang Brazil. Bóng đá là cả cuộc đời, nhưng cả cuộc đời lại không chỉ là bóng đá, chính ông giáo sư gì đó triết lí như thế. Năm nay ông ấy cũng gửi con đi Pháp du học chứ không đi Senegal. Nhờ một trò chơi chẳng made gì in Việt Nam mà trí thức Việt bốn năm một lần xứng đáng là thành phần phát ngôn của dân tộc, là thày và bạn của nhân dân.


Còn bạn, lần cuối cùng đồng chí công an khu vực ghé qua quán cà phê có bán thuốc lắc (1) của bạn, không phải để phạt mấy chiếc ghế nhựa chiếm hè đường trái phép, là bao giờ nhỉ ? Bạn thuộc giới nhảy rào pháp luật từ phía bên này, đồng chí ấy thuộc giới nhảy rào pháp luật từ phía bên kia. Rồi cũng tập kết ở cùng một điểm mà thôi, nhưng gặp nhau ở quán cà phê của bạn thì không sướng. Lần cuối cùng đồng chí ấy thoải mái tụt giày, ngồi xổm trên một trong những chiếc ghế nhựa phạm pháp ấy và bạn ngừng tay san bịch thuốc lắc thành từng gói nhỏ xanh đỏ vui mắt, hai bên say sưa nói về một sự kiện không xảy ra trong khu phố, không xảy ra trong quán cà phê, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm truớc, vào mùa World Cup bóng đá. Sự kiện quân đầu gấu Ðức đánh trọng thương một cảnh sát Pháp. Việt Nam mà đăng cai mông-đi-an thì cảnh sát mình cho đầu gấu quốc tế biết thế nào là lễ độ. " Chuồng cọp " còn để trống nhiều, cho thuê không được mấy. Năm nay là một đồng chí khác, công an khu vực thuộc quận Hoàn Kiếm của bạn đảo như rang lạc, như cầu thủ chuyển câu lạc bộ, như Bora Milu chuyển đội tuyển quốc gia. Ðồng chí năm nay căm thù mười một thằng điên Hàn Quốc và băng trọng tài mafia. Mười một thằng điên, mỗi thằng nửa triệu đô la chờ ở chung kết, mua mấy tiếng còi chẳng được. Việt Nam mà đăng cai mông-đi-an thì quân hối lộ khóc thét. Nhờ một trò chơi chẳng made gì in Việt Nam mà toàn dân Việt bốn năm một lần chuộng pháp luật và tẩy chay tham nhũng.


Còn bạn, lần cuối cùng bạn quên phắt rằng, gã đàn ông ngồi cạnh đang cắn móng tay và năm phút nữa sẽ tan như giẻ rách theo đội Anh thực ra là thủ trưởng cơ quan bạn, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm trước, vào mùa World Cup bóng đá. Mùa hè. Còn lâu mới Tết. Còn lâu bạn mới phải rụt rè giao lưu chai rượu Tây, tức vừa xinh tháng lương thứ mười ba, vào tay vợ thủ trưởng và phấp phỏng lo rượu rởm. Mắt mụ ấy như mắt cú, nhìn xuyên Johnny Ðen (2). Bây giờ gã ấy ngồi cạnh bạn, nốc rượu đế bằng cái chén bẩn. Kiến thức bóng đá của gã mỏng như áo em, bạn nói gì gã cũng gật. Gã thua cá là phải. Bạn sẽ giành lại nhiều tháng lương thứ mười ba từ tay gã, giấu mắt cú của vợ. Còn lâu, ít nhất là xong trận chung kết, bạn mới phải trở lại bàn giấy cơ quan, gã nói gì bạn cũng gật. Năm nay bạn cá lớn cho đội Thổ vào bán kết. Thủ trưởng cơ quan bạn, thằng ngốc, thằng nịnh Tây, thằng nô lệ cho thực dân, cắm nguyên con Daewoo mới chạy rốt-đa vào Pháp. Bóng đá tái thiết lập công bằng xã hội, mà xã hội Việt chẳng tốn một khẩu hiệu nào. Của người phúc ta, kì diệu là như vậy.


Còn bạn, lần cuối cùng vợ chồng bạn thức trắng, không để cãi nhau, không để lo mẻ xôi sáng mai thử bán, không để tâm sự chuyện nặng bên nội nhẹ bên ngoại, không để xem phim sex dày, không để làm tình muộn, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm trước, vào mùa World Cup bóng đá. Cô ấy mê chàng Beckham bô trai có cái miệng cực kì duyên dáng, đồng thời mê Klinsmann mắt xanh tóc vàng. Toàn những thằng Tây giỏi trai, trẻ hơn bạn, giàu hơn bạn hàng chục triệu lần, nổi tiếng hơn toàn đàn ông nước Việt gộp lại. Bạn ngạc nhiên thấy mình không ghen. Bạn còn ôm vai vợ an ủi khi Beckham ăn thẻ đỏ và chuốc ruợu vợ tiễn Klinsmann theo đội Ðức về vườn. Năm nay tóc các cầu thủ Nhật và Hàn cũng vàng, thay cho Klinsmann mà nàng đã quên. Beckham còn quyến rũ hơn. Thằng Raul trông cũng kháu. Nhưng vợ bạn đã chuyển điểm ngắm sang Oliver Kahn sát khí dữ dằn. Nàng vẫn yêu bóng đá như bao giờ, yêu cái thế giới toàn đàn ông, trợn mắt, nhe răng, nhổ nước bọt, yêu cả những cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay đầy nam tính, đầy tinh thần chiến
tranh. Chiến tranh thật, nếu không thì mười một thằng điên Hàn Quốc chẳng được miễn nghĩa vụ quân sự. Và bạn thấy mình là một phần của cái tình yêu ấy. Bóng đá tái thiết lập bảng phân vai nam nữ như buổi nguyên sơ. Ðàn bà nuớc Việt được cách mạng giải phóng lâu rồi, họ không cần sờ vào quả bóng, không cần thạo luật, không cần phân biệt hai khung thành. Miễn là bóng ở đâu rơi vào. Miễn là xem, hoặc xem chồng xem đá bóng. Nhưng đàn ông nước Việt cũng không cần sờ vào trái banh.


Lần cuối cùng tôi chung một nhịp sống, một ý nghĩa tồn tại với toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta, với các cấp, các bộ, các ngành, các giới, các địa phương và một trung ương, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm trước, mùa World Cup bóng đá. Tôi cũng tiêu trọn nửa ngày làm việc vào giấc ngủ bù, vật vờ lê nốt phần giờ hành chính sự nghiệp còn lại trong cực hình của chờ đợi. Rồi nhồm nhoàm ăn uống và ngấu nghiến mọi tờ báo có bài về bóng đá, nghĩa là đứt một sạp báo. Rồi về điện thoại gọi vài chầu vòng quanh đất nước, hàng ngũ tri kỉ của tôi ở mọi nẻo đường tổ quốc sẽ quyết tử với lí tưởng mầu da cam, dù đội Hà Lan còn hay mất. Rồi cùng cả cái dân tộc chẳng hề quen sống về đêm này thức trọn những canh khuya. Không phải để chiêm nghiệm những suy tư siêu hình, trăn trở những vấn nạn xã hội, ôm ấp những giấc mộng " tự do dân chủ đa nguyên, quốc gia phồn thịnh bình yên, nhân dân phấn khởi triền miên " gì đó. Tất nhiên là không. Chúng ta không dại dột đến mức ấy. Cả nước Việt chỉ reo vang khẩu hiệu " Vàààooo ! " giữa canh ba và canh năm. Người hô trước, chó choàng tỉnh sủa đệm một hồi và sao trời rung rinh phụ hoạ. Ngày mai lại là một ngày đáng sống.


Lần cuối cùng chúng ta thấy mình thực sự hoà vào hơi thở thời đại, vui niềm vui của toàn nhân loại, khóc những giọt nuớc mắt Pháp, đập thình thịch bằng trái tim Mêhicô ; lần cuối cùng chúng ta được cười vào mũi anh bạn khổng lồ Trung Quốc mà khỏi phải dẫn Bình Ngô, được chửi Mỹ thậm tệ mà cóc cần chiếu cố vụ 11 tháng Chín ; lần cuối cùng chúng ta được xả ngược tinh thần kì thị chủng tộc vào các mầu da không trắng mà khỏi cầm gương soi da mình vàng ; lần cuối cùng lòng yêu nuớc và tinh thần tự hào dân tộc đã thủng két lắm của chúng ta khỏi phải gõ cửa từng nhà, chỉ cần nhờ ba muơi hai cái chủ nghĩa dân tộc cháy bỏng trong một cuộc chơi toàn cầu đứng ra quyên góp giúp ; lần cuối cùng chúng ta được tự do lựa chọn và hội họp, được thông tin đầy đủ và ngôn luận sướng mồm như thói Tây ; vâng, lần cuối cùng chúng ta được làm những người Việt yêu nước mà không cần xả thân vì nuớc, tự do mà không cần tranh đấu cho tự do, bình đẳng mà không cần chống bất bình đẳng, và đồng thời là công dân thế giới, ở đỉnh cao thời đại, vô tư hưởng chiến công nhân loại mà khỏi cần lập công, mà chẳng phải làm gì hơn ngoài ngồi trước một màn hình, là bao giờ nhỉ ? Là suốt tháng Sáu vừa rồi, mùa World Cup bóng đá.


Hay đơn giản hơn, lần cuối cùng bạn tôi ở Sài Gòn, vốn chẳng ham hố được thua ở đời, mà thể thao là phân thắng bại, bỗng chăm chỉ ngồi trước màn hình, cũng là suốt tháng Sáu vừa rồi, mùa World Cup bóng đá. Anh bảo : " Thôi thì giết thời gian, đỡ buồn ". Giết thời gian còn hơn sống mòn. Ðỡ buồn tốt hơn vơi hi vọng.


Năm nay Brazil lại không làm cách mạng. Mọi chú bé sinh năm 2002 ở cái xứ khổng lồ của nghèo khổ, bệnh tật, tham nhũng, bất công ấy chỉ cần mang tên Ronaldo và Ronaldinho là ổn.


Năm nay tôi không có lí tưởng. Bạn biết rồi, lí tưởng của tôi mầu da cam. Nhưng bốn năm nữa lí tưởng ấy sẽ hùng mạnh hơn bao giờ. Bao giờ cho đến bốn năm sau?
185

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2008

Ăn Trộm Vịt



Con vịt coi vậy mà gần gũi với bữa ăn của người dân quê miền Nam hơn là con gà. Món gì thịt gà làm được, thì thịt vịt cũng không thua, mà có khi hơn hẳn. Thí dụ món tiết canh, ta chỉ có món tiết canh vịt, chớ chưa hề thấy ai ăn tiết canh gà bao giờ.


 
Biết sao không? Đàn ông mà ăn tiết canh gà, đêm đêm sẽ xửng cồ gáy, làm phiền lòng vợ, có khi bị bả đạp xuống gầm giường, rồi nói sao xui!




Người Việt mình khiêm nhượng lắm, cứ cái gì nhỏ thì nhận là của mình, còn cái gì to lớn một chút thì cho rằng của nước ngoài: Con Vịt Xiêm (con ngan Thái Lan) to gấp hai con vịt ta. Trái mãng cầu ta lớn bằng nắm tay mà trái mãng cầu xiêm lớn như trái dừa. Trái chuối Tây cũng lớn hơn trái chuối cau của ta.


Mà chưa chắc gì trái chuối lớn đó là chuối Tây, vì ở bên Tây lạnh quá như vậy dễ gì chuối sống nổi, ngay cả nước Tàu kế bên VN như vậy mà cây chuối còn đèo đọt không lên nổi vì lạnh mà.



Hồi xưa vịt đàn toàn là vịt sẻ màu nâu xám, mỗi con nặng chừng hơn ký lô, nhưng bây giờ vịt đàn gọi là vịt Bắc Kinh màu trắng và to như vịt bầu nhưng cổ cao hơn một chút.



Con gà trống thì khác gà mái rất nhiều, nhìn thấy ảnh là biết ngay, từ dáng to lớn đi nghênh ngang, đến đuôi cong vòng, mào đỏ chót, chân có cựa và lông vũ đẹp đẽ, còn vịt thì lại khác, đực cái gì chúng cũng giống nhau quá. Con đực giọng khàn khàn và chỉ có thể nhận ra anh ta là vì ở ngay phao câu có một cái lông cong tròn lên như chữ C. Nếu nhổ nó đi thì chỉ vài ngày sau lại mọc lên cộng lông mới cũng cong y chang như vậy.

Làm thịt vịt chỉ ngán một nỗi là khi mình nhổ lông nó, nhứt là khi mua nhằm con vịt đang ra lông măng, nhổ muốn chết cha luôn.



Muốn làm lông vịt cho dễ, người ta bỏ vô nồi nước sôi chút xà bông bột, nó sẽ làm tan chất dầu nhờn ở lông và da con vịt thì dễ nhổ hơn.



Khi vừa cắt tiết xong, lấy ống đu đủ nhỏ hay ống trúc luồn vô dưới da mà thổi cho con vịt căng lên to như con ngỗng, lấy dây cột cổ lại cho khỏi xì hơi ra, lúc đó làm lông còn dễ hơn nữa.

Trước khi kể chuyện về cách ăn trộm vịt giữa ban ngày, của bọn con nít rắn mắt, tôi xin nói về cái tỉn nước mắm cái đã.

Khoảng đầu thập niên 60 người ta vẫn còn xài cái tỉn làm bằng đất nung để đựng nước mắm, hồi đó bình bằng ny-lon chưa được phổ biến nhiều. Đó là đồ đựng hình quả trám, nặng chình chịch mà sức chứa chưa tới 4 lít.



Khi đổ đầy nước mắm vô rồi thì nhà thùng dùng xi măng mà khằn cái miệng lại. Tuy nhiên nước mắm vẫn rỉ ra hôi rình. Đã thế chung quanh cái tỉn lại dùng lá kè non mà ràng làm quai xách coi rất bê bối.



Khi mình xài hết nước mắm rồi, mấy cái tỉn bị vất lăn lóc ngoài sau hè. Lâu lâu có cái xe đap ràng cần-xé hay ghe đi mua lông vịt thì mua tỉn luôn. Có khi họ không trả bằng tiền mà chỉ đổi cốm ngào đường mà thôi. Họ đạp xe khắp hang cùng ngõ hẻm hoặc bơi xuồng trong các kinh rạch và rao:



-Ai có ve chai, nhôm bể, lu, lông vịt, hột gòn .... đổi cốm hông ???



Khi nước lụt dâng lên ban đêm, thường thì mấy cái tỉn bị trôi theo giòng nước. Cho dù giòng nước chảy khá mạnh, nhưng vì hình thể của cái tỉn tròn tròn, nó cứ trôi lắc lư từ từ, nên người ta có câu "đủng đỉnh như cái chỉnh trôi sông"
để tả con người làm gì cũng chậm chạp, không xốc vác chút nào.



Miền Bắc gọi cái tỉn là cái chĩnh, như trong câu: Chuột sa chĩnh gạo. Trong khi người Nam thì lại nói: Chuột sa hũ nếp.

Sở dĩ tôi phải dài dòng về cái tỉn nước mắm là vì đó là dụng cụ để ăn trộm vịt.

Nếu đàn vịt mà còn đang ăn trên đồng cạn nước thì vô phương bắt nó. Người lạ đến gần thì cả đàn chạy dạt ra xa và kêu cạc cạc ầm lên. Anh chàng chăn vịt vác cái sào tre lại đứng trên bờ ruộng thì làm sao bắt trộm cho được.



Phải đợi bầy vịt ra con kinh đào hoặc sông nhỏ mới ra tay được.



Lên phía trên giòng nước chảy, cột vô cái tỉn đã múc nước gần đầy, chỉ nổi phập phờ, một sợi dây nhợ dài như dây diều. Ngay quai xách lại móc hai lưỡi câu có mồi cua hay cá. Cái tỉn được thả trôi xuống phía bầy vịt.




Anh chàng chăn vịt giữa trưa nắng chang chang, nóng thấy ông bà ông vải nên chui vô bóng mát dưới rặng trâm bầu. Anh nằm dài lấy cái nón lá ngửa ra kê đầu, mắt hấp háy nhìn trời và chân thì gác tréo ngoe, vừa nhịp nhịp vừa hát:

-Sương thu lạnh bao trùm khắp nẻo
Trăng đêm nay dìu dịu cả không gian
Tôi với em đi gánh nước cạnh đình làng
Mùi cỏ dại mơ màng trong đêm vắng .....

Nước giếng trong giữa đồi cát trắng
Bên ánh nguyệt mờ soi đôi bóng giao kề
Dưới trăng khuya tôi với em quảy gánh ra về ......

Anh đang mơ màng cái cảnh đi gánh nước với em, thì hai con vịt của anh ăn nhằm lưỡi câu, nó giằng qua giựt lại làm cái tỉn chao đi và nước tràn vô đầy tỉn. Cái tỉn chìm xuống và với sức nặng đó, nó kéo cổ hai con vịt xuống theo tới dưới đáy sông và neo luôn ở đó.


Trong khi anh chủ của nó thì đang rướn cổ lên để ca một câu mùi tận mạng:




-Ba năm sau, tui trở về quê cũ, gánh nước đêm trăng để tìm lại kẻ chung .....tình .....
Quảy gánh lên vai tôi thờ thẩn một mình ..

Anh nhỏm đầu nhìn đàn vịt, lấy nón lá rách đội lên rồi vác cái sào dài "thờ thẫn" đi theo đàn vịt, vì chúng không khi nào chịu ăn hoài một chỗ, chừng năm mười phút sau nó đã kéo nhau đi xa cả mấy công ruộng, và anh chăn vịt lại lững thững theo sau, không biết rằng có hai con vịt của anh đầu đang cắm xuống, đít nhổng lên trời, chết mà không kêu lên được một hai tiếng cạc cạc từ giã cõi đời.

Trên cánh đồng mênh mông, giọng hát buồn thoảng theo làn gió:


-Hò ơi ! Ai phụ tôi có đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng ai
Tưởng cái giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Ngờ đâu giếng cạn ..
Hò ơi .. ngờ đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây !!

Chờ anh chăn vịt khuất d109

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2008

ÂM ĐẠO



Chuyện kể Pôl Pốt Đại Ma Đầu tu luyện đã lâu, đến ngày kia khởi phát tâm nguyện thiên hạ đại trị; trước lúc hạ san, có ghé Hồ Đồ Tiên Sinh ở Hồ Đồ Cốc để vấn đạo. Hồ Đồ trông mặt đã biết tám chín phần tâm địa, nói:

Ngươi sắp lên ngôi báu đấy. Xin có lời mừng.

Thiên hạ bao nhiêu là cao nhân; bản thân chỉ nguyện giúp đời, nào dám nghĩ đến tranh giành ngôi thứ?

Nói là nói vậy, chứ phàm người có quý tướng, không sớm thì muộn, cũng phải gặp hồi vinh hiển.

Tiên sinh khéo đùa, chứ mặt heo, tai chó, tay khỉ, lưng trâu thế này, sao có thể gọi quý tướng?

Ngươi chưa hiểu. Quý tướng chỉ có nghĩa là dị tướng đó. Ở đời hễ hiếm, hễ lạ, thì quý. Nọ đời Tần bên Tầu có kẻ chỉ nhờ dương vật to lớn phi thường mà phút chốc lên ngôi giả phụ của Vua. Có gì dưới gầm trời này gọi được là bất khả?

Được như lời, thì quý hóa xiết bao. Nay giả có lên ngôi báu, thời phải trị dân lẽ nào? Mong tiên sinh vì đời, chỉ dậy đôi lời minh triết; sẽ xin ghi chép vào lòng, làm cẩm nang tối thượng.

Chẳng dám. Những điều ta nói chỉ là lập lại cổ nhân, chẳng dám tự nhận là minh triết.

Vậy cổ nhân dậy thế nào?

Cổ nhân dậy dân nào cũng là dân, thời nào cũng đi chân đất mà cầy cấy, đi xe ngựa mà bán buôn. Có khác là khác Vua, khác cách trị. Có một cách nọ: Thế thiên hành đạo. Vô vi nhi trị. Bất khả tư nghị. Người người đều thư thái. Theo cách ấy trị dân gọi là Đế Đạo, chỉ bậc thánh hiền mới làm được.

Nghe mù mờ quá, chẳng khác Hư Không, làm sao phân biệt? Xin cho nghe cách khác.

Lại một cách nọ: Lấy danh lợi, tiền của, mà khiến người. Ai nghe thì được danh, được lợi, chẳng nghe thì miễn bàn. Cách ấy trị dân gọi là Vương Đạo, chỉ kẻ lắm tài, lắm tiền, mới làm được.

Xưa nay Độc Nhất Thư Chi Nhân, Tư Nhất Riel Chi Thủ, tài chẳng bao nhiêu, tiền chẳng bao nhiêu, cách ấy chẳng theo được. Xin cho nghe cách khác.

Còn một cách nữa: Lấy miệng lưỡi mà mê hoặc người. Lấy vũ lực mà khiển người. Lấy cái chết mà dọa người. Chẳng ai dám phản. Nơi nơi đều yên. Theo cách ấy trị dân gọi là Bá Đạo, phải người bản lãnh mới làm được.

Ma Đầu cướp lời:

Ôi, cao kiến. Xin theo cách ấy. Hôm nay sáng được nghe lời phải, tối dẫu nhắm mắt cũng không ân hận vậy.

Nói xong, lậy tạ, rồi khấp khởi xuống núi ...


*


Lại nói Hồ Đồ, ngày đó cũng bỏ Cốc, ngao du sơn thủy. Tưởng đã chẳng bao giờ còn thấy Ma Đầu, nào ngờ buổi kia, nhân hái thuốc chốn thâm sơn giáp ranh Xiêm Quốc, xảy gặp một toán quân đang tuần lánh nạn, cầm đầu lại hóa ra là cố nhân. Có điều, giờ trông y sao lạ: Xiêm áo xác xơ, mặt mày hớt hải. Tùy tùng lại càng thảm: Tay cụt chân què, sứt tai mẻ mũi, bước đi bước khóc, rất đỗi... dễ thương. Động lòng, hỏi:

Sao lại đến nỗi này?

Ma Đầu sấp đất, tru lên:

Tiên sinh ơi là tiên sinh! Sao không báo trước cái hậu vận này? Trời ơi là Trời! Hồ Đồ ơi là Hồ Đồ!

Ngày nọ ngươi bỏ đi ngay, ta nào kịp thêm một lời? Giờ xin kể cho nghe, ngươi đã làm gì nên nỗi?

Làm gì ư? Từ buổi ấy về ngay cố hương, gặp thời cơ lớn, cứ y cẩm nang tối thượng mà làm; những tưởng một đời an hưởng ngôi báu, ngờ đâu ngồi chưa nóng chỗ, đã bị đánh đuổi tan tác, phải bỏ của chạy lấy người, lánh vào tận chốn này. Chao, cẩm nang ơi là cẩm nang!

Cẩm nang tối thượng là cái quái chi? Cụ thể ngươi đã làm những gì?

Còn hỏi đã làm gì nữa ư? Lấy đao búa mà kề cổ người. Lấy Bạch Thư, Miêu Tuyển mà răn người. Lại mỗi ngày chỉ cho ăn một hột cốc, uống một giọt máu; trăm họ rơi đầu, máu chẩy thành sông, xương chồng thành núi, xã tắc hóa tha ma, cực kỳ khoản khoát. Thế còn chửa được gọi là Bá Đạo ru? Sao ngày ấy lại dậy: chẳng ai dám phản, nơi nơi đều yên?

Ôi chao, ngươi đã nhầm lớn rồi. Cẩm nang của ngươi dẫu bá đạo đến như Kiệt, Trụ, cũng chẳng dám theo nữa là!

Cứ những lời vừa nói đó, thời đây đã chẳng theo đúng Bá Đạo ư?

Phải. Đạo ngươi tuyệt chẳng thể gọi Đế, Vương, hay Bá, gì hết; trần đời này chẳng ai, ngoại trừ một thằng khùng nọ bên nước Phổ, là lớn mật dám làm, song kết cục đã phải thẳng đường Âm Phủ lánh nạn rồi. Nói vậy, có thể tạm gọi đạo của ngươi bằng một cái tên đó.

Là gì, hử Trời?

Là ... Âm Đạo!

Sao mà nghe âm hiểm quá vậy?

Nói rồi, lại tru lên. Tùy tùng cũng rống thêm vào, lại càng thảm thiết.
124

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2008

Bang Chủ Tí Hon



Gã khoảng 6 hay 7 tuổi gì đó. Nước da đen bóng vì nắng mưa nhiệt đới. Gầy nhom, nhếch nhác trong chiếc áo sơ mi cũ kỹ màu cháo lòng dài đến đầu gối! Thiệt sự người ta không thể nào biết được gã có mặc quần đùi ở phía trong hay không. Mái tóc gã hung hung vì thiếu dinh dưỡng, vì dãi nắng tháng ngày không mũ nón. Song gã có gương mặt rất thiện cảm. Tam đình (trán, từ chân mày đến miệng và cằm) cân xứng. Ngũ quan (mắt, mũi, miệng, tai, lông mày) đoan chính sáng sủa. Đôi chân trần bé xíu của gã đã đạp khắp phố phường Sài Gòn thì phải?

Tôi gặp gã lần đầu tiên tại đường Đề Thám quận Nhất. Khi đó tôi đang đứng nói chuyện với người bạn làm ngành du lịch nơi đây. Gã đến bên tôi, ngước mắt lên nhìn, không nói không rằng, rồi chắp đôi bàn tay nhỏ xíu vào nhau để trước tâm mi (chỗ giữa đôi chân mày, cũng còn gọi là ấn đường) như đang khấn vái gì đó!

Tôi hỏi:
- Em muốn chi?

Không tiếng trả lời. Anh bạn tui cười:

- Muốn tiền chứ gì? Cái thằng bé này là bang chủ cái bang ở Sài Gòn đó!
Tôi móc túi, lấy tặng em 10'000 Đồng. Gã cầm lấy, đút vào túi ngực, rồi hai bàn tay lại chắp lại đưa lên miệng. Xong việc, gã lặng lẽ bỏ đi! Không nói nửa chữ!

Lần thứ hai, tôi gặp gã ở khu chợ Bến Thành vào lúc 9 giờ tối. Tôi đang ngồi ăn tô hủ tiếu. Gã xuất hiện cũng nhẹ nhàng như lần trước. Chắp tay đưa lên trán.

Tôi hỏi gã:
- Em ăn hủ tiếu không?

Gã gật đầu. Tôi kéo cái ghế bên cạnh cho gã ngồi. Trước khi gã ngồi xuống, gã đưa hai bàn tay chắp lại đặt trước miệng. Vì có việc phải đi, tôi kêu người chủ hàng múc cho gã một tô hủ tiếu như tôi vừa ăn. Trả tiền hai tô, rồi bảo gã:

- Ăn ngon há!

Gã không cười, chỉ đưa đôi mắt đen láy nhìn tôi. Tôi chẳng biết gã nghĩ gì!

Lần thứ ba, tôi gặp gã ở chợ Trương Minh Giảng, khi tôi đang loay hoay mua lẳng trái cây và chục hoa hồng đến thăm người hàng xóm cũ. Gã lẳng lặng đứng bên. Bàn tay nhỏ chắp lại để trước trán. Tôi cúi xuống nhìn gã. Vừa ngạc nhiên vừa buồn cười.

- Đi đâu đây bang chủ?

Gã chợt nhe răng ra cười! Lần đầu tiên tôi thấy gã cười. Hai chiếc răng cửa đã không cánh mà bay! Khoảng trống ấy ngập ngừng muốn nói gì lại thôi. Tôi hỏi:

- Đói hả!

Gã gật gật cái đầu với mái tóc vàng hung. Tôi tiếp:

- Muốn ăn gì?

Gã lấy tay chỉ chỉ hàng đậu hũ chiên cách đó không xa! Tôi không hiểu, tưởng gã chỉ hàng phở nằm gần đó! Nên hỏi:

- Phở hử?

Gã lắc đầu, chỉ hàng đậu hũ lần nữa! Tôi vẫn không hiểu!

- Hả? Cái gì đây bang chủ?

Gã bật cười hic hic, có ý chê tôi chậm hiểu. Gã đưa hai bàn tay ra dấu vuông vuông. Tôi hiểu rùi.

- Đậu hũ chiên hả bang chủ?

Gã gật đầu hài lòng!

- Sao lại muốn ăn đậu hũ chiên cha?

Gã đưa ngón tay chỉ lên trời. Tôi lại không hiểu:

- Ăn đậu hũ chiên bay được à?

Gã lắc đầu lại toét miệng ra cười. Nụ cười ngây thơ và chế diễu. Gã đưa bàn tay ra dấu tròn tròn. Tôi chợt giật mình:

- Ngày rằm, trăng tròn hả?

Gã gật đầu hài lòng! Mô Phật, ra gã ăn chay vào ngày rằm! Tôi bật cười và thú vị! Hỏi gã:

- Bang chủ cần mấy bìa đậu?

Gã đưa 2 ngón tay ra trước mặt! Tôi hỏi thêm:

- Mấy ngàn để mua được 2 bià đậu?

Gã đưa 4 ngón tay ra. Tôi móc túi đưa cho gã 5'000 Đồng. Gã chắp tay đưa lên miệng trước khi nhận tiền. Cầm tiền gã chạy đến hàng đậu. Tôi đang đợi người ta trang trí giùm lẳng trái cây. Chợt thấy có người giật tay, tôi nhìn lại. Thì ra gã "bang chủ", gã dúi vào tay tôi tờ 1'000 Đồng. Tay kia gã đang cầm cái bịch có 2 bìa đậu. Tôi ngẩn ngơ:

- Thui, giữ lại xài đi bang chủ!

Gã lắc đầu!

Lần thứ tư, tôi gặp gã khi đang ngồi trên xe ra phi trường, trên đường Nguyễn Văn Trỗi (Công Lý cũ). Gã đang đứng nhìn mọi người trang trí cửa hiệu sắp được khai trương. Chợt hắn nhìn về phía xe của tôi. Thấy tôi trong đó! Gã nhoẻn miệng cười và lần này gã không chắp tay vào nhau như ba lần trước mà đưa 1 bàn tay vẫy vẫy. Chắc gã biết rằng tôi đang trên đường về trú quán.

Tôi cứ tự hỏi:

- Gã là ai? Sao gã đặc biệt quá!? Phải chăng gã là vị Tiểu Bồ Tát đang hành trì trong cõi Ta Bà này!?

Chào tạm biệt "bang chủ" tí hon!183

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2007

Ba Ngày



Tiên nói qua phone, giọng hồ hởi: "Tuần sau, em sẽ ra Đà Nẵng thăm anh". Tôi gật đầu ậm ừ: "Thế thì hay quá!", trong bụng có cảm giác không buồn không vui, tự hỏi sao mình lại kỳ lạ thế này. Tôi đã hằng mong Tiên ra Đà Nẵng chơi, để tôi có dịp đưa Tiên đi đây đi đó nơi thành phố tôi sống và ít nhất, đã hơn một lần tôi chèo kéo mời Tiên. Tiên lần lửa hoài, bẵng đi một thời gian lâu tránh không nói đến chuyện này để rồi hôm nay, bất ngờ phone cho tôi. Có lẽ Tiên muốn dành cho tôi một ngạc nhiên. Tôi ngồi thừ người, tự lý giải: có phải chăng, sự chờ đợi đã làm mình mệt mỏi ...
Sáng sớm, khi tôi ghé cơ quan xin nghĩ phép cho đến hết tuần để đi chơi với Tiên, anh Mạnh đã nheo mắt nhìn tôi đầy ý nghĩa: "Chúc mày một weekend vui vẻ!". Tôi cười chống chế: "Đã weekend đâu anh, hôm nay mới là Thứ Năm". Anh Mạnh lại vỗ vai tôi: "Đi chơi với bồ, đối với tao, ngày nào cũng vui như weekend cả. Thôi về chuẩn bị đi đón nàng đi". Tôi bước ra cổng, chợt nghĩ: Tiên mà nghe được ai gọi Tiên là "nàng", chắc la làng phải biết ...

Rồi chuyến tàu chở Tiên cũng đến sân ga, trễ gần một tiếng đồng hồ, do trục trặc kỹ thuật gì đó, một lý do vô cùng chung chung được dùng để giải thích cho những chuyến tàu đến muộn. Tiên xuất hiện ở cửa sân ga, mồ hôi bết trán, miệng cười tươi rói, tay xách nặng ì. Tôi đưa tay đỡ lấy cái xách, Tiên giải thích: "Toàn là quà cho anh không đó", rồi đưa tay quệt lau mồ hôi, than thở: "Trời ơi, đi đường mệt quá hà", với một vẻ ngúng nguẩy rất dễ làm người khác mềm lòng, như một thói quen xưa nay vẫn vậy . Tôi đưa cho Tiên chiếc khăn mù xoa trong túi, Tiên gạt đi, chu môi: "Thôi, em có khăn của em". Tôi chợt nhớ là Tiên rất kỹ tính, mọi khi tôi thấy không sao, bây giờ như là một cái nhói người. Tôi đưa Tiên ghé vào một quán nước gần ga, cũng tỏ ra mừng rỡ, hỏi han đủ thứ chuyện ở quê của Tiên, rồi thấy như thể mình đang làm một chuyện rất không thật lòng. Hình như Tiên không nhận thấy ...



- o O o -


Buổi chiều đầu tiên, tôi chở Tiên đi loanh quanh phố xá. Đà Nẵng đông người, hai con đường Bạch Đằng và Trần Phú chạy dọc bờ sông, những đoàn xe cộ đi hóng mát cứ chạy xuôi xuôi, nối đuôi nhau, lòng vòng. Tiên ôm choàng ngang hông tôi, vẻ âu yếm, mãn nguyện. Gió chiều mơn man mái tóc dài của Tiên phả lòa xòa vào má tôi, nghe nhồn nhột. Tiên kể đủ thứ chuyện ở quê, bất chợt nói : "Con gái ở đây ăn mặc hấp dẫn ghê!", rồi giả lả dò xét, giọng nửa đùa nửa thật: "Anh mà quen với cô nào ở đây, chết với em". Tôi muốn chọc Tiên một chút, giả bộ ngơ ngác: "Anh thì quen với nhiều cô lắm, riêng ở cơ quan, anh cũng đã làm chung với cả chục cô". Tiên giãy nảy: "Không phải, em nói quen là quen kiểu khác kìa. Anh giả đò vừa vừa". Rồi Tiên hùng hồn kết luận: "Mấy ông con trai ăn nói kiểu như anh là ghê lắm; không tin được". Tự nhiên, tôi thấy buồn buồn. Ngày xưa, Tiên không có cách nói chuyện giống như bây giờ ...
Lần đi chơi đầu tiên sau mấy tháng trời không gặp nhau hình như có chút gì gượng gạo, chẳng hề giống như tôi hình dung. Tiên có vẻ như than thở về cuộc sống dưới quê, rồi so sách: "Con gái thành phố đẹp hơn con gái ở quê nhiều, hèn gì ... " Tôi hỏi vặn : "Em cứ nói tiếp đi!". Tiên lấp lửng lẩn tránh: "Em chỉ nói vậy thôi, chứ không có gì đâu". Tôi gắt gỏng: "Anh ghét kiểu nói chuyện lưng chừng như vậy". Tiên rơm rớm dằm dỗi: "Em biết ngay mà, anh ghét em rồi phải không?", ngúng nguẩy làm mặt giận. Tôi im lặng, có một chút mệt mỏi chợt dậy trong lòng, chợt nhớ: Tiên lặn lội ở quê ra đây thăm mình, rồi làm ra vẻ thành khẩn biết lỗi, dỗ dành. Rốt cuộc, Tiên cũng tươi tỉnh lại, đưa tay dí tráng tôi: "Anh đừng làm em buồn như vậy nữa nha !" như mọi lần giận nhau rồi huề, Tiên vẫn nói với tôi như vậy . Tự nhiên, tôi thấy mình với Tiên như đang ở trong một vở bi hài kịch, có màu mè gì thì cuối cùng phải theo một lối mòn cứ thế mà dẫm lên, không khác đi được.


- o O o -


Buổi sáng ngày thứ nhì ở lại Đà Nẵng, Tiên đòi tôi chở đi thăm bà dì họ bên Quận Ba. Dì của Tiên dáng người thấp đậm giống như Tiên, vui vẻ, xởi lởi với thằng cháu rể tương lai hết mực. Bà hô hào bắt gà làm thịt, giữ Tiên với tôi ở lại ăn cơm trưa. Tiên có vẻ tự hào ra mặt, luôn miệng khen anh Hào của con làm việc oai thế này, quan trọng thế kia, toàn làm việc với khách nước ngoài không hà ... Bà dì của Tiên nhìn tôi trầm trồ, rồi nói vẻ cầu tài: "Hôm nào con Út của dì ra trường, dì dẫm em sang nhờ cháu xin việc làm nghe". Không để cho tôi kịp nói gì, Tiên mau mắn: "Dạ, dì cần chi cứ nói anh Hào của con một tiếng, anh lo cho". Tôi nghẹn họng, nhân viên quèn cỡ tôi, ai sai đâu thì đánh đó, biết có lo ổn được cho cái thân mình chưa mà nói chuyện giúp đỡ với ai khác ...
Bữa cơm trưa rồi cũng qua. Tiên muốn đi leo núi Non Nước. Buổi chiều, đường đi Non Nước ngược gió, bụi tung mù mịt. Mấy đứa con nít bán đồ lưu niệm cứ bu theo chúng tôi gạ mua nhang để lúc xuống hang thắp cầu duyên. Tôi muốn nói chuyện nghiêm túc với Tiên vì lời hứa ẩu với bà dì của Tiên nhưng rồi lại không mở miệng ra được. Tiên xuống hang, đứng trước Đền Cầu Duyên lâm râm khấn, dáng điệu thành kính lạ thường. Tôi suýt phá lên cười, thảng thốt tự hỏi sao tự nhiên mình lại trở nên báng bổ quá như vậy. Tôi liếc nhìn Tiên, may mà Tiên không biết.
Chuyến leo núi làm chúng tôi mệt đừ. Còn một buổi tối cuối cùng Tiên ở lại Đà Nẵng, tôi chở Tiên lòng vòng quanh phố rồi ghé vào quá café vắng người. Dưới những lùm cây phía cuối khu vườn, vài cặp tình nhân đang ngồi lặng lẽ. Tiên hỏi tôi: "Anh hay ghé chỗ này lắm hả?". Tôi thành thực lắc đầu : "Chưa, hôm nay là lần đầu, mấy đứa bạn chỉ anh". Hình như tôi trả lời thế này, có vẻ hơi phân trần giải thích nhiều thì phải. Tiên tỏ ý nghi ngờ: "Sao anh có vẻ rành quá vậy?". Tôi chợt thấy buồn bã ghê gớm, chẳng lẽ tôi chỉ mới đi làm xa có một thời gian ngắn mà đã hết tin nhau đến thế này?
Tôi hỏi : "Sao lúc trưa em hứa với dì chắc quá vậy?". Tiên hồn nhiên: "Thì mình hứa vậy thôi, mất mát gì mà anh sợ. Sau này không giúp được thì thiếu gì cách nói". Tôi với tay lấy điếu thuốc lập bập đốt, cố giấu đi cảm xúc của mình. Mắt Tiên bây giờ có hơi tô đen một chút, môi kẻ đỏ bầm, hoa tay vòng xuyến đầy người. Ngày xưa, đã có lần tôi nói với Tiên là tôi không thích con gái chải chuốt nhiều, không biết Tiên còn nhớ. Rồi hoang mang tự hỏi: Không biết có phải mình đang thay đổi mà mình không biết, mình có cầu toàn quá không?


- o O o -


Tôi đưa Tiên ra ga về quê. Buổi sáng, đúng giờ đi làm, người xe đi lại tấp nập. Gặp Phụng đang chạy xe ngược chiều, váy ngắn, tóc chải bồng. Phụng gọi giật ngược tôi lại, nhìn Tiên cười cười: "Anh Hào ghê nha, chị Tiên ra chơi mà không dắt tới cơ quan trình diện". Rồi Phụng đưa ra nắm đấm: "Hôm nào anh đi làm lại, liệu thần hồn với em". Tôi nhìn sang Tiên, Tiên đang cau mặt, ngó lơ bên kia đường. Phụng nheo mắt, thầm thì: "Nàng của anh Hào có vẻ khó tính". Tiên rất ghét ai gọi mình là "nàng", Tiên nói là gọi như vậy không có đàng hoàng, tỏ ý khó chịu ra mặt, đưa tay xem đồng hồ, nhíu mày. Phụng đưa tay lên vẫy vẫy: "Bye nhe !" rồi đi. Phụng là cô em út ở cơ quan tôi, tính tình tự nhiên, gặp ai cũng đùa, cũng nhõng nhẽo được. Tôi giải thích mãi, Tiên vẫn khăng khăng: "Nhất định cổ có tình ý với anh". Rồi Tiên lại bắt đầu cái điệp khúc bất hủ: "Con gái thành phố đẹp thế, ai biết đâu được".
Tiên leo lên tàu ngồi, mặt buồn xo. Tôi đã không dỗ dành, xin lỗi Tiên như mọi lần. Đành rằng tôi có hơi bất nhẫn, dù gì Tiên chỉ còn mấy phút đồng hồ ngồi ở ga nữa mà thôi. Tôi chợt nghĩ đến Phụng, trước đây tôi chưa từng nghĩ đến bao giờ, đau lòng nhận ra rằng, tôi sắp được nhẹ nhõm rồi, ba ngày vừa trôi qua giống như một chịu đựng, ngọt ngào nhưng xa xót ...


165

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2007

Bất Chợt Một Buổi Chiều



Chai rươụ ngã chúi nhào vô đáy cốc
Dập tím bầm khuôn mặt gã đàn ông
Đáy cốc nhỏ chở lòng chai quá chật
Một giọt thừa tràn lên mắt rưng rưng


Nàng là người đàn bà không đẹp, khuôn mặt trông phách lối. Còn gã chỉ là một tên làm công trong một tiệm grocery nhỏ. Nàng có thói quen mỗi chiều đều ghé lại để mua một xâu Budweizer 6 lon 12 oz. Mỗi lúc nàng đến gã thường lẳng lặng đứng nhìn. Chưa bao giờ nàng nở một nụ cười, dù chỉ một nụ cười dùng để xã giao giả tạo. Chắc có lẽ nàng nhận thấy gã quá tầm thường. Trái lại gã rất chú ý đến nàng, bởi vì nàng có một bản mặt khó ưa, nếu không nói là dễ ghét.

Cứ thế, ngày tháng lẳng lặng đi qua, sự ghét trong gã âm thầm tăng dần tỷ lệ thuận với thời gian. Gã có thể cảm nhận biết nàng khinh khi mình, nhưng không làm gì được, vì xét ra gã còn tầm thường hơn mức nàng nghĩ. Đôi lúc gã cũng buồn tủi với vị thế quá hèn mọn của mình, vì dù gì gã cũng từng có học, dẫu không nhiều lắm nhưng cũng vừa đủ làm cho gã mỗi lúc tiếc nuối về bao ước vọng tuổi trẻ không thành trong quá khứ để ấm ức cho một hiện tại không giống ai.

Đồng lương nhận hàng tháng là đồng lương thấp nhất, chẳng dư dả, nhưng gã cũng tạm lây lất mà không cần phải bon chen này nọ. Đôi khi gã tự xem đời mình kể như kết thúc. Sống để chờ ngày tháng trôi qua mỏi mòn...và chết. Thế thôi. Chuyện thế sự trần gian không còn màng đến, nếu không nói gã quá chán ba chuyện dài tị nạn lắm rồi. Cũng chỉ là những mị ngữ hô hào để che đậy những thê thảm trong tận cùng tâm ức thối rữa từ sự no đủ vật chất trên đất nước tạm bợ này thành những viên sáp hóa trang cho từng khuôn mặt. Lúc mới đến, gã có quá nhiều kỳ vọng một sự đổi thay đến nỗi dư thừa thành mòn mỏi và thất vọng. Cuối cùng, tự khoanh cuộc sống vào manh đời rách nát, gã cầu xin tâm linh chỉ lối đưa đường để mai kia mốt nọ có về với cát bụi cũng đừng nên vương lại một chút gì có thể làm ô nhiễm thêm bầu không khí mà loài người vì cần sống đã phải hít vào thở ra hàng ngày.

Trong lúc gã yên chí đời mình như thế đó thì nàng lại xuất hiện, dễ ghét đến nỗi khuấy động sự yên lành trong tâm tư. Gã đâu còn trẻ để nôn nao bồi hồi, cũng chưa đến nỗi già để mất đi cảm giác trần tục của một con đực động tình trước một con cái do bản năng tự nhiên Thượng Đế ban phát. Nàng là người Việt họa hoằn đi lạc vào cái tiệm bán bia rượu vốn phần đông khách hàng người Mỹ. Nàng là người Việt, nhưng chưa bao giờ gã nghe nàng nói tiếng cha sanh mẹ đẻ ngay cả lúc đứng ở quày cashier tính tiền với thằng chủ cũng là người Việt một trăm phần trăm. Gã rất gai tính, gai đến nỗi hằn học tự nhủ: "Con quỷ cái này phách lối, khinh mạn không đáng cho ta để ý." Tự nhủ chỉ là tự nhủ vậy thôi, chứ con mắt trần tục của gã không thể nào không khẽ liếc vào cái vóc dáng thon thả với bộ ngực, cái mông quá tiêu chuẩn của một phụ nữ Á Đông. Nàng thường mặc loại áo pull thun, sát nách thành thử những gì chứa bên trong làn áo đó gọi là che đậy bị lớp vải thun bó chặt cứ lồ lộ hiện ra, lắc lư, lắc lư. Tóm lại ghét nhưng lại thèm, dù gì gã cũng chỉ ngoài 40 còn sung sức chán. Đâu ở cái tuổi 20, gã nhớ, cũng đã có một vài lần biết mùi vị đàn bà, rồi thôi. Cuộc chiến tranh Quốc Cộng cuốn hút vào nhu cầu đòi hỏi chiến trường quá ư bận rộn, gã chưa kịp chuẩn bị xả láng đời trai một ngày thiệt đúng nghĩa thì thua trận. Ở tuổi nào bước vào đời, gã không còn nhớ. Bước vào đời hay bước ra đời nhỉ? Đằng nào thì cũng thê thảm chừng ấy thôi. Cái mốc thời gian để gã cảm nhận chắc có lẽ ngày vứt áo thư sinh lên đường. Gã là một sinh vật có cảm giác như trăm ngàn sinh vật khác. Tuổi chớm lớn làm sao tránh khỏi những nhu cầu rạo rực, những đòi hỏi thầm kín của con người. Gã cũng đã từng mơ ước một bàn tay, một làn môi dịu ngọt để điểm trang cho ngày tháng khô cằn. Chiến tranh, sau 9 tháng quân trường tằn mằn cùng súng đạn, học cách bắn giết, gã được vứt ra chiến trường khi sương nắng thời gian chưa kịp cháy đen làn da thư sinh trắng trẻo. Gã giữ chức trung đội trưởng tác chiến của một đại đội biệt lập trực thuộc Tiểu Khu Darlac. Đại đội có nhiệm vụ trấn giữ buôn M ' Rê, tiền đồn tỉnh lỵ về hướng Nam, cách Ban Mê Thuột 14 cây số. Ngày thứ ba, tính từ lúc về đơn vị, đang nửa đêm, đại đội bị một tiểu đoàn Việt Cộng tấn công biển người. Thằng lính mang máy PRC 25 lãnh nguyên một quả 82 ly biến mất ngay trước mắt gã trong những giây phút đầu tiên. Chỉ cần giây phút đó thôi, gã bỗng lớn bằng 20 năm gom lại. Hoa bướm thuở nào cho phút thăng hoa đã nhuộm đỏ trang giấy trắng học trò. Lòng gã bỗng dưng biết hận thù cho cuộc chiến mà trước khi bước vào gã cứ ngỡ là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn phi lý. Gã nhớ, lúc đó cảm giác mình nôn nao khó tả. Sương đêm lẫn vào khói súng mờ mịt cuồn cuộn. Dưới ánh hỏa châu soi sáng từ Tiểu Khu Darlac bắn lên yểm trợ, gã ngơ ngác kiếm tìm một cái gì còn sót lại để chứng minh chỉ vừa mới đây thôi thằng lính mang máy còn đứng trước mặt mình. Nếu không chứng kiến vùng lửa sáng lóe ụp lên một sinh vật biết khóc cười, thì gã cứ ngỡ thằng mang máy ba gai bỏ trốn đi đâu thôi. Vậy mà chớp mắt lại thêm 20 năm nữa trôi qua kể từ đêm lớn lên đó. Đất nước lọt vào tay giặc, gã bước vô trại tập trung năm 22 tuổi. Ở tù vào cái tuổi tràn đầy sức sống. Tám năm sau gã được vứt ra lề, trẻ không ra trẻ, già không ra già, ngơ ngơ ngác ngác không biết mình đang sống hay đang chết. Lẩn thẩn tính sổ cuộc đời thấy thật phi lý. Qui luật tạo hóa ban cho loài người, trước khi già, ai cũng phải đều trẻ. Thế mà gã không có, gã thảm thương đến nỗi không có tuổi trẻ để đánh rơi. Hoặc giả, tuổi trẻ bỏ quên gã trên niềm đau không tưởng, hoặc giả bởi gã hăm hở kỳ vọng vào lẽ tất nhiên quy luật điều thiện ác quên cả thanh xuân. Con quỉ thời gian từ lâu ẩn mình trong bộ nhớ đưa tay gõ nhẹ vào một sợi dây nào đó trong hệ thần kinh não tủy, gã đau đến nổ đom đóm, nước mắt chạy ngược vào trong, gã càng thấm thía nỗi phũ phàng. Tình yêu tổ quốc thực sự giữa những con người đúng nghĩa bị mất quê hương cứ muôn trùng. Muôn trùng vời vợi. Thế là gã đâm ra ươn hèn, co đầu rút cổ biến mình thành loài gỗ mục nép bên lề cuộc đời. Gã sắp trở thành tro bụi thì nàng lại xuất hiện. Một hôm, sau khi nàng rời khỏi quày cashier bước ra cửa, bắt gặp đôi mắt ngây dại của gã dán theo cái mông, thằng chủ cười cười gọi lại:

"Anh Việt, anh thấy con đó thế nào?"

Gã làm bộ ngơ ngác%
3A

"Con nào?"

"Thôi đừng làm bộ. Con mẹ vừa bước ra đó. Băm mấy mà vẫn còn ngọt nước quá hén. Chửa chồng con gì, hết xẩy.

Đưa tay ngoắc ngoắc gã:

"Anh đến đây nói nhỏ cho mà nghe."

Thằng chủ liếc xung quanh làm ra vẻ xem có ai nghe lén không. Thật ra trong cái tiệm này, ngoài thằng chủ với gã là người Việt Nam, tất cả đều là người Mỹ. Cho dù thằng chủ có bắc loa hét lên cũng chẳng ai hiểu hai người nói gì. Tuy thế, tiếng nói chỉ nhỏ vừa đủ:

"Con mẹ đó chê người mình nhỏ con yếu sức nên ở vậy. Nó đang đợi thằng Mỹ nào vừa to vừa sung sức để thử."

"Bôi bác vừa phải thôi ông."

"Anh không tin? Cô ta vẫn thường nói với tôi như thế."

"Ông giỏi phịa, nhưng mà tôi thấy con mẹ đó ngạo mạn thấy mồ. Ông biết đó vào đây hằng ngày có bao giờ thèm chào tôi được một tiếng."

"Không thèm chào nhưng mà kết anh mới chết."

"Ông căn cứ vào đâu bảo con mẹ đó kết tôi?"

"Thì cô ta thường bình phẩm anh với tôi hoài."

"Bình phẩm thế nào?"

"Cô ta bảo ông giống con gà nuốt giây thun."

"Bình phẩm vậy mà ông bảo kết?"

"Chứ sao. Đàn bà kết đàn ông thường nói điều ngược lại."

"Còn gì nữa?"

"Cô ả nói cái mặt ông lịt lịt, nhưng coi chừng địt chết voi."

"Tôi mà địt chết nổi ai, thân cu ly lây lất qua ngày lo giữ mình chưa chắc đã nổi. Nhưng mà bỗng dưng nói chuyện thiên hạ làm gì không biết nữa."

"Thì thấy cặp mắt anh cứ dán vào đôi mông cô nàng muốn lọt tròng nên tôi nói cho vui vậy mà."

Gã đỏ mặt hơi ngượng, thầm công nhận thằng chủ thuộc loại không phải tay vừa:

"Hay suy bụng ta ra bụng người đó ông?"

"Cho kẹo tôi cũng không dám. Con vợ tôi dữ như cọp cái, tôi đâu dám léng phéng. Ở cái xứ đàn bà ưu tiên một này, lạng quạng có ngày bạch bu ra đường không còn một cắc. Mà tôi, như anh biết, giờ no đủ quá đâm ra hèn, thủ phận. Tôi rất sợ bất cứ rủi ro nào xẩy đến có thể thay đổi cuộc sống ngày hôm nay.”

Tự nhiên gã thấy thương thằng chủ. Dù sao hắn cũng thật tình ở một điều mà hầu hết những người qua hơn 20 năm trước đây đều không dám nhận. Gã nhìn lại mình, thầm nghĩ vài ba năm, sau khi quen nước quen cái ở đây rồi có bằng một nửa "thật tình" của hắn hay không về cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần? Cũng có thể do tính tình thằng chủ như thế, nên suốt hai năm rồi gã vẫn bám vào làm công cho hắn, mặc bạn bè đôi lúc trà dư tửu hậu nhắc nhở nên tìm một cái job Mỹ nào thủ chắc tương lai. Người Việt Nam nói riêng, người Á Đông nói chung vừa bủn xỉn vừa bóc lột tham công tiếc việc, không tình không nghĩa. Gã hiểu điều đó bởi cũng từng thấm đòn với thứ tình nghĩa giả tạo ban phát mà người ban vì lý do thừa mứa cần phải ngụy trang để khỏi mang tiếng là người mất gốc. Riêng thằng chủ này thì gã không nghĩ như vậy, ít nhất là trong lúc này.

Chiều chủ nhật, gã định nằm nhà đọc sách thì thằng chủ ào đến như ăn cướp lôi đầu gã dậy để dẫn đi uống cà phê. Gã định từ chối nhưng bản tính vị nể nhút nhát khiến cho gã khó mở miệng. Thế là gã mặc áo quần, giao hồn lẫn xác mặc thằng chủ đưa đi đâu thì đi. Nơi hai người đến là một quán cà phê nhỏ nằm trên đường Manhattan, chung quanh cửa kính. Ngồi bên trong có thể nhìn được mọi sinh hoạt bên ngoài. Chẳng có gì thơ mộng để thả hồn từ quán cà phê trên đất khách. Gã nhìn xe cộ qua lại như mắc cửi, chỉ bấy nhiêu thôi. Chả bù những quán cà phê xa xưa tại quê nhà ngồi đốt hết nửa gói Capstan để qua làn khói mờ lãng đãng phất phơ những tà áo dài của người dưng khác họ qua đường cũng đủ làm ngây ngất. Bỏ cả buổi chiều ngày cuối tuần đâm đầu vào đây thiệt là uổng phí. Gã chẳng hiểu tại sao thằng chủ của mình khùng điên như vậy. Tất cả sẽ không còn gì đáng nhớ, đáng bận tâm nếu phải ngồi tán dóc cho qua hết những giờ vàng ngọc rồi lặng lẽ ra về. Ở đời, bởi những gì xẩy ra đều mắc míu vào chữ "nếu" đầy oái oăm, nên chỉ năm phút sau gã chợt hiểu tại sao một người kinh nghiệm như thằng chủ của gã lại chọn quán cà phê nhỏ này để không uổng phí buổi chiều cuối tuần. Người xuất hiện để tiếp hai người chính là nàng, mụ đàn bà gã ghét nhất trên đời. Nàng nhoẻn miệng cười, không biết cười với ai, nhưng gã vẫn cảm thấy mình ngầy ngật vô cớ. Nàng chào thằng chủ chưa chắc gã có phần, thế mà gã vẫn lớ ngớ, tay chân vụng về thừa thãi. Thằng chủ nói:

"Đâu cần phải lính quýnh lên như vậy, hồi hộp lắm à?"

Gã chữa thẹn:

"Không ngờ ông ghê thiệt !"

"Ghê gì mà ghê. Bình tĩnh đi. Hà cớ gì phải lính quýnh, nước Mỹ có nhân quyền, sau những giờ đi cày cho vấn đề cơm áo, tất cả mọi người đều bình đẳng. Lúc này anh là khách, anh phải trưng dụng quyền làm khách của mình."

Lời nhắc nhở vàng ngọc khiến gã chợt nhớ chiều nay gã là người khách đến uống cà phê chớ không phải tên làm công của tiệm grocery nơi nàng thường ghé lại. Điều đó giúp gã bình tĩnh phần nào."

"Xin lỗi, ông uống gì?"

Nàng hỏi. Lần đầu tiên sau nửa năm đụng mặt. Khi con cóc mở miệng gọi trời mưa, lòng gã bỗng choáng ngợp. Gã lúng túng:

"Chị cho uống gì cũng được."

Nàng lại nhoẻn miệng cười, lần này gã hiểu nụ cười dành cho mình. Chỉ một nụ cười xã giao thôi nhưng không biết sao máu trong cơ thể rần rần dồn lên mặt. Gã ghét nàng lắm mà. Tại sao kỳ vậy? Mùi nước hoa... nhè nhẹ lùa vào khướu giác. Hơn hai mươi năm mới ngửi được mùi đàn bà dù qua không khí vẫn thảm thiết đầy êm ả như thường.

"Cho ảnh một cốc Hennessy."

Thằng chủ đỡ lời, gã hơi thắc mắc, tại sao quán cà phê lại bán rượu.

"Có gì đâu ngạc nhiên, ở đây bán cà phê cho Mỹ và rượu cho người Việt Nam, đặc biệt cho anh."

Cái mặt thằng chủ trông điếm đàng sao sao ấy. Hình như giữa hắn với nàng có một sự toa rập.

"Uống rượu nhé!"

Nàng hỏi, không cần gã trả lời, bước vào trong quày đem ra cho gã một ly. Rất tự nhiên nàng kéo ghế ngồi vào bàn hai người.

"Anh có vẻ hiền ít nói quá nhỉ? Ở đây hiền lắm chỉ thiệt vào thân. Anh phải tự cải tạo mình mới được."

Gã ngu ngơ:

"Tôi đã từng cải tạo."

"Không, không phải cải tạo kiểu đó đâu. Ý tôi muốn nói, anh phải tự cởi bỏ quan điểm tự ti trong đầu để thực tế hội nhập vào chốn bình yên đầy hỗn loạn này."

Văn hoa gớm, không ngờ con mụ đàn bà khinh khỉnh cái mặt dễ ghét xài toàn tiếng Mỹ, khi nói chuyện trực diện với kẻ cùng đinh như gã lại dùng từ bóng bẩy mà giản dị, sâu sắc. À, thì ra nàng là người có học, còn yêu tha thiết tiếng cha sanh mẹ đẻ thiêng liêng đó. Nàng còn dùng trôi chẩy thứ ngôn ngữ đã sắp trở thành xa xí phẩm giữa những tầng lớp mặc nhiên tôn ti trật tự sau cuộc đổi đời. Sự tôn ti lớp lang rạch ròi, kẻ trên người dưới. Kẻ trên bao gồm những ai có tiền của, địa vị, xài ngôn ngữ nước ngoài như một mốt thời thượng. Người dưới thuộc loại ương ương, dở dở như gã, khi thưa thốt, khi dựa cột lắng nghe, phải uyển mình trong mọi tình huống lý lẽ không thì dễ trở thành kẻ phá hoại gây chia rẽ cộng đồng. Ôi, gã tự biết lòng mình thèm muốn vô bờ, tất cả dù ác độc, hiền lành, dù giàu sang hay nghèo khó, lúc nào cũng nhớ canh cánh bên lòng thân phận của người mất nước, chín bỏ làm mười, nhường nhịn thương yêu nhau cùng hướng về một phía. Điều mơ ước đó chỉ là không tưởng. Gã chỉ là người dưới, còn lâu kẻ trên thống hiểu một cách thật lòng. Ly rượu nàng đưa, đủ thấm sự can đảm, gã nóng mặt:

"Tại sao chị biết tôi tự ti?"

"Gặp anh hoài tôi biết chứ. Nếu không thì tôi đâu có sắp đặt để chiều nay gặp anh."

Thì ra cuộc gặp gỡ này, nàng đã nắm thế chủ động. Hèn chi thằng chủ bắt cóc gã một cách cương quyết.

"Tôi có đáng cho chị sắp đặt hay không?"

"Đáng chớ."

"Tại sao?"

"Tại vì anh thù ghét tôi."

"Tại sao chị nghĩ tôi thù ghét chị?"

"Hai con mắt anh đầy "thù hận" như thế làm sao tôi không biết."

"Vậy mà tôi nghĩ chị không biết."

Nàng hỏi ngược lại:

"Tại sao?"

"Tại vì chị không được thông minh cho lắm."

"Chứ không phải tại đầu óc anh u ám chưa có người khai thông?"

Nàng thông minh hơn gã tưởng.

"Nhưng sao chị lại muốn gặp tôi chiều nay?"

"Tại vì anh giống một người đàn ông tôi từng gặp trong đời."

"Thì ra vậy. Người đàn ông đó giờ ở đâu?"

"Bỏ tôi rồi. Anh ta sau khi leo lên được chức giám đốc một công ty Mỹ chê tôi là một con mẹ nhà quê, không xứng đáng nên chia tay. Cũng may tôi chưa kịp cưới anh ta làm chồng.

"Chị có hận anh ta không?"

"Ban đầu thì có. Sau đó thấy anh ta tự mãn với sự thành công quên cả cội nguồn, suy gẫm lại triết lý sống ở đời, ăn để ỉa, sống để rồi chết, đời người rốt cuộc chẳng còn gì. Cái còn chăng là nỗi nhục thiên thu. Tôi thấy anh ta quá nhỏ bé nên không thèm hận, đôi lúc muốn lấy đại một thằng Mỹ trắng hay đen nào đó để trả thù, nhưng niềm tự ái dân tộc vẫn còn tiềm tàng trong máu nên thôi."

"Hèn chi thấy mặt chị khinh khỉnh, đến nỗi dù muốn, tôi cũng không dám hạ mình làm quen."

"Tại anh mụ mẫn nên tự bế tắc mình. Anh nên nhớ mình muốn làm điều gì cứ làm. Ở đời tất cả mọi chuyện đều có thể xẩy ra kể cả những chuyện không tưởng. Lúc trước tâm trạng tôi giống như anh bây giờ, hy vọng chút ít kinh nghiệm trải qua khai thông cho anh một lối thoát."

"Cám ơn."

"Anh khỏi phải cám ơn. Tôi làm việc này cũng chỉ là để kiếm thêm cho tôi một người bạn còn chất phác. Sự thật thà chất phác ở một con người là thứ xa xí phẩm cao cấp không phải có tiền là mua được."

"Chắc lúc bị ruồng rẫy chị đau khổ lắm?"

"Tức tối nhiều hơn là đau khổ. Còn anh đã từng đau khổ chưa?"

"Làm gì tôi được diễm phúc đó."

"Sao vậy?"

"Có ai rảnh rỗi thì giờ để yêu rồi "đá" tôi một phát để tôi được nếm mùi đau khổ. Nhưng mà tôi từng có cảm giác đau đớn."

Với một giọng điệu kể lể nỉ non của một chính khách hoạt đầu đang bán buôn thiện nguyện từ tâm mà vẫn bị mọi người ruồng rẫy, gã lẩm bẩm tâm sự với nàng:

"Cảm giác đau đớn một phần phát nguồn do cuộc chiến đã ném tôi vào cơn xoáy quê hương quá sớm. Đâu từ ở cái tuổi chưa kịp đón nhận lòng ưu ái của một bóng hồng thì trái tim bị bức tử. Chắc chị cũng hiểu khi trái tim đã chết thì đâu còn đau khổ nữa phải không?"

"Nghe anh nói thảm thương, tôi có cảm tưởng dường như anh chưa từng là lính, chưa từng bị tù tội hành hạ để thấu hiểu hơn, ngoài sự đau đớn nhỏ bé của một sinh vật trót sinh lầm thế kỷ, chúng ta còn có nỗi đau đớn lớn hơn phải chia xẻ, đó là nỗi đau ly tan mà hàng triệu người Việt Nam đang gánh chịu."

Gã chỉ biết trố mắt nhìn nàng. Con mụ đàn bà gã từng ghét cay ghét đắng càng lúc càng đưa gã vào mê hồn trận. Hèn chi thằng chủ tiệm grocery thường nói nàng trông vậy mà không phải vậy. Lòng ghét nàng không vì thế mà giảm, tuy nhiên lúc này gã bắt đầu cảm thấy thích thú. Mạnh dạn, gã đứng dậy vào trong quày hàng lấy nguyên chai Hennessy mời nàng.

"Tôi phải mời chị uống cùng tôi mới được. Có gì gây trở ngại cho chị không?"

"Không có gì, đêm nào trước khi ngủ tôi phải uống đủ 6 lon Budweizer mới chợp mắt được. Hôm nay phá lệ thử uống rượu xem sao."

Gã nhìn quanh quẩn tìm thằng chủ của mình, hắn biết điều lặn mất tự lúc nào. Chỉ còn gã với nàng trong quán cà phê vắng khách. Khung cảnh thật tuyệt vời cho một cuộc tấn công. Lòng gã nôn nao. Bỗng nhiên gã có cảm giác bồi hồi như lúc mới biết dậy thì. Thật là trái khoáy, gã tự sỉ vả mình, giữa lúc này lại loay hoay cùng dĩ vãng thiệt là không hợp thời, hợp cảnh. Gã nhắm mắt hít một hơi dài nhìn thẳng vào làn vải thun bó sát, tưởng tượng đó là con mẹ đàn bà lắc lư lắc lư chọc tức gã hằng ngày. Cuộc dằn co giữa thú và người trong nội tâm gã thật là dữ dội. Thoảng trong vô cùng gã nghe tiếng kiểng báo thức từ trại tập trung cải tạo boong... boong vang lên ngân nga dài vô tận. Tiếng kẻng ngộ trong gã đôi điều, gã buông nhẹ tiếng thở dài:

"Ước gì được trẻ lại, tôi sẽ cua chị."

"Sao bây giờ anh không cua?"

"Vì tôi đã già."

"Nhưng tôi đâu còn trẻ. Năm nay tôi đã ngoài 30. Hay là anh mong trẻ lại để gọi tôi là chị hai?"

"Chị quá trẻ so với tuổi, còn tôi thì ngược lại."

"Đó là lý do anh chùn bước?"

"Có lẽ."

"Anh lại khiếp nhược không thực tế. Anh đang sống trên một đất nước chủ nghĩa thực dụng, cơ hội đến hãy bám chặt. Anh muốn cua tôi thì cứ cua. Còn vấn đề chịu hay không là vấn đề của tôi."

"Nhưng mà tôi đã từng ghét chị."

"Bây giờ còn ghét không?"

"Còn, có lẽ ghét hơn lúc trước."

Nàng chợt hỏi gã một câu gần như lạc đề:

"Anh có biết trong toán học, trừ với trừ thành cộng?"

"Biết."

"Biết là tốt, anh có muốn nghe tôi đọc thơ không?"

"Đọc thử xem."

"Ghét là thương, thương thương là ghét.
Thương là ghét, ghét ghét là thương."

"Ai là tác giả?"

"Tôi chứ ai."

"Chị? Hèn gì?"

"Hèn gì... sao?"

"Hèn gì...hay quá."

"Chê tôi không biết làm thơ phải không?"

Đôi mắt nàng thoáng lẳng lơ rất dễ chết người. Trong cơn say loáng choáng của hương vị Hennessy, gã nhìn nàng bằng đôi mắt thật của thằng con trai chưa thấm đòn đời. Nàng không đẹp, Thượng Đế khi tạo hình hài đã ban cho vóc dáng nàng quá hấp dẫn để bù lại phần nào nét đẹp sắc sảo thiếu trên khuôn mặt. Gã lẩm bẩm như thằng điên:

"Nếu bây giờ tôi nói với chị một điều rất thật, chị có tin hay không?"

"Hôm qua thì không tin, ngày mai còn xét lại. Còn hiện tại thì tin. Anh nói đi."

"Chị..."

Thấy gã ấp úng hoài, nàng bèn mớm lời:

"Nếu không đủ can đảm thì đưa bàn tay đây tôi nắm để lấy bình tĩnh."

Bàn xì phé gần như nàng xuống núi xả láng, thiếu điều lật con bài tẩy cho gã xem. Vậy mà thay vì đưa tay cho nàng nắm, gã lại đứng bằng đôi chân... run lẩy bẩy. Giờ phút này nếu hình ảnh trong quán được thu vào video, khán giả có cảm tưởng như sắp sửa được xem một đoạn phim tình cảm Hồng Kông đến đoạn mùi nhất. Một gã đàn ông ngây dại chuẩn bị sụm đầu gối xuống để thú nhận nỗi lòng. Nàng cũng tưởng thế nên sẵn sàng đón nhận điều đó như một lẽ tất nhiên. Trong lúc tất cả đều nghĩ như vậy thì gã lại nhoẻn miệng cười:

"Cái điều rất thật tôi muốn nói là chị đã ban cho tôi niềm tin".

Tiếp theo câu nói lãng xẹt đó, gã thòng thêm:

"Ngay từ bây giờ và mãi mãi."

Bây giờ và mãi mãi. Bây giờ và mãi mãi. Năm tháng bé thơ ngờ nghệch, tuổi trẻ bỏ quên trong chiến tranh tù ngục có phải đến lúc lãng quên? Với hai mươi năm ruồng rẫy tình người, bao đắng cay cằn cỗi đã ngọt ngào trở lại. Lòng tự ti mặc cảm được che giấu vỗ về bằng sự tự tôn không còn nữa. Kẻ đến trước, người đến sau, tất cả cuối cùng đều đã đến. Chỉ còn sự đi từ nơi đã đến, dù mù mịt xa vời vợi, nhưng mọi chuyện trên đời, như nàng đã nói có gì mà không thể xẩy ra. Hãy trang bị nồng nàn khi còn sung sức, bỏ mặc ngoài tai những mị ngữ, ganh ghét nhỏ nhoi. Gã phải lấy lại những gì mà gã đã mất, đó là tuổi trẻ. Tuổi trẻ già nua, cứ xem cuộc đời mình không có hai mươi năm trôi tấp. Hai mươi năm dư thừa, xin mi hãy là vết sẹo.

Gã nói với nàng:

"Bắt đầu từ lúc này tôi sẽ gọi chị bằng Em."

"OK."

Nàng trả lời bằng tiếng Mỹ thay vì tiếng Việt Nam. Nhưng bây giờ điều đó chẳng sao.188