This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2006

Bà con chòm xóm



Một buổi chiều cuối năm, nằm tưởng nhớ lan man về làng quê, tôi mấy lần tự bắt gặp mình nghĩ tới chị Bốn Chìa Vôi. Hình ảnh chị xua đi lại trở về. “Ơ hay!” tôi ngạc nhiên về mình. “Vẫn chị Bốn! Thì chị Bốn. Xem chị có gì nào!”

Trong nhân cách chị có nhiều đặc điểm, nhưng đối với người làng điều thường được nêu lên như một tiêu biểu là chị không sợ thằn lằn rắn nước. Con người, đa số, vẫn đố kỵ loài bò sát; chị Bốn không đố kỵ. Chị biết khai thác đặc điểm của mình, khiến mọi người chú ý. Một nhóm bạn bè đang ngồi tán dóc, chị chạy tới mời ăn me. Đàn bà con gái nào lại không thích me? Mỗi người giành lấy một quả xong, chị Bốn rút từ trong bọc ra một gói nhỏ. Trời, sao mà chu đáo thế: lại có cả muối ớt nữa kìa. Vài bàn tay nóng nảy giật nhanh gói giấy, mở ra: con thằn lằn luống cuống nhảy hoảng vào lòng một chị nào đó. Cả bọn la như cắt cổ.

Chị Bốn Chìa Vôi có thể bắt nhốt vào túi áo một con rắn nước, lấy kim băng cài lại cẩn thận. Để rồi chỉ mở túi khi đã ngồi sát kề vài người bạn. Rắn vọt ra, kẻ nhanh nhất cũng không tránh kịp.

Người ta sợ những con vật hiền lành vô hại, sợ một cách vô lý. Chị Bốn không vô lý, thế là chị bị coi như nham nhở, lì lợm. Giá là “hôm nay”, chị được cho là rất chì. Chì thì không có gì tệ. Nhưng ở địa phương, hồi đó, người ta đánh giá thấp thái độ ấy. Có người bảo: Con đó ma vật không chết, thiên lôi đánh không chết v.v... Toàn thị là những nhận xét có tính cách thóa mạ. Trong chỗ địa phương, giàu có chẳng được mấy kẻ, hầu hết là dân nghèo với nhau. Từ lối xưng hô cho đến cách nhận xét nhau nghe có vẻ sỗ sàng mà thân mật. Xóm giềng với chị Bốn Chìa Vôi là anh Ba Càng Cua, chú Năm Cán Vá, anh hai Mỏ Gảy, cậu Ấm Sứt v.v... ai nấy đều thông cảm sự giễu cợt của bà con chòm xóm, không oán trách gì. Trường hợp đáng để ý là một người tên Hai Cư. Anh ta cũng lớn lên trong cảnh nhà nghèo khổ, không có tham vọng. Bỗng có người tuổi tác tốt bụng mách cho biết nội tổ của anh ta từng có quan tước, nếu chịu mất hai đồng bạc cho làng, anh có thể làm đơn xin tập ấm để được miễn sai. Anh nghe theo, anh được chỉ vẽ, giúp đỡ, cuối cùng được thành một ấm tôn. Anh mở tiệc khao làng và họ hàng thân thuộc. Ngay trong tiệc vui ấy anh đã nghe loáng thoáng cái tiếng “ấm sứt”. Anh lặng người đi một lát. Rồi anh bâng khuâng, trầm ngâm, như một người bắt đầu chịu trở nên chín chắn, từ bỏ những ngông nghênh rồ dại nhất thời để trở về với những cái thiết thực. Rốt cuộc, anh nhếch miệng cười nhẫn nại, chấp nhận. Tiếng “ấm sứt” phổ biến nhanh chóng. Dân làng mừng rỡ, không ganh tị tí nào đối với chút quyền lợi anh được hưởng, nhưng còn sự danh giá thì họ đã bảo toạc ngay cho anh biết là không có đâu.

Chị Bốn ngày nhỏ tên là Bình. Nhưng càng lớn chị càng toe toét, nói bậy nói bạ, bừa bãi lung tung; cho nên bị coi không xứng là miệng Bình, dù là bình vôi. Do đó, bèn đặt tên là Chìa Vôi.

Kể ra đặt như thế cũng bừa bãi, chẳng có ý nghĩa gì. Tôi thuật lại bấy nhiêu điều là để chứng tỏ ở đây người ta sống gần gũi, cởi mở. Cho đến cái tên của nhau ai nấy cũng tha hồ bôi bác lên đấy tùy thích, cái tên riêng của cá nhân không còn thuộc về cá nhân mà là kết quả những ý kiến tập thể. Sự can thiệp ngang nhiên, không e dè nể nang gì cả. Thoạt đầu, có người bất bình chút ít, rồi đâu lại vào đó.

Chị Bốn nham nhở đến nỗi mang tên là Bốn Chìa Vôi, lại còn bị rủa là thiên lôi đập ba búa không chết. Không sợ loài bò sát, đó chỉ là tính tiêu biểu, thật ra chị còn lắm điều ngổ ngáo khác. Chẳng hạn nói tục. Các nhà nghiên cứu chuyện tiếu lâm đồng ý rằng đề tài trào lộng chính của dân quê ngày xưa là cái tục. Có những vị còn đi xa hơn, cho rằng như thế không phải vì dân lao động nghèo khổ ham thích cái tục hơn hạng nho sĩ trí thức; họ nói tục chính vì óc tranh đấu bài phong tức là vì một lý tưởng cao đẹp. Hạng giàu có nho sĩ sống trong lễ giáo giả dối, tránh chuyện tục tĩu; kẻ vô sản đầy tinh thần cách mạng bèn xổ tục ra, có ý tỏ sự chống đối, khinh khi, khiêu khích, có ý muốn quăng những cái tục ấy vào mặt bọn giàu sang trí thức.

Tôi không có dịp trông thấy chị Bốn Chìa Vôi quăng cái tục vào từng lớp thống trị. Chỉ thấy chị thường nói trong lúc chuyện trò, làm lụng. Giữa đồng nước lênh láng tiết tháng mười, chị vừa cấy mạ vừa kể chuyện. Xung quanh chị, đàn bà con gái thỉnh thoảng nhao nhao, kêu oai oái, kêu lóe chóe, kêu ầm lên, như không chịu nổi. Thế nhưng họ chịu được tất. Hơn nữa, ai nấy đều hau háu đối với chuyện của chị Bốn Chìa Vôi. Họ tranh nhau nghe, họ kêu, rồi họ cười ngắc nghẻo, họ oằn người, gập người lại mà cười.

Nhìn cảnh tượng những người lao động nói cười ầm ĩ như thế giữa công việc, giữa trời nước bao la, dễ có cảm tưởng họ sung sướng vui vẻ, họ đang dự vào một sinh hoạt lành mạnh, làm sảng khoái tinh thần. Thú thực, chưa có lần nào trước cảnh ấy tôi có ý nghĩ chị Bốn Chìa Vôi đang đầu độc trí óc bạn bè. Có lẽ những câu chuyện tiếu lâm đã thành hình trong dân gian theo kiểu ấy. Có điều các khảo cứu không hay chú ý tới nỗi khổ tâm, hy sinh, của người sáng tác. Tôi được biết có lần chị Bốn Chìa Vôi bị chồng đánh một trận tơi bời, vì trong lúc cao hứng, hăng say, chị đã mang cả chuyện riêng trong buồng the ra làm trò cười.

Xưa, tôi cũng lây cái thành kiến của người làng mà coi nhẹ chị Bốn, mặc dù đối với tôi chị Bốn Chìa Vôi bao giờ cũng tốt. Ngày nay, tưởng nhớ đến chị trong niềm hối hận chân thành, tôi chỉ muốn đem tất cả sự hiểu biết lõm bõm của mình mà tìm ra một ý nghĩa cách mạng trong thái độ của chị. Bèn nghĩ rằng cái tục là cái cấm kỵ (tabou) trong cuộc sống xã hội loài người với nhau, bò sát là một cấm kỵ khác; thiên hạ tránh né những cấm kỵ ấy, chị Bốn ngang nhiên bất chấp, ấy không phải là chống đối, phản kháng, là hành vi “nổi loạn” sao? Những kẻ văn nhược nho nhã chúa sợ rắn, sợ thạch sùng, sợ các tiếng tục tĩu, những kẻ ấy đớn hèn đã đành. Còn trong hạng lao động khả kính, đầu làng cuối xóm thiếu chi người, tại sao ý thức nổi loạn lại cứ nhất định nhóm lên từ đầu óc một người nghèo rớt mùng tơi, nhà dột cột xiêu, từ một chị đàn bà lôi thôi lếch thếch, vú bõ lòng thòng? Đó chẳng phải là điểm vinh dự riêng cho chị Bốn sao?


Cái tốt đặc biệt của chị Bốn tôi không quên được là chị thường cho chim. Chị là người đàn bà độc nhất trong vùng có thể bắt được chim. Bởi vì chim chóc không phải như con cua, con ốc, con chí, con rận. Phải lanh lẹ, ph%E
1156

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2006

4 Con Chó



Khi tôi chưa sinh ra, nội đã đưa Nhưng Thẩm về nhà. "Nhưng" là đẳng cấp cao do vua ban cho nghệ sĩ nhà hát tuồng cung đình. Khi Quản ca, viên chức quản lý ban hát, sửa đổi nội dung kịch bản cổ với mục đích nịnh vua, Nhưng Thẩm quyết định uống dầu lạc nóng trong bát đèn sau một đêm thức trắng để không phải hát điều xằng bậy. Thanh quản hủy hoại, Nhưng Thẩm bị đuổi khỏi nhà hát tuồng cung đình như một phế nhân, lang thang kiếm ăn ngoài chợ. Nội thời trẻ thường rước đào hát về nhà tổ chức cuộc vui. Với Nhưng Thẩm thì khác. Rước về nuôi dưỡng vì nghĩa khí giang hồ.

Khi tôi bắt đầu hiểu biết đôi chút, nội đã qua đời, nhưng Nhưng Thẩm vẫn còn sống. Tất nhiên ba tôi không thể yêu quý ông lão bằng nội. Nhưng Thẩm chẳng thiếu cái ăn cái mặc nhưng cứ buồn như lá héo. Chỉ còn mình tôi thỉnh thoảng bắt chuyện vì ông lão là một kho chuyện ly kỳ. Năm tôi rời Huế đi học tận Sài Gòn, Nhưng Thẩm càng buồn. Tôi xin con chó nhỏ đem về cho lão có bầu có bạn. Lão đặt tên Vá, theo ngoại hình của nó.

Không dè tôi đã hại lão.

Gần một năm sau tôi nhận được thư ba tôi báo tin Nhưng Thẩm đột ngột qua đời. Chiều chiều ông lão thường ra nhà hóng mát ở vườn sau. Nhà này kiến trúc mái hình lục giác và chỉ có một cột. Lão thích nhâm nhi chén rượu ngang, ngắm mặt trời lặn trên sông Hương ở đấy. Con Vá thường bị chủ xích vào cột, nằm nghịch mẩu xương thừ. Nó lớn lúc nào không hay. Một ngày tháng bảy âm năm ấy, con Vá động cỡn, bỗng quên chủ, quên khúc xương, quên sợi xích, vụt lao theo mùi hương con chó cái vật vờ bên kia hàng rào chè tàu. Cây cột gãy, mái lục giác sụp đổ, chôn luôn lão Nhưng Thẩm xấu số trong đống đổ nát.

Cuối thư, ba tôi viết một câu, dường như cho chính tình cảnh sa sút của gia đình tôi bấy giờ: Con biết không, cây cột hai người ôm sơn son thếp vàng ấy hóa ra mục ruỗng từ lâu lắm rồi...

Hồi nhỏ, tôi được nghe Nhưng Thẩm kể nhiều chuyện ly kỳ mà mãi sau mới hiểu thấu ý nghĩa. Dưới đây là một trong số chuyện như thế.




CÁI CHẾT CON CHÓ HOANG

Sử quan dường như thức trắng đêm. Dù vậy, trông ông không có vẻ gì mệt mỏi khi đón ngày mới. Trái lại, nỗi phấn khích còn lộ trên đôi mắt tươi vui của ông. Đêm qua ông đã phóng bút chép nốt một thiên quan trọng trong bộ thông sử. Mọi việc hầu như trôi chảy. Riêng trường hợp quan tướng quốc triều trước là có phần khó xử. Trong số tài liệu gồm nhiều nguồn, nhiều loại liên quan hành trạng quan tướng quốc có những điểm khác nhau. Khổ nỗi, mức độ khác nhau không chỉ ở tình tiết mà lại quyết định cả cách đánh giá một nhân vật lịch sử quan trọng. Các bài hát dân gian và truyện truyền kỳ xem tướng quốc như một kẻ gian hùng. Trong khi văn sách của triều trước ca ngợi ông như một bậc anh hùng. Cuối cùng, sử quan đã chọn cách đánh giá của những đồng nghiệp tiền bối. Vả lại bộ thông sử cần hoàn tất trước lễ đại khánh. Điều đó hẳn sẽ làm hoàng thượng vui lòng.

Dùng xong bát cháo gà nóng sốt, sử quan sai người hầu bày bàn trà trước hàng hiên. Ông muốn hưởng không khí thanh sạch ban mai, được thư giãn đôi chút trước khi nhập triều. Từ đây, ông có thể đưa mắt ngắm vườn hoa trong dinh phủ, nhìn ra con đường cái chạy dọc tường vi, trông xa tận những ngọn đồi thông xanh mát phía đông kinh thành.

Buổi sáng yên tĩnh của sử quan chấm dứt đột ngột. Có tiếng reo hò từ phía Văn miếu vọng lại, mỗi lúc một gần. Lát sau đã nghe rõ tiếng chân nhiều người rầm rập trên đường cái. Ông chưa đoán được việc gì đang xảy ra đã trông thấy cảnh náo nhiệt bên ngoài tường vi dinh phủ. Đặt chén trà uống dở xuống bàn trà, ông đứng lên để trông cho rõ hơn. Một tốp người cầm gậy gộc đuổi theo một con chó. Họ vừa đánh vừa quát ầm ĩ: “Chó dại! Đánh chết nó đi!”...Con chó và tốp người kia vụt khuất sau mành lá rậm của rặng liễu. Tiếng kêu ăng ẳng đau đớn tuyệt vọng của con vật, tiếng gào thét đến man rợ của con người, tiếng gậy gộc giáng xuống mặt đường lát đá, xuống thân con chó dội vào tai sử quan. Lát sau, đám đông hiếu kỳ cùng những người đánh chó tản ra với những gương mặt hể hả pha lẫn hoảng sợ. Con chó đã chết.

Chuyện vặt ngoài đường chẳng đọng lại lâu trong tâm trí sử quan. Ông đang bận bịu với những điều to tát hơn nhiều...

Tối hôm ấy, trong bữa yến thưởng trăng tại Vọng nguyệt lâu vườn thượng uyển, hoàng thượng đích thân thù tiếp các quan cận thần. Trong khi chờ hoàng thượng giá lâm, các quan tán chuyện rôm rả. Tình cờ, cái chết con chó ban sáng trở thành đề tài lôi cuốn mọi người. Viên sử quan dửng dưng, không buồn bắt chuyện. Nhưng các mẩu đối thoại cứ lọt vào tai ông.

Thượng thư bộ lễ chép miệng:

"Hình như là chó dại..."

Đông các điện đại học sĩ không bằng lòng cách nói mơ hồ ấy của đồng liêu:

"Còn hình như gì nữa? Con chó hoang này dại thật rồi. Chính mắt tôi trông thấy lưỡi nó thè ra cả tấc, nước bọt nhễu trắng mõm."

Tả thừa tướng lên tiếng:

"Sao lại chó hoang, phải có chủ chứ? Các ông có thấy bộ lông nó mượt thế nào chưa?"

Tiền thị vệ giọng xởi lởi:
"Bẩm phải, tôi cũng nghĩ vậy."

Hàn lâm cung phụng gật gù tiếp lời:

"Chính mắt tôi trông thấy vòng da đeo trên cổ nó..."

Bỗng ai đó đặt câu hỏi ngớ ngẩn:

"Kẻ nào là chủ con chó he?"

Không quan cận thần nào biết được. Vọng nguyệt lâu lặng đi chốc lát.

Sử quan trầm ngâm nhìn ánh trăng rằm lung linh tự hỏi: "Có phải bộ lông con chó óng mượt? Có phải cổ nó có đeo vòng da?...". Sáng nay đã thấy nó chạy ngoài tường vi dinh phủ. Thế mà bây giờ mình không dám chắc một điều gì cả. Kể cũng buồn cười thật!"

Hoàng thượng vẫn chưa giá lâm. Câu chuyện phiếm lại tiếp tucï, có phần sôi nổi hơn. Các quan lớn đang bàn cãi về cái chết của con chó.

Đông các điện đại học sĩ:

"Nó đã cắn nhiều người, đánh chết thế là hay."

Thượng thư bộ binh:

"Đánh là thế nào? Không đuổi kịp, bọn lính giản đã bắn mất phát tên mới giết được nó đấy chứ."

Tiền thị vệ vẫn giọng xởi lởi:

"Bẩm phải. Tôi biết trong đội lính giản có nhiều cung thủ tài ba."
Hữu thừa tướng gạt đi:

"Toàn lời đồn huyễn. Không có cung tên nào hết. Con chó chỉ bị đánh bằng gậy thôi!"

Vọng nguyệt lâu như sôi lên. Các quan cận thần chia làm hai phe, tranh cãi ầm ĩ, không ai chịu ai.

Tả thừa tướng phân giải:

"Các ông đều đúng cả. Lính giản b119

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2006

Tiếng Đờn Trong Những Đêm Trăng



     A, gã đây rồi! Gã xuất hiện từ bờ bên kia và lò dò tiến về bờ bên này. Gã lại vòi rượu đây. Này, mi một ly, ta một ly, cạn! Dưới mẩu trăng cuối tháng còm nhom, lão ngồi chén tạc chén thù. Lão rót rượu ra hai cái ly, rót đầy tràn cả ra ngoài. Rồi lão mời bạn, cụng ly, rồi cạn. Uống hết ly của mình, lão cạn luôn phần của bạn. Khi chai rượu đã gần cạn, vừa lúc trăng trên mặt sông đã đến gần bên lão, lão mang đờn ra. Và kéo.

Tiếng đờn cò ai oán trong đêm, len lỏi qua từng giọt sương oằn mình trên ngọn cỏ. Những giọt âm thanh thấm vào đêm như hòa mình vào một thế giới tưởng chừng quen thuộc lắm. Tiếng đờn bên sông chỉ heo hút thổi vào gió không đủ làm ai tỉnh giấc, kể cả những người khó ngủ nhất. Vă trăng cũng yếu ớt như tiếng đờn không đủ chia ánh sáng cho mấy nóc nhà xa xa...

Người làng gọi lão là lão Gàn. Mà lão gàn thật. Lão sống một mình trong túp lều bên sông cuối làng, không họ hàng, không vợ con. Suốt ngày lừa mấy con vịt còm, đêm đến một mình ngồi uống rượu kéo đờn cò. Ngoài chăn vịt lão còn có một cái nghề mà chỉ mới nghe nhắc đến, nhiều người đã nổi da gà: nghề bốc mả. Lão chuyên đi bốc mả, hốt cốt cho người trong làng, chỉ người làng này thôi. Những cái mả mấy chục năm trời lưu lạc, nay con cháu muốn đem về nằm cạnh nhau; những cái mả không ai thừa nhận cần chuyển đi nơi khác, những cái mả dưới đáy ao... tất cả đều nhờ vào tay lão. Mỗi khi cần bốc mả người làng lại tìm đến lão. Lão có cách làm việc thật lạ lùng, chẳng cần bao bọc che chắn gì sấc, chỉ cần hai xị, đúng hai xị thôi là lão tiến hành công việc ngay tức khắc. Lão làm việc rất tỉ mỉ, lượm từng mẩu xương lau chùi, thổi rửa, thật sạch mới xếp lên tấm vải, rồi tự tay gói cẩn thận đặt vào chiếc hòm con. Lão không lấy tiền công ai bao giờ, chỉ nhận rượu cúng, còn bánh trái chia cho tụi con nít hết. Mỗi lần như thế, lũ trẻ mừng lắm, dù người lớn vẫn hay đe: nếu ăn đồ cúng mả thì sẽ bị ma bắt.

Sau mỗi lần bốc mả lão lại dầm mình trong rượu và lại kéo lên những âm thanh não nùng giữa đêm trăng cuối tháng vàng bệch như màu da người bị bệnh gan gần chết...

* * *

Vào một đêm cuối tháng, trăng nhợt nhạt như lòng đỏ trứng gà ung, trước ngõ nhà hội đồng Hào vang lên tiếng khóc khe khẽ của trẻ con. Hội đồng sai mụ Nhót ra xem. Thấy mụ đàn bà cà thọt ẵm một đứa bé vào, lão quát cho một hồi, nhưng sau nghĩ lại cứ để mụ ấy nuôi đứa bé, biết đâu sau này lại được việc.

Thế là thằng bé lớn lên trong sự chăm bẵm của mụ Nhót. Cũng như mọi đứa trẻ bị bỏ rơi khác, nó dễ nuôi đến lạ lùng, cho gì ăn nấy, chẳng bệnh hoạn gì, té không khóc, chân giẫm phải mảnh chai gai sắt, lấy bùn trét vào là khỏi.

Năm đứa trẻ lên mười, người đàn bà tội nghiệp ấy ra đi sau một lần bị rắn độc cắn. Kể từ đó, nó chính thức trở thành một đứa ở trong nhà hội đồng. Và đúng như lão hội đồng dự đoán mười năm trước, nó rất được việc. Nó chăm như con kiến, hiền như cục đất, bảo thì làm, hỏi mới nói.

Hai mươi năm sau, đứa trẻ bị bỏ rơi trước nhà hội đồng Hào bây giờ đã là một chàng trai cường tráng, gánh vác hết mọi công việc nặng nhọc trong nhà.

Hội đồng Hào có ba cô con gái, hai cô chị đã yên bề gia thất, riêng cô út thì tính lẳng lơ, đến hăm lăm mà vẫn chưa chồng. Một đêm trăng treo xếch ngược qua cửa sổ phòng khách, lão hội đồng cho gọi thằng ở lên. Từng lời đường mật lần đầu tiên trong đời chảy vào tai con người côi cút ấy. Tao gả cô út cho mầy, coi như mầy đã trả ơn cho tao, tao còn cho mầy mảnh đất sau đồi, mai mốt sẽ cho tụi thợ xây nhà ở đó.

Anh tá điền đứng đực người ra. Bây giờ anh mới hiểu tại sao mấy hôm nay cô út thường ra cây khế phía sau vườn hái quả nhai ngấu nghiến, còn ông hội đồng thì lúc nào cũng vò đầu bứt tai tức tối. Anh chợt hiểu ra hoàn cảnh của mình lúc này. Anh không có quyền lựa chọn.

Rồi căn nhà sau đồi cũng được dựng lên. Và một bé gái ra đời. Anh rất thương con, chăm chút từng li từng tí. Đêm nào đi soi, anh cũng bắt vài con ếch nấu cháo cho nó.

Thỉnh thoảng trong cuộc nhậu có kẻ khịa khích, anh chỉ cười trừ ''Trâu ai nghé mình''. Những người hàng xóm luôn ái ngại cho anh. Họ thương anh vì cô út từ ngày lấy chồng vẫn không thay đổi tính nết. Mỗi lần nghe hàng xóm kể chuyện, anh chỉ cười buồn rồi bỏ đi.

Năm con bé tròn năm tuổi, cái nghề anh không hề mong đợi nhưng tất phải đến cũng đã đến. Đêm ấy là một đêm cuối tháng, trăng vàng chạch lả bả trên sông, đi mỏi cẳng mà chẳng kiếm được con cua con cá nào, anh quay về giữa chừng. Vừa đẩy cửa vào nhà đập ngay vào mắt anh là một cảnh tượng tồi tệ. Anh với cái rựa dựng ở góc nhà. Một tiếng tru ai oán vang lên giữa đêm khuya...

Mọi người sẽ tưởng anh chết già trong tù, nhưng không, anh đã trở về sau hai mươi năm chăm chỉ lao động cải tạo, nhờ có thành tích vạch trần một âm mưu vượt ngục, anh được đặc xá. Trở về với cây đờn cò và ngón đờn do một người bạn tù xấu số truyền lại trước khi ra đi, anh không còn chốn dung thân. Hàng xóm kể, đứa con gái mà anh yêu thương, cất công chăm bẵm đã bán đất, bán nhà theo một tay anh chị ra nước ngoài mấy năm rồi.

Rồi vào một đêm cuối tháng, có một người lặng lẽ bơi qua sông dựng một túp lều nhỏ cuối xóm. Và cũng từ đó, người ta bắt đầu nghe những tiếng đờn thê thiết trong những đêm trăng.

Những người già trong làng thỉnh thoảng kể cho lũ cháu nghe về cái ngày mà lão từ bờ bên kia bơi sang bờ bên này. Ngày đó đã xa lắm rồi, ít người nhớ đến. Họ cũng không quan tâm lắm đến một con người mà nếu không có người ấy vẫn không ảnh hưởng đến cuộc sống của ai. Lão nuôi bầy vịt còm, câu cá, bắt cua sống qua ngày, đi bốc mả kiếm rượu uống đêm đêm, không nhờ vả ai, không nợ nần ai. Dần dần người ta cũng quen với những tiếng đờn cò ảo não trong những đêm trăng cuối tháng...

***

Có người từ ''bên kia'' về thăm nhà. Người nhà xôn xao chuyện con gái lão gởi cho lão mấy ''vé". Hôm người ấy đem tiền đến cho lão, lão cười nói luôn. Chưa bao giờ dân làng thấy lão nói nhiều như vậy. Lão mua bánh kẹo cho tụi trẻ con và mua rất nhiều rượu. Đêm hôm ấy lão lại ngồi uống rượu một mình với trăng. Đến nửa đêm lão lại lấy cây đờn ra và kéo. Những giọt đờn run bần bật giữa hơi sương giá lạnh...

Hôm sau và sau nhiều hôm nữa, bên sông không còn bóng dáng túp lều đâu nữa. Có người quả quyết lão đã ôm tiền đi xứ khác mà hưởng vinh hoa phú quý. Có người thì khẳng định lão lấy tiền đốt lều của mình rồi nhảy xuống sông mà chết, sau trôi ra biển nên không thấy xác... có người nói như đinh đóng cột rằng mình vẫn nghe tiếng đờn thảm thiết trong những đêm trăng tàn... *
182

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2006

Án Mạng Ðêm Cuối Năm



Luật sư Mayher chăm chú quan sát chàng trai ngồi trước mặt ông, con người bị buộc tội giết người có dự mưu.

- Voler, tôi thiết nghĩ, anh nên thành thật khai báo, tôi mới có thể bào chữa cho anh được.

- Biết nói thế nào nhỉ. Tôi không thể bị buộc một tội mà tôi không hề làm. Tôi vô tội, tôi vô tội. Ông phải hiểu điều đó.

- Vâng. Tôi đang cố gắng lo cho anh được tự dọ Nhưng mọi bằng cớ đều chống lại anh. Không phải cứ la lên là mình sẽ vô tội.

- Tôi xin thề trước Thượng đế là tôi bị nghi oan. Tôi đã rơi vào một cái lưới không thể thoát ra được.

- Anh đừng thề mà hãy nói rõ cho tôi nghe, anh quen bà Fren trong trường hợp nào?

- Hôm đó, bà Fren suýt bị xe buýt tông, nên hoảng hồn đánh rơi đồ đạc tung toé ra đường. Tôi có mặt ở đó nên đã nhặt giùm cho bà ấy. Sau đó, tôi gặp lại bà trong một bữa tiệc tại nhà người bạn. Bà nhận ra tôi, nói chuyện với tôi rất thân mật, và khi ra về, bà yêu cầu tôi ghé thăm bà. Bạn tôi nói bà là một cô gái già rất giàu có, sống một mình với chị người làm và tám con mèo.

- Anh đang túng thiếu, lại làm quen với một bà già giàu sụ và cố tình kéo dài sự liên hệ thân mật. Nếu chúng ta chứng tỏ rằng anh không hề biết bà Fren giàu và anh chỉ đến thăm vì xã giao...

Mặt Voler tái đi:

- Havey, bạn tôi đã nói vụ bà Fren giàu trước mặt tôi và rất nhiều người, một vài người còn chế giễu tôi là chuột sa hũ nếp nữa chứ.

- Như vậy thì tôi phải giải thích sao khi một người trẻ tuổi đẹp trai như anh lại mất thì giờ cho một bà đã luống tuổi có tính khí khác thường.

- Thú thật với ông, sau lần viếng thăm đầu tiên, bà đã khẩn khoản mời tôi đến nữa. Bà than rằng bà cô đơn quá, nên xem tôi như con. Bà tử tế, nuông chiều tôi, do đó, tôi thực sự cảm mến bà như một người mẹ.

- Đến lúc nào thì bà ấy yêu cầu anh trông nom sổ sách cho bà?

- Sau bốn, năm lần viếng thăm. Bà ấy tính toán kém trong việc hùn hạp làm ăn.

- Vậy mà chị hầu phòng Jannette quả quyết rằng bà chủ của chị rất thạo việc. Đấy cũng là ý kiến của các ngân hàng có tài khoản của bà ấy.

- Họ nói sao ấy chứ trước mặt tôi, bà ấy tỏ ra rất vụng về.

Luật sư Mayher nhìn Voler. Ông tin vào sự vô tội của chàng thanh niên. Voler đã nói thật. Tâm lý các cô gái già là thường giả bộ ngây thơ để nhận ở những người đàn ông sự giúp đỡ. Và Voler đã đáp ứng được điều đó. Tằng hắng, ông hỏi:

- Có bao giờ anh lợi dụng lòng tin của Fren để kiếm lợi riêng cho anh không? Tôi sẽ có hai cách để bào chữa. Nếu trung thực, anh sẽ không cần nhúng tay vào máu để kiếm được món tiền mà anh có thể kiếm được một cách lương thiện. Bằng ngược lại, anh có những thủ đoạn mà bên công tố biết và sẽ đưa ra. Khi đó, tôi sẽ bảo rằng anh chẳng dài gì mà giết con gà đẻ trứng vàng ấy cả.

- Cảm ơn lòng tốt của ông. Tôi lúc nào cũng ngay thẳng khi làm việc với bà ấy. Nếu người ta cho rằng, tôi lợi dụng vật chất nơi bà ấy, thì cái chết của bà chỉ thiệt hại cho tôi thôi.

Luật sư Mayher nhìn thẳng vào mắt Voler:

- Anh có biết là bà Fren đã lập di chúc để một phần lớn tài sản cho anh không?

Voler nhỏm dậy như bị điện giật"

- Ông nói sao? Bà ấy để của cho tôi à? Vô lý.

Giọng luật sư vẫn điềm tĩnh:

- Anh không biết việc này thật à?

- Ồ, tôi hoàn toàn không biết gì cả.

- Vậy mà cô Jannette lại quả quyết là anh biết cơ đấy. Chính bà Fren đã tiết lộ với cô ta về chuyện này.

- Jannette ghét tôi nên bịa đặt đấy. Ông phải tin lời tôi.

- Anh đã đến nhà bà Fren vài buổi tối, chỉ có mình bà, và sáng hôm sau bà bị giết ở phòng khách. Quả thật tối hôm đó, lúc 9 giờ rưỡi, Jannette có ghé nhà bằng cửa sau để lấy một vài món lặt vặt ở phòng riêng rồi đi ngaỵ Cô ấy khai là có nghe thấy tiếng nói chuyện giữa bà chủ và một người đàn ông từ phòng khách.

Voler đứng phắt dậy:

- Vậy là tôi thoát nạn rồi. Vào lúc chín rưỡi, tôi đã về tới nhà. Vợ tôi có thể chứng minh cho tôi. Cảm ơn Thượng đế xui khiến Jannette ghé về đúng lúc.

Nét mặt luật sư vẫn không bớt đăm chiêu:

- Vậy theo ý anh, ai đã giết bà Fren?

- Một tên cướp. Y đã dùng thanh sắt đập vào đầu bà Fren. Một cánh cửa sổ bị phá vỡ, một số đồ vật bị lấy đi. Nếu không có sự nghi ngờ vô lý của Jannette và ác cảm của cô ta đối với tôi...

- Sự việc không đơn giản như vậy đâu. Anh nói anh về nhà lúc chín rưỡi, vậy mà Jannette lại nghe tiếng đàn ông nói chuyện với bà chủ trong phòng khách. Không lý bà ấy đi nói chuyện bình thường với một tên cướp?

- Dù sao đi nữa, người đó cũng không phải là tôi. Tôi đã có mặt tại nhà lúc chín rưỡi. Xin ông hãy đến gặp Romen, vợ tôi sẽ xác nhận lời khai của tôi.

- Bà Fren biết anh có vợ không?

- Dĩ nhiên là có.

- Jannette đã khai là chưa bao giờ anh đem vợ đến thăm bà Fren, cho nên bà ấy tưởng anh độc thân và có ý định sẽ lập gia đình với anh.

- Vô lý, bà ta quá già.

- Chuyện đó không thành vấn đề.

Voler đỏ mặt:

- Đó chỉ là sự tưởng tượng của Jannettẹ Tôi van ông, hãy đến gặp vợ tôi.

Romen, vợ Voler là một phụ nữ cao lớn, tiều tụy. Bà tiếp luật sư Mayher với vẻ hững hờ. Trông bà bình tĩnh đến lạnh lùng, điều này đã làm cho luật sư e ngại. Dù muốn dù không, ông cũng phải trình bày mọi việc cho người đàn bà ấy nghe. Im lặng một lát, Romen cất giọng đanh thép:

- Voler muốn tôi xác nhận là tối hôm đó, hắn trở về nhà lúc 9 giờ 20 phút chứ gì. Đừng hòng. Tôi không bao giờ đồng lõa với kẻ sát nhân đâu. Ông hãy nghe cho rõ đây, tôi xác nhận là Voler đã biết Fren có để lại gia tài cho hắn nên hắn đã giết mụ già để sớm được vinh thân. Tối hôm đó hắn trở về lúc 10 giờ hai mươi, trên áo đầy máu. Hắn thú nhận tất cả với tôi. Tôi sẽ là nhân chứng buộc tội hắn.

- Chị không thể làm chứng chống lại chồng.

- Hắn không phải là chồng tôi mà là một người đàn ông tồi tệ. Tôi căm thù hắn. Tôi muốn trông thấy hắn bị treo cổ.

- Tôi sẽ đến gặp chị sau khi liên hệ với Voler.

Romen bĩu môi:

- Ông tin là hắn vô tội ư? Thật đáng thương!

Trước ngày tòa xử, luật sư Mayher nhận được một lá thư, nét chữ nguệch ngoạc: "Nếu ông muốn vạch mặt mụ đàn bà đã hại chồng mình như thế nào, mời ông mang theo 2.000 đô la, đến địa chỉ X... vào lúc 19 giờ, hỏi bà Motion".

Khó khăn lắm, luật sư Mayher mới tìm thấy địa chỉ căn nhà. Đó là một túp lều ổ chuột nằm trong một con hẻm lầy lội, dơ dáy. Một mụ già lưng còng đợi ông sau cánh cửa:

- Chào anh chàng luật sự Vào đây, vào đây.

Ngọn đèn trên trần tỏa ánh sáng lờ mờ. Luật sư Mayher giật mình khi thấy gương mặt mụ già đầy những vết sần sùi đỏ hỏn. Mụ cất tiếng the thé:

- Axit đấy, anh bạn trẻ ạ. Tôi sẽ trả thù, trả thù.

- Thôi đi, bà hãy vào vấn đề nhanh lên.

Bàn tay gầy đét với những ngón cáu bẩn đưa ra:

- Thế tiền đâu? Phải đủ hai ngàn đấy nhé.

- Nếu bà biết điều gì đó, bà có bổn phận ra tòa làm chứng.

- Không. Tôi chả biết quái gì cả, nhưng tôi có thể cho anh một vài thứ rất haỵ Anh có thích đọc một lá thư của mụ Romen không? Rất cần thiết cho anh đấy. Đưa tiền đây.

- Tôi chỉ có một ngàn thôi. Nếu bà không chịu tôi xin kiếu.

- Quỷ tha ma bắt anh đi. Nào, bốc xỉa ngay.

Mụ già rút dưới tấm nệm rách ra một xấp bì thư, ném trước mặt Mayher:

- Chắc chắn anh sẽ khoái lá thư trên cùng.

Tất cả đều là những bức thư tình, do Romen viết gửi cho một người tên Mac. Lá thư cuối cùng viết đúng ngày Voler bị bắt: "Mac yêu quý, Voler vừa bị bắt vì tình nghi giết người. Em biết, Voler là một tên hiền như bụt, không hại đến một con ruồi. Nhưng em sẽ khai trước tòa là hắn trở về nhà với máu me đầy mình và đã thú nhận tội lỗi với em. Hắn sẽ bị treo cổ và chúng ta sẽ có nhau... ".

Mụ già nói thêm:

- Mac là chồng tôi. Ngày xưa, vì con bé Romen mà anh ta đã tạt axit vào mặt tôi. Tôi thù nó và đã theo dõi, rình rập nó trong bao nhiêu năm trời. Bây giờ nó sẽ bị trừng phạt vì tội khai man để đẩy chồng vào tù. Anh cứ tin đi. Hãy đến rạp chiếu bóng Eden đưa tấm hình Romen ra, người ta sẽ cho anh biết sự thật.

Không bỏ phí thời gian, luật sư Mayher đến ngay rạp chiếu bóng và ông đã đạt được ý muốn. Chẳng qua, trước khi lấy Voler, Romen từng là diễn viên kịch, nên nhiều người biết mặt. Họ xác nhận, đêm hôm xảy ra án mạng, Romen vào rạp coi xuất chót, vào lúc 10 giờ 20.

Ngày họp tòa. Romen khai rằng buổi tối hôm xảy ra án mạng, Voler ra khỏi nhà mang theo một thanh sắt. Hắn trở về lúc 10 giờ 20 và thú nhận với chị là đã giết bà Fren, hắn còn dọa sẽ giết chị nếu chị nói sự thật.

Lập tức, lá thư tội lỗi được đưa ra. Các chuyên viên về chữ viết đã xác nhận chữ trong thư đúng là của Romen. Người đàn bà điêu ngoa đã phải gục đầu thú nhận. Quả thật, Voler đã trở về nhà lúc 9 giờ 20 như lời anh đã khai.

Voler được trắng án.

Nhưng sự việc không ngừng ở đây, bởi lương tâm luật sư Mayher cảm thấy không yên. Lòng dạ Ông bồn chồn khi nhớ lại những cử chỉ của Romen trước vành móng ngựa. Lưng chị hơi còng, bàn tay phải luôn xòe ra, một thói quen kỳ la... hình như ông đã thấy một người cũng có cái tật như thế. Ai? Luật sư giật nẩy mình. Đúng rồi, Romen đã từng là kịch sĩ... mụ già mặt thẹo!

Ông tìm đến nơi Romen đang trả giá ba tháng tù vì tội khai man. Đầu óc ông quay cuồng với bao câu hỏi. Tại sao? Tại sao?

Người đàn bà trở lại vẻ lạnh lùng cố hữu:

- Tại sao tôi lại chơi cái trò ấy à? Tôi phải cứu chồng tôi chứ. Một lời khai của người vợ thương chồng đâu có thuyết phục được ai. Nếu những lời nói của tôi không tự ý mình, mà do những tác động bên ngoài bắt buộc thì ai cũng phải tin. Tôi bị phạt tù vì khai man hại chồng, nhưng chồng tôi sẽ được cảm tình của tòa và mọi việc sẽ thuận theo chiều hướng tốt đẹp.

- Còn tập thử Còn anh chàng Mac?

- Nếu chỉ viết một lá thư thì có vẻ giả tạo quá. Còn anh chàng Mac ư? Làm gì có, đó chỉ là một cái tên ma.

Luật sư Mayher hậm hực:

- Lẽ ra chị không nên làm thế. Chúng ta có thể chứng minh sự vô tội của Voler bằng một cách hợp pháp hơn.

Romen nhếch mép:

- Thế ông vẫn tin Voler vô tội ư?

- Dĩ nhiên. Chị đã rõ là tôi tin như vậy.

- Tôi thì chả rõ gì cả. Tôi biết chắc là chồng tôi đã giết bà Fren. Để làm gì ư? Vì chúng tôi quá nghèo, ngài luật sư ạ.
129

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2006

Bà Chủ Hờ



Cuối cùng, tôi 'chịu' gã và nhận chức bà chủ của một khu nhà vườn khá thơ mộng. Một bà chủ chẳng phải vợ ông chủ vì không có cưới xin, không công khai, mặc ai muốn hiểu sao thì hiểu. Gã có vợ, mấy đứa con đã lớn cả. Chúng vào hùa với mẹ gầm ghè tôi nhưng không làm gì được vì cái 'uy' của gã. Từ đó, cứ lãnh thổ của ai người đó quản. Vợ con gã làm chủ một dinh thự lớn ở phố cùng một số cửa hàng kinh doanh đồ điện. Còn tôi chịu trách nhiệm cai quản khu nhà vườn với hơn chục phòng trọ. Gã thích đi đâu thì đi, đến đâu thì đến. Với tôi, điều đó chẳng mấy quan trọng. Tôi theo gã chẳng qua để đánh đổi một cuộc sống vật chất. Cái giá rất sòng phẳng. Trong hợp đồng này không có tình yêu, nhớ nhung và những gì đại loại như thế.

Phòng ngủ của tôi quét vôi màu nắng. Đó là tôi bảo gã sửa sang lại trước khi tôi đến. Những căn phòng còn lại vẫn được giữ nguyên một màu xám nhờ khó gọi tên, khiến căn phòng quét vôi mới trở nên lạc lõng, trơ trọi và có vẻ hơm hĩnh. Ngày trước, cạnh nhà tôi là một ngôi nhà nhỏ màu nắng. Chủ nhân là hai người chẳng giàu có gì nhưng rất yêu nhau. Với tôi, màu của căn nhà người láng giềng kia lại rạng rỡ hơn bất cứ sắc nắng nào trên trần thế, để từ đó ngấm ngầm mơ ước. Nhưng té ra, tôi có thể gọi thợ quét bao nhiêu lớp vôi mầu vàng tùy thích mà không thể khiến nó trở thành căn nhà rạng rỡ trong ký ức.

Cửa sổ phòng ngủ mở ra một khoảng vườn rộng. Một nhánh bàng như thể chia tay tự giới thiệu mình. Cây bàng vươn lên từ đất, vững chãi và trầm tư, làm điểm tựa cho cành lá lòa xòa trong mưa, trong nắng, trong ngày và đêm. Có cảm giác chỉ cần làn gió nhẹ thoảng tới, chiếc lá đỏ rực kia sẽ sà xuống cửa sổ để nói với tôi bằng ngôn ngữ riêng của nó. Điều đó khiến lòng tôi dịu xuống. Chỉ có một điều khó chịu, mỗi khi cánh cửa sổ mở ra, dù muốn hay không tôi cũng phải nhìn thấy dãy phòng cho khách trọ, như một cái gai mà người ta cố quên đi càng không thể quên được. Với tôi, sự hiện diện của những phòng trọ kia không những làm lợn cợn vẻ nên thơ của khu vườn mà còn gợi lên cảm giác lờm lợm chẹn ngang cổ khi tôi quyết định 'lên ngôi' bà chủ như thế này. Mỗi ngày mở cửa là mỗi ngày bắt buộc tôi tự nhìn vào tâm can của mình để đối diện với một sự khuất phục.

Những căn phòng trọ được xây dựng kiên cố nhưng vẫn không thể nào che dấu nét tạm bợ. Bởi nó chẳng thuộc về ai. Ai yêu mến chúng? Những người ở trọ rồi sẽ ra đi, còn với kẻ kia chúng chỉ là một phương tiện kiếm tiền.

Khách trọ của tôi phần lớn là sinh viên. Có vài người công nhân và duy nhất một cô gái làm nghề bán bia... ôm. Những người đến trọ thường ghép hai hoặc ba người để ở một phòng cho đỡ tiền. Riêng cô gái bán bia ôm ở một mình. Cô ta không có bạn cùng ở hay không muốn cùng ở với ai tôi không được rõ. Chỉ thấy cô chọn căn phòng cuối lối đi, cũ kỹ và tồi tàn. Tôi biết chắc là cô chọn nó, bởi vì còn mấy phòng tốt hơn vẫn để trống.

Xem trong sơ đồ và danh sách người thuê nhà, tôi biết cô gái bia ôm tên Vân. Thường mỗi buổi sáng, cô ở nhà. Nếu không giặt giũ gì cô đóng tịt cửa lại, chẳng giao tiếp với ai. Khoảng ba giờ chiều cô 'đi làm' và đến tận khuya mới trở về. Tôi để ý đến Vân không vì cô là gái bia ôm mà bởi vì cô là một gái bia ôm lạ lùng. Hôm đến thu tiền nhà, tôi ngạc nhiên bởi cách bài trí căn phòng của cô. Tuy đơn sơ nhưng trang nhã, tự tin. Những bông cẩm chướng xòa xuống gợi một cảm giác cô đơn đau nhói. Không dưng tôi cảm thấy bối rối. Cảm giác không còn tin vào bản thân trở lại khứa vào da thịt khiến tôi bải hoải, rã rời. Chắc là Vân hiểu nhưng không nói gì. Cô nhìn tôi bằng một cái nhìn cảm thông. Thoạt tiên, tôi phản ứng bằng một cơn giận dữ nhưng rồi tôi nhớ lại cái hợp đồng bất thành văn quỷ quái của cuộc đời mình, đôi tay xuôi xuống.

Sao thế nhỉ? Một người dưới đáy xã hội như cô ta mà vẫn còn tin vào bản thân ư? Vậy sao Vân không tự mình thay đổi số phận? Tôi không biết Vân đã học đến lớp mấy, gia cảnh thế nào và vì sao lại làm cái nghề hèn kém, khiến người ta không thể đối xử với cô bình đẳng như với những người khác ngay từ trong ý nghĩ. Coi thường, đó là sự đồng hành với những người đối diện với cô, kể cả những kẻ tiền chùa rửng mỡ đến quán bia của các cô, chịu cái giá cắt cổ để được những cô gái như cô ngồi cạnh, mơn trớn. Những gã đàn ông vỗ ngực tự xưng 'thượng đế' đôi lúc cũng làm ra vẻ tìm hiểu thân phận của các cô gái nhưng chẳng cần câu trả lời. Hỏi chỉ để mà hỏi.

Thực ra, các gã kia chẳng có tư cách và lý do gì để có thể hỏi. Những gã đàn ông ấy, mỗi khi đã dùng thân xác phụ nữ làm trò mua vui giải trí bất cứ dưới hình thức nào chăng nữa, cũng là đồi bại lắm.

Những gã khốn nạn! Tôi rùng mình nhớ lại bộ mặt nung núc những thịt và mỡ của sếp, đến cuộc giằng co trong phòng lạnh đóng kín và hậu quả là một chiếc cúc áo của tôi văng ra. Chuyện sẽ chẳng ai hay, sếp có thể được bảo toàn danh dự nếu chị tạp vụ không tình cờ vào phòng sếp quét dọn, bắt gặp tôi đâm bổ ra với gương mặt hoảng hốt. Và trong khi quét dọn chị nhặt được chiếc cúc áo. Thế là tôi bị sa thải vì 'không đáp ứng được yêu cầu của công việc'. Tiếp sau đó là những ngày thất nghiệp, lê chân khắp cái thành phố nhỏ bé kiếm việc làm. Việc gì cũng được, miễn lương thiện. ở đâu người ta cũng bảo chờ. ủy là một cách tế nhị của câu trả lời 'không'.

Hy vọng kiếm được việc làm càng mong manh hơn khi người ta không tiền bạc, không cả một 'chỗ dựa'. Tôi quyết tâm sống tự lập mỗi khi nghĩ đến mẹ vò võ như một chiếc bóng ngay chính trong ngôi nhà mình. Cái hôm ba quát vào mặt mẹ rằng' tao làm ra tiền, tao có quyền đưa gái về nhà... đừng lộn xộn...' Hôm đó mẹ tự tử.

Thế mà nhiều lần mẹ nói với tôi sẽ tự tử, tôi chỉ cười nhạt. Cái kiểu cười có vẻ như ngạo đời nhưng thực ra cũng mang lại cho người ta chút ít niềm an ủi. Và tưởng rằng có thể an ủi được mẹ. Nhưng chẳng hiểu vì sao, cứ mỗi lần mẹ rên rỉ về điều đó, tôi lại liên tưởng đến xác cô gái trong một vụ tự tử mà tôi chứng kiến. Cô gái chấm dứt cuộc sống của mình bằng cách nhảy xuống sông. Người ta bảo, vì uất ức quá mà trầm mình. Xác chết được vớt lên đặt trên bãi cỏ trong cơn nắng gay gắt của một ngày cuối hè. Cô ta nằm đó, thân phận bọt bèo câm lặng một cách thiêng liêng cách biệt với những người tò mò xúm quanh...

May mà mẹ không biết. Người
ta kịp đưa mẹ đến bệnh viện 'súc' sạch đống thuốc mẹ nuốt vào dạ dày. Nếu không, với cả tôi, mẹ cũng sẽ trở nên bí mật trong cái thể xác câm lặng vĩnh viễn. Mặc kệ tất cả, mặc kệ...

Phải tự lập. Tôi đành xin tiếp thị bia. Cũng may người ta chấp nhận ngay vì tôi có một ngoại hình khá. Thực ra công việc tiếp thị bia bọt trong nhà hàng của các cô gái gặp không ít khó khăn. Họ phải làm sao luôn luôn tươi cười mà không lơi lả, đứng đắn nhưng không nghiêm nghị quá... Nói chung, phải thiết lập một khoảng cách cần thiết để tránh sự sàm sỡ của một số thượng đế... mà vẫn mời được khách mua hàng.

Một hôm, tôi bị thằng choai choai ngật ngưỡng bất ngờ thọc tay bẹo đùi. Tôi giáng cho hắn một cái tát rồi bỏ việc. Sau cú đó, tôi 'gật' gã.

Tôi quen gã cũng chính trong nhà hàng. Gã đợi ai đó. Tôi đến mời gã dùng loại bia của hãng tôi tiếp thị. Gã chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân như thể người ta đang đánh giá cân nhắc một món đồ nào đó mà người ta có dự định sẽ mua với bộ mặt lộ vẻ ưng ý. Sau vài lần như thế, gã bảo muốn có tôi làm 'vợ lẽ', rằng tôi sẽ là bà chủ một cơ ngơi khá. Gã nói về điều đó một cách chậm rãi chính xác từng chữ, dường như để tôi nhận diện sự việc thật rõ ràng trước khi đồng ý hợp đồng với gã.

Công bằng mà nói, gã chẳng làm gì để tôi phải ghét. Gã chu cấp cho tôi cuộc sống vật chất thừa thãi, giữ lời hứa để tôi làm 'bà chủ' khu nhà vườn, hàng tháng thu tiền khách trọ, muốn làm gì tùy thích gã không động tới. Chỉ có điều, mỗi lần lên giường cùng gã, cảm giác như muốn nôn ọe bởi nhơ nhớp tiết ra từ chính bản thân. Tôi tập cho mình có thể đánh mất cảm giác, có thể trơ lỳ ra, nhưng không kết quả, chỉ có thể mím môi nhắm tịt mắt lại, chờ đợi lúc gã kết thúc, với luận điệu tự an ủi, rằng gã đã thẳng thắn và sòng phẳng. Còn tôi, cũng đã tự nguyện chấp nhận trò đổi chác chẳng do ai ép buộc, cũng như tự nguyện gục mặt xuống để họa cho mình một kiểu đi lầm lũi.

Vân thì khác. Vân có dáng đi rất ấn tượng. Lưng, cổ và đầu đều thẳng khiến những bước đi thanh thoát. Cũng như cách bài trí căn phòng, dáng đi của cô toát lên một sự tự tin và cô đơn quá. Tôi lấy làm lạ lùng. Cốt cách kiêu hãnh kia lại có thể chung chạ với cái mà bản thân mà cô khinh bỉ.

Đêm nọ, Vân trở về khá muộn so với thường lệ. Cô có vẻ say, tra mãi chiếc chìa khóa mà không làm được. Lại một sự lạ nữa. Tuy là gái cùng ngồi với khách nhưng chưa bao giờ cô uống. Cô cười nhạt kể: 'Đổ cha nó hết xuống gầm bàn để rồi cứ đầu chai mà chém. Đó là công việc của tụi em mà'. 'Người ta chịu mất tiền dễ dàng thế sao?'. 'Thì cũng phải hy sinh chút đỉnh, quàng tay qua vai hoặc ôm cổ chẳng hạn, cốt nhất là rót vào tai chúng những lời thật trơn. Còn khoản kia 'em' nào đồng ý với khách thì cuốn nhau đến một xó xỉnh nào đó ai mà biết được'...

Tôi giúp Vân vào phòng. Cô bảo tôi ngồi xuống, cô kể điều này. Cô ngước nhìn tôi, miệng cười mà mắt lại đang khóc. Những giọt nước mắt không chịu lăn ra cứ tràn trề trong mắt lấp lánh. Tôi nhận thấy ngay, đó không phải là nỗi đau, trái lại, nó đồng nghĩa với nụ cười và còn cao hơn cả nụ cười, đó là niềm hạnh phúc. Hạnh phúc khiến người ta khóc phải là một hạnh phúc lớn lao lắm.

'Ông ấy đã tin tôi. Có một người đã thực sự đau lòng trước hoàn cảnh và số phận của tôi' - Lúc này, Vân như đang nói với chính mình chứ không phải là kể cho tôi nghe nữa. Nhưng tôi vẫn ngồi đó, như thể bị dán chặt xuống chiếc ghế.

- Lúc ông ấy bước vào cùng những người khác, thằng đại ca rỉ tai em bảo, phải tiếp đón con người chững chạc kia cho chu đáo. Ông ta là nhà văn đấy. Nhà văn đây cũng cóc cần. Đã bước chân vào chốn này thì cùng họ hàng với nhau cả. Ông ta còn là một ông già cơ đấy. Càng già bao nhiêu lại càng đáng khinh bấy nhiêu. Lúc em bắt đầu dùng khăn ướp lạnh lau mặt cho ông ta theo bài bản, ông liền ngăn lại và bảo.

- Con không cần phải làm như thế.

- Thì ông đến đây làm gì?

- Để biết.

Chẳng hiểu sao lúc đó em nổi xung lên, trợn mắt hỏi:

- Vậy ông có biết vì sao tôi lại đi làm cái nghề này không?

- Ta nghe đây - Ông nhìn em như một người cha độ lượng nhìn đứa con.

Và thế là em kể hết, kể cho ông nghe điều kinh khủng mà em đã phải trải qua. Cái điều mà chưa bao giờ em hé răng cho ai biết. Cái nguyên nhân khiến em bán linh hồn cho ma quỷ.

Ông ngồi lặng lẽ. Lúc lâu sau, ông rút trong túi áo ngực đưa cho em một chiếc phong bì bảo đó là tiền nhuận bút của ông vừa nhận sáng nay, thế rồi ông đi. Em chỉ còn biết ngồi trơ ra đó, nhìn theo. Ông cúi đầu đi mải miết. Được một lúc thì rẽ sang phố khác, và em chẳng nhìn thấy ông nữa.

- Thế đám người cùng đến với ông ấy?

- Họ đang say sưa, chỉ bảo kệ ông ấy. Ông ấy hơi bị gàn gàn đấy.

- Thế ông không khuyên dạy một điều gì sao?

- Không. Ông chỉ bảo, về đi con. Vậy thôi. Nhưng mặt ông ấy lạ lắm, như thể là nỗi đau đớn, em cam đoan với chị đấy, một nỗi đau đớn. Thế là em ngồi đó uống và uống. Chẳng ngon lành gì, đắng lắm, nhưng em vẫn uống'.

Một cái gì đó đang vỡ ra. Ngay chính bản thân tôi cũng cảm nhận được. Vân run run mở xách, lấy từ trong đó ra chiếc phong bì, giọng trầm xuống như một lời thì thầm: 'Em đã bán linh hồn cho ma quỷ. Và đây, chính là món tiền chuộc'.

Mấy hôm sau, Vân trả phòng. Và ra đi...

Không ngờ rằng, một người ở trọ ra đi lại có thể tác động mạnh đến cuộc sống của tôi như thế. Như bị cảm, tôi lên cơn sốt, lúc nóng lúc lạnh, tâm tư thảng thốt. Tôi đóng cửa nằm lì trong phòng, đôi lúc lên cơn mê sảng. Trong cơn mê, tôi thấy mình là một vận động viên trong cuộc thi chạy đường dài. Những người tham dự cuộc thi đang cố gắng để về đích, cái đích dường như ở ngay trước mắt nhưng thực ra vẫn còn xa lắm. Người ta chạy, chạy mãi, kẻ trước người sau. Riêng tôi khó nhọc nhấc những bước chân nặng nề và cuối cùng tôi bỏ cuộc. Vài người chạy qua tôi, nhìn tôi bằng những con mắt xa lạ. Nhưng rồi có một đôi mắt với tôi thân thuộc lắm, đôi mắt với những đường hằn mệt mỏi, đau đáu nhìn tôi. Mẹ! Tôi vùng vẫy, cố tỉnh dậy, nhưng dường như ai đó níu lấy tôi. Gương mặt Vân lòa nhòa. Vân hỏi, bao giờ tôi ra khỏi nhà trọ?

Lần này tôi tỉnh được. Đầu nặng trĩu. Cảm thấy ngột ngạt, tôi mở toang cửa sổ. Chiếc lá đỏ rực hôm nào đã không còn. Thay vào đó là chiếc lá xanh non mơn mởn. Có nghĩa, trong lúc tôi trải qua những cơn mê thì chiếc lá đỏ cũng trải qua thời kỳ sống để giã biệt thân cành. Thì ra, những chiếc lá cũng có cuộc sống riêng của chúng. Còn tôi lại không dám sống bằng chính cuộc sống của mình với bao nỗi đau, hạnh phúc và khát vọng...

Cũng giống như chiếc lá đỏ trước kia, chiếc lá xanh non rung rung theo gió, như tự giới thiệu mình. Chiếc lá hình con mắt như thể nhìn tôi hỏi, tôi là ai?
154

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2006

Báo thù



Gió đã lặng. Những áng mây nặng nề giăng mắc bầu trời. Sương mù dày đặc. Có lẽ đang buổi chiều hoặc hoàng hôn, cũng giống như những buổi chiều đông, và lớp tuyết dưới chân anh ta vỡ vụn. Anh đang đi trên con đường mòn dẫn lên núi. Thật khó thấy những gì ở quá tầm mười bước chân.


Những con đường này chẳng có gì nguy hiểm. Tâm hồn anh nặng trĩu, anh đi và thầm nghĩ. Núi non trông rõ hơn, bầu trời xanh xanh như vừa mới được lọc xong. “Thời tiết sao mà tồi tệ thế, còn tâm hồn ta sao quá nặng nề thế!” và anh tiếp tục leo cao hơn. Anh ta 33 tuổi, bàn tay trái thiếu mất hai ngón và tên anh là Karl Klotz.

Qua một khúc ngoặt, anh bỗng nghe thấy một tiếng kêu rên, nghe rờn rợn như tiếng của một con ó hay một con kên kên đang hấp hối ở gần đâu đây. Anh kinh hãi đứng lại và nghe ngóng. Xung quanh im vắng như cõi tha ma, một sự tĩnh mịch nặng nề bao trùm không gian. Đột nhiên, tiếng rên rỉ ma quái ấy lại vang lên, rất gần, hình như trước mặt anh ta vậy.

Anh lao về phía trước chừng vài mét bọc quanh một chỗ ngoặt của con dốc dựng đứng để qua bên trái. Sương mù làm cảnh vật sáng lờ mờ. Anh ta nghe tiếng rên, ngay phía trước mặt. Một người đang ở dưới chân anh hai mét, bị mắc vào lùm cây, hai tay hắn bấu chặt vào nhánh cây cho khỏi bị rớt xuống vực sâu thăm thẳm phía dưới. Khuôn mặt hắn bị khuất, anh chỉ trông thấy cái gáy của hắn mà thôi. Sương mù che kín cái miệng vực đen ngòm và khủng khiếp bên dưới. Hắn lại ngoác miệng rên rỉ, những tiếng rên rợn người.

Klotz cúi mình xuống miệng vực. Một người đang trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm. Phải cứu hắn thôi! Mỗi người phải có bổn phận cứu giúp người khác. Klotz cúi mình xuống miệng vực, bối rối và thất vọng vì không biết phải làm thế nào cứu được người bị ngã ấy khỏi rơi vào cái khoảng không khủng khiếp bên dưới. Anh hét vọng xuống: “Ông ơi, ông! Làm thế nào bây giờ?”.

Hắn im lặng ngước mặt lên nhìn Klotz. Họ nhìn nhau chằm chằm. Một tia chớp dường như lóe lên trong đầu Klotz, anh chợt nhớ đến một kẻ tội lỗi. Anh gào to: “Anh tên gì?”.

Gã bên dưới nghĩ, chắc cái gã ở trên miệng vực điên rồi. Tên mình là gì thì có quan hệ quái gì trong lúc này. Tên hắn là Panter, nhưng biết tên để làm quái gì? Hắn gào to vọng lên trên, giọng nói vang lên như giọng của thần linh đang nổi giận: “Anh ơi! Cứu tôi! Kéo tôi lên bên trên đi! Lấy một cành cây hay cái thắt lưng của anh thòng xuống cho tôi nắm! Cứu tôi với!”.

Klotz gào lên: “Anh tên gì? Trước tiên tôi phải biết tên anh là gì đã”.

Gã bên dưới thầm nghĩ: “Quả là một thằng điên, một con quỷ.” Gã hét lên: “Panter, tên tôi là Theodor Panter! Cứu tôi với! Tôi giàu mà. Tôi có tiền, người ta phải cứu tôi. Tôi là người thượng lưu!”.

Klotz cười phá lên và hét vọng xuống: “Đúng vậy! Mày là kẻ thượng lưu, còn tao là kẻ hạ lưu. Mày không còn nhớ gì sao? Chắc mày không biết tên tao đâu. Nhưng tao biết tên mày. Mày giàu lắm, người ta luôn biết tên những người giàu có. Chắc mày còn nhớ cách đây ba năm, khi chuyến tàu bị đắm ở biển Atlantic, mày đi tàu và ở cabin hạng nhất, còn tao thì cabin hạng ba. Khi con tàu chìm dần, hành khách nhốn nháo gào thét, gió cũng gào thét, biển xanh và trắng trong dông bão. Thuyền trưởng ra lệnh, trước tiên là đàn bà và trẻ con xuống xuồng cấp cứu. Sau đó là hành khách ở cabin hạng nhất, rồi hành khách ở cabin hạng nhì. Thế rồi các xuồng cấp cứu đều chật ních! Còn bọn đi vé hạng ba như chúng tao thì sao? Đành phải mang phao và bơi giữa biển. Tao cũng lãnh một cái phao. Tao nhảy xuống biển và bơi, suýt bị chìm, tao bấu lấy mạn xuồng cấp cứu của chúng mày. Xuồng đã chật ních người, giữa biển cả mênh mông, giữa thần chết của biển. Chính mày hét lên: “Ê, lại một thằng nữa!”. Tao bấu bàn tay trái vào mạn xuồng, mồm nuốt đầy nước biển. Một thủy thủ bảo: “Để cho hắn leo lên đi”. Còn mày thì gào lên: “Xuồng đã đầy rồi”. Đồng thời mày lấy toàn bộ sức lực phang mái chèo vào bàn tay trái của tao. Thế là tao buông tay, đau đớn và tuyệt vọng, coi như đã đi đứt trăm phần trăm. Nhưng một chiếc tàu cứu hộ chạy đến, và tao sống, sống ngoài ý muốn của mày.”

Panter van vỉ: “Ông ơi, cứu tôi! Tôi mất hết sức lực rồi, cứu tôi với!”.

Bấy giờ Klotz thòng hai chân xuống vực, tay bấu víu lấy gốc cây bên miệng vực. Anh ta đạp gót giày đinh lên bàn tay của cái gã Panter bên dưới, đôi bàn tay gã đang níu kéo cành cây như níu kéo sự sống. Cành cây gãy, rơi vào khoảng không hun hút bên dưới, kèm với tiếng kêu thét kinh hoàng chấn động cả vùng núi tĩnh mịch. Và Karl Klotz bừng tỉnh dậy.

Klotz đang nằm trên trường kỷ trong căn phòng tươm tất của hắn tại Berlin. Chẳng phải đồi núi gì sất. Căn phòng hắn nhạt nhòa trong ánh hoàng hôn của chiều đông lạnh. Karl Klotz bừng tỉnh dậy mà tim vẫn còn đập thình thịch. Anh bước đến gần cửa sổ, miễn cưỡng nhìn lên bàn tay trái: hai ngón tay bị mất.

Anh ta nghĩ: Mình là thằng vất đi rồi. Không thể nào mà quên được chuyện này. Thật kinh khủng, sao cái gã trong giấc mơ lại ác độc đến vậy! Còn cái gã đi vé hạng nhất ấy – cái lão Theodor Panter – đâu phải là thằng ma cà bông mà là chủ nhà băng hoặc nhà sản xuất. Giá mà hắn đừng có đập nát tay mình, nhưng mà hắn đã cố ý đập. Thật là quá đáng. Báo thù chăng? Liệu báo thù có làm mình tiêu tan những đau đớn phải gánh chịu trong thời gian qua? Tuy nhiên, nay mai mà mình thấy hắn ở đâu, trên đường phố hay trong nhà băng, quán cà phê, xe lửa, hay văn phòng chẳng hạn, mình sẽ không giết hắn đâu. Mình chỉ tóm áo hắn, phun nước bọt vào mặt hắn, rồi nện một lượt hai tay vào mặt hắn để hắn phải mang vết bầm dập trong ba ngày.

Karl Klotz, 33 tuổi, hai ngón tay trái bị cụt, hiện là một nhân viên kế toán thất nghiệp. Anh ta vào một quán cà phê. Ngồi trầm ngâm hai tiếng đồng hồ bên tách cà phê, nghe tiếng nhạc thánh thót mà lòng sao vẫn nặng nề.
Anh biết rằng anh không còn tiền nữa, không còn quan hệ với ai, không còn cơ hội tìm một chỗ làm mới. Cuộc đời anh thực ảm đạm không lối thoát. Anh đứng dậy và rời khỏi quán cà phê, bỗng có tiếng gọi sau lưng. Đấy là Meier, một bạn học cũ. Hầu như trong danh sách học sinh của bất kỳ lớp nào cũng có tên Meier, viết na ná nhau như Maier, Mayer hoặc Meyer. Anh ta là người trầm lặng, không có gì nổi bật, sau này ra đời làm nghề thu thuế hay kế toán thương mại gì đó.

Meier là kế toán trưởng của một công ty kỹ nghệ. Được biết Klotz đang thất nghiệp, anh bảo Klotz ngày kia hãy đến gặp ông giám đốc. Công ty của anh đang cần tìm thêm một nhân viên kế toán có kinh nghiệm và năng nổ. Còn ngày mai thì đem đơn xin việc và giấy tờ đính kèm đến văn phòng của Meier. Anh ta sẽ nói giúp, chả là anh có quan hệ tốt với giám đốc mà.

Klotz vâng lời. Hôm sau anh cạo râu, hớt tóc cẩn thận%2
C ăn mặc tươm tất đến công ty. Meier đón tiếp niềm nở, và ghé tai nói nhỏ, sự việc hệ trọng đấy, ráng mà tạo ấn tượng tốt khi lần đầu gặp giám đốc Panter. Đồng thời Meier bảo cô thư ký vào gặp giám đốc và báo rằng có ông Klotz đến.

Klotz nhợt nhạt, lắp bắp hỏi: “Có phải giám đốc tên là Theodor Panter?” Meier khẽ nói: “Tất nhiên rồi. Ráng mà tranh thủ cơ hội nghe. Công việc có mòi tốt đấy”.

Nhưng rồi người ta cũng dẫn Klotz vào phòng của giám đốc. Một ông đang ngồi bên bàn giấy và lúi húi đọc. Ông ta ngước lên nhìn. Quả đúng là Theodor Panter rồi. Đích thị là hắn. Panter đang là giám đốc công ty cổ phần hữu hạn này! Hắn nói: “Mời ông ngồi, à không, ngồi đằng kia ạ. Ông đã làm việc trong một ngân hàng lớn nào chưa? Công việc ở đó là gì?”.

Klotz trả lời lí nhí, không phải trả lời cho câu hỏi của giám đốc, cũng không trả lời cho riêng mình. Anh ta ngồi đó, trên chiếc ghế bọc da trong căn phòng lịch sự của công ty đồ sộ này, và suy nghĩ lung tung trong đầu. Cái tên sát nhân. Nó đang ngồi trước mặt mình. Mình phải nói năng với nó thế nào đây. Mình phải lắng nghe nó nói, hẳn rồi, thưa ông giám đốc, ông nghĩ sao ạ, vâng hoàn toàn đúng theo ý ông thôi ạ... Chẳng có thằng nào rơi xuống vực trong sương mù cả. Mà nó ngồi đấy, béo tốt, tròn quay, thỏa mãn, một kẻ thành công! Hắn ngồi đó, giàu có và sung sướng như ông vua vậy. Còn mình ngồi trước mặt lão, nghèo đói và thất nghiệp. Một tên sát nhân ngồi trước mặt mình, hay chỉ đơn thuần là giám đốc mà thôi?

Mình phải đứng dậy, Klotz thầm nghĩ, và nhổ nước bọt vào mặt hắn. Mình phải thộp cổ áo hắn, nhưng không giết hắn, mà nện cả hai tay vào mặt hắn để hắn mang dấu vết cú nện này suốt ba ngày.

Klotz ngồi đấy và lắp bắp: “Hẳn rồi, thưa ông giám đốc! Ông cứ ra lệnh đi ạ! Vâng, lẽ đương nhiên là thế, thưa ông, hoàn toàn tùy theo ý kiến của ông thôi ạ!”. Klotz ngồi đấy, con tim đã chết.

Lão giám đốc nói với Klotz lần thứ hai, giọng lão khô khan: “Thôi, được rồi, ông Klotz. Bây giờ ông có thể ra về. Chúng tôi sẽ có thư báo tin cho ông rõ”.

Klotz hốt hoảng bật người đứng dậy, khúm núm như con chi chi, mồm lắp bắp, chả là hai năm nay anh thất nghiệp, không một đồng dính túi: “Vâng, xin đa tạ lòng tử tế của ông, thưa ông giám đốc! Kính chào ông ạ! Kính chào ông ạ!”. Rồi Klotz bước ra.

Anh đã ra tới ngoài đường, thầm nghĩ: Thế là ta đã không báo thù! Ta đã không báo thù! Ta đã không bước lên xác hắn. Không có báo thù. Báo thù chỉ có trong giấc mộng của kẻ bị chà đạp nhằm tự an ủi mình. Trong đời không có báo thù! Bởi vì kẻ bị chà đạp sẽ bị chà đạp thêm lần nữa! Còn kẻ chết sẽ bị chết thêm lần nữa.

Klotz ngồi xuống một băng đá, cây cối xung quanh anh ta xanh xanh và vô hồn vô cảm như những khách bộ hành qua lại. Anh ta nhìn lên bàn tay trái, tận gốc hai ngón tay bị mất. Anh cắn lấy bàn tay và khóc rưng rức.

Vào ngày sau, anh nhận được một lá thư ngắn gọn: “Rất tiếc, chỗ làm đã có người”. Ký tên: Giám đốc Panter.

Chiều đó, Klotz đến văn phòng công ty và nhận lại hồ sơ. Meier vội vàng ấn một cái gì đó vào tay Klotz và nói hơi tiêng tiếc: “Thực đáng tiếc! Mình thực sự lấy làm tiếc về vụ này”.

“Nhưng tại sao?” - Klotz hỏi đầy xúc động. Anh ta đã quên tất cả: biển, báo thù, cái chết và giấc mơ. Anh chỉ biết rằng hai năm nay anh đã thất nghiệp. Anh lắp bắp: “Nhưng tại sao?”.

Meier ghé mình sát vào Klotz và khẽ nói bên tai với vẻ mặt trọng đại: “Ừ, chính mình cũng không hiểu tại sao nữa, có điều ông giám đốc bảo rằng các bằng cấp của cậu đều tốt cả, nhưng ông ấy có ấn tượng là tác phong của cậu trông hèn hèn thảm hại làm sao ấy!”.

Klotz đột nhiên cười phá lên: “Ồ! Chẳng phải là tớ có ác cảm với bản thân lão ta sao?”. Thế là anh ta cầm lấy hồ sơ, chỉ cảm ơn Meier một tiếng rồi bước đi.

Meier đứng trông theo hồi lâu, và lắc đầu: Cái thằng Klotz này thật sự khó mà thông cảm được. Dầu sao nó cũng là bạn học của mình! Thế rồi Meier đi vào văn phòng giám đốc.
187

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2006

Bà Mụ Của Búp Bê



Tiếng khóa cổng lách cách, tiếng xe nổ. Tiếng càu nhàu của con dâu ông. Ðó là những âm thanh cuối cùng mà ông lão đợi - ông biết chúng đã đi làm, hai con bé đã đi học mà bây giờ ông và con Lỡ sẽ tự do trong ngôi nhà vắng lặng.

Ông chui ra khỏi cái hộp của ông, một cái buồng nham nhở, hai mặt tựa vào hông tường và bếp, một mặt che tấm ván ép, một mặt trống hoác làm cửa ra vào. Ông đã quen đổi chỗ từ hai mươi năm nay, khi con ông trở thành chủ nhân trong ngôi nhà của cha mình. Từ lầu đến trệt, từ phòng trước đến phòng sau, từ phòng rộng đến phòng hẹp và bây giờ kề bên bếp. Lần này thì chính ông đề nghị: "Bây để tau xuống nhà sau ngủ. Tau hay đi tiểu đêm mà cửa thì bây khóa...".

"Không khóa để ông đi ra, kẻ trộm đi vào à?". ' Con ông càu nhàu. Còn vợ nó thủng thỉnh: "Mùa hè, nằm đó khác chi hứng gió biển". Nằm đó là nằm ở khúc nhà ngang nối liền nhà trên với bếp. ở đó có mái nhưng tường không che chắn kín đáo như nhà trên. Thồng lộng. Con ông che tạm cho ông cái buồng này và bảo: "Rồi thư thư... con xây thành phòng". Tối đến khi cánh cửa thông đã khép, cắt ông với thế giới "trên nhà", ông thấy dễ chịu khi được một mình với yên tĩnh và bóng tối. Ông có thể ngắm cả mảng trời sao nhấp nhánh. Cả vầng trăng viên mãn tròn đầy. Cả lúc trăng mỏi. Cả những bóng cây vật vã vào nhau trong đêm mưa gió. Cũng còn dễ chịu hơn rón rén đái vào bô, từng tí, từng tí để tiếng nước tiểu không làm con dâu thức giấc, còn hơn níu tiếng đằng hắng cứ chực vọt ra khỏi họng. ở đây, ông có thể tự do đi lại, uống nước khi không ngủ được. Người già uống nhiều hơn ăn, ông có thể uống trà trừ bữa. Nhắc trà ông lại nhớ chén - cái chén sứ men lam bắt tuấn mã ông thường dùng nay đã cất trong tủ buýp-phê trên nhà. Ông có thói quen vừa uống trà vừa ngắm cái vẻ dữ dằn tuấn vĩ của tám con ngựa ở tám tư thế khác nhau. Nét vẽ sống động bằng màu xanh đậm mà vẫn trong như ngọc bích. Men trắng xanh lơ quý phái. Trà sóng sánh vàng bốc khói, tám con ngựa oai phong lẫm liệt. Uống trà trong chén ấy mới tuyệt làm sao! Nhưng chúng nói phải. Chén quá quý mà tay mình thì run - vỡ uổng lắm. Ðể còn mà ngắm - ông lão lại chép chép miệng móm mém rồi đi tìm con Lỡ. Nó đang kéo lê đôi chân cong vòng, nhỏ như cây sậy đi tìm ông. Nó ngủ trên kia nhưng khi cả nhà đi hết, nó lại được thả xuống cho ông. Con và dâu ông mắc một chứng bệnh kỳ dị - bệnh sạch. Ði làm về là chúng dọn dẹp lau chùi cho đến khi bóng như lau như li. Ðồ không dám dùng. Ngồi không dám dựa. Con cái không được chơi làm bẩn đồ đạc bóng lộn. Chúng làm lụng cực nhọc nhưng chúng không thuê người giúp việc vì sợ thêm người thêm bẩn. Vả lại đời nay biết đâu mà tin.

Con Lỡ toét miệng cười với ông. Ông đến bế nó. Ngó nó lết mà thương. Nhưng ông không bế nổi con bé. Hai ông cháu lảo đảo. Ông ngồi chỗm hỗm cho nó bá cổ. Con Lỡ nằm bẹp trên lưng ông và hai ông cháu đi đến chỗ để thức ăn. Con Lỡ vừa ăn vừa "khóc" như mọi khi. Cũng như mọi khi, nó vừa ăn vừa đút cho con búp bê trụi tóc, gãy tay của nó. Cha mẹ nó chẳng chờ đợi nó ở ngôi nhà này. Họ đợi một đứa con trai. Mẹ nó đã quay lưng khóc khi cô đỡ chìa ra một cô bé gái nhăn nheo, đau khổ như một bà cụ. Ðứa con gái thứ ba! Lại xấu xí! Lại gầy gò vì thiếu cân, thiếu tháng! Lại bị què sau trận sốt tê liệt khi lên hai!. Ðôi lúc người mẹ cùng ăn năn. Giá chăm chút nó như hai đứa trước, uống, tiêm phòng đầy đủ. Thôi thì lỡ rồi. Lỡ sinh. Lỡ quên. Ngưòi ta gọi nó luôn là con Lỡ. Nó lại bị cái gì đó ở tuyến lệ nữa. Nước mắt cứ ri rỉ ngay cả khi nó cười: Trong ngôi nhà sạch bóng, tươm tất này, nó và ông thật lạc điệu - xấu xí, vô dụng - ông đọc điều đó trong cái nhìn. ăn xong, hai ông cháu ngồi chơi trên chiếc ghế mây dưới bóng cây. Một già một trẻ có thể ngồi đó suốt buổi cho đến khi có tiếng khóa lách cách trở lại. Con Lỡ lắng nghe ông nói, không hiểu, không khen chê nhưng vẫn nghe. Nó thường bắt lấy chữ cuối của ông làm chữ đầu của nó. Tuổi tác có ý nghĩa gì khi mọi sự đều trở về. Tóc trở màu, con người lại bắt đầu như một đứa trẻ, yếu đuối, bất lực, sợ hãi, ngây thơ. Thường ông kể chuyện cho nó nghe, chuyện đời, chuyện xưa nay, bày cho nó đếm, nó đọc. Còn nó bày cho ông bán hàng bằng lá, chơi búp bê. Sáng nay mặt con Lỡ đầy vẻ nghiêm trọng. Nó cứ nhìn chăm chăm con búp bê cũ kỹ hai đời chị quẳng lại cho nó và bảo ông:

- Sáng nay con búp bê sẽ đẻ con.

- Sao cháu biết?

- Nó nói.

- Nó nói sao?

- Nó nói nó đau bụng. Con nó ở chật bụng nó.

Ông lắc đầu. Bao giờ con bé cũng ao ước con búp bê đẻ. Mẹ nó biết đẻ. Con mèo biết đẻ thì tại sao con búp bê không đẻ? Nó sẽ đẻ một con búp bê tóc vàng, má hồng và lành lặn. Ðôi khi cả một bầy búp bê cũng có!

Giá mình có thể "đẻ" cho nó một con thế nhỉ! Ông lão lẩn thẩn nghĩ. Tia mắt già nua đậu trên con bé Lỡ. Ðậu trên những chiếc lá vàng nâu nằm uể oải trên mặt đất.

- Ông thấy không? Con Lỡ lắc tay ông - Bụng con búp bê sáng nay bự chác. Nó đựng đầy con. Nhưng con nó làm sao ra được?

- Thì... thì... cũng như bà cho ra ba cháu. Mẹ cháu cho ra cháu. Có một bà tiên người ta gọi là bà mụ. - Thế bà mụ của búp bê đâu?

- Cháu đấy!

- Cháu không biết làm bà mụ. Bà mụ phải làm gì?

- Gối lên chân ông ngủ và đợi.

- Không, cháu không ngủ. Con bé lắc đầu quầy quậy.

Ông nhớ lại lúc con mèo mun đẻ. Con bé đã ngồi bên nó suốt buổi để đợi xem em-bé-mèo.

- Cháu không ngủ. Có bé lập lại, nhìn ông bướng bỉnh. Chính lúc ấy ông mới thấy mắt con bé đẹp vô cùng - trong như nước hồ thu, ươn ướt. "Giống hệt mắt bà ấy" - Ông lão thì thầm.

- Bà ấy nào?

- Bà cháu.

Rồi ông lão nhìn đăm đăm vào khoảng trống trước mặt, dường như bà hiện ra ở đó, mãi mãi ở tuổi thanh xuân với những dải nước màu đen sóng sánh, đôi mắt trong ngần, đôi má vàng óng nắng, phơn phớn lông tơ.

- Này ông! Sao con búp bê lâu đẻ thế?

Bóng bà tan biến. Con Lỡ nhìn ông chăm chú:

- Ơ! Mắt ông cũng có nước. Mặt ông lại nhăn thêm nữa. Một, hai, ba, mười, mười lăm... Nhiều quá. Chẳng ai nhiều như ông, đếm bắt mệt!

- Tại năm tháng đó cháu. Năm tháng đi qua để lại dấu vết. Ông đã sống nhiều năm tháng quá rồi!

Và bà lại hiện ra, một bà lão khô héo, cái lưng nằm mãi vì bệnh đến lở lói. Khuôn miệng cay đắng thốt những lời cay nghiệt. Ðôi mắt mờ đục chất ngất mệt mỏi.

- Thế ông cất năm tháng của ông đó à? Khi hết chỗ ông sẽ cất ở đâu?

- Khi đó ông chết.

- Ðừng... cháu sẽ chơi với ai? Miệng con bé méo xệch - ông đừng chết. Cháu sẽ cất giùm ông nếu ông hết chỗ. Ông đừng chết!

- Chưa chết đâu! Con búp bê gọi cháu kìa!

Con bé lại quên ông. Nó quay qua con búp bê mất tay:

- Này đau bụng hả? Mày đẻ con thôi. Mày đẻ một con búp bê tóc vàng đẹp như công chúa, không trụi tóc, không gãy tay. Con mày sẽ đẹp dùm mày.

Con-mày-sẽ-đẹp-dùm-mày. Chao ôi! Con Lỡ nói một câu hay quá. Ông nhìn cháu ngạc nhiên. Ông nhìn hai cẳng chân cong vòng, nhìn thân hình èo uột, mái tóc lơ thơ và chợt nhận ra nó không ngô nghê như hai chị nó, rằng ông quá hoài phí năm tháng để hiểu điều này. Trong bản chất mỗi con người, mỗi sự vật, có cái người ta không thể học được. Ôi con Lỡ của ông! Từ khi bà mất, lòng ông nguội lạnh. Chính con bé què quặt ốm yếu này đã hâm nóng nó lại. "Ai mạc ư tâm tử". Mọi sự đau xót không gì bằng nguội lạnh con tim. Thật đúng!

- Ðúng là con búp bê sắp đẻ phải không ông?

- ừ.

- Nhưng lâu quá! Con bé rên lên nhìn ông nôn nóng.

Con - nó-làm-đẹp-cho-nó. Con người được cứu vãn nhờ sự tái sinh. Ông không thể dập tắt niềm tin ấy của con Lỡ. Ông lão trầm ngâm suy nghĩ rồi đứng phắt dậy:

- Nó sẽ đẻ! Ông lão dõng dạc tuyên bố. Có điều cháu phải kiên nhẫn chờ. Ông đi mời bà mụ đây. Cháu sẽ giúp ông bằng cách ngồi yên trên ghế, không được rời con búp bê.

- Mau lên ông! Cháu sẽ ngồi yên mà! Con bé rối rít giục. Ông lão tất tả ra cổng rồi đột nhiên ông khựng lại, quay lui. Cả hai ông cháu tuyệt vọng nhìn cái ổ khoá cổng to tướng. Con Lỡ bắt đầu thút thít.

- Ðừng khóc! Ông có cách rồi.

Ông đi tìm cái ghế cao con ông vẫn dùng để tỉa hoa giấy. Nó được dựng gần tường. Ông kéo nó sát hàng rào, vụng về, khó nhọc. Ông dặn con Lỡ lần cuối trước khi leo lên:

- Nhớ ngồi yên. Ðừng tụt xuống té nghe!

- Dạ! Ði nhanh ông nghe!

Ông già bắt đầu trèo lên chiếc ghế cao. Chân ông run run, lóng nga lóng ngóng nhưng lòng ông rạo rực. Thằng bé nghịch ngợm trong ông hồi sinh - cái thằng cu Ðen thề không đặt chân xuống đất khi ở nhà một mình. Nó chỉ nhảy từ bàn qua ghế, từ ghế qua giường... Ông ngồi trên bờ tường nhìn xuống đường. Bây giờ ông phải xuống đó không có ghế. Ông bấu tay vào gờ tường và tụt xuống. Cứ nghĩ mình đi - ngược-lại. Ông vừa tụt xuống vừa lẩm bẩm và niềm vui lẫn sợ của thằng cu Ðen trèo tường đi chơi cứ làm tim ông đập thình thịch. Thời gian không thực có. Nhảy đi, cu Ðen! Nửa thước chứ mấy. Ông lão nhảy. Thằng cu Ðen táo tợn vỗ tay. Còn ông lão đau quá, khuỵu xuống. Ông nhăn mặt nhưng sực nhớ con Lỡ, ông đứng dậy, ông vịn tường bước khập khiễng. Ðể đỡ đau, ông tụt dép cầm tay. Có năm năm rồi ông không ra đường. Phố xá bây giờ lạ quá. ông lại là đứa con nít sợ lạc trước dòng người và xe cộ nườm nượp.

"Này nằm yên đó. Ông sẽ về bây giờ với bà mụ và mày sẽ hết đau bụng, sẽ đẻ cho tau một con búp bê tóc vàng, lành lặn - con Lỡ thầm thì. Nó cảm thấy buồn đái, nhưng nó nhớ lời ông dặn không được rời con búp bê, không được tụt xuống té. Mày cũng khó chịu thế chứ gì. Như tau buồn đái thế thôi". Con bé ôm bụng nhăn nhó. Con búp bê mở to đôi mắt biếc có hàng mi cong vút nhìn trời. "Chịu khó đi rồi con mày sẽ làm đẹp cho mày. Con mày sẽ không rụng tóc và gãy tay như mày. Con tau... không biết rồi con tau có làm đẹp cho tau không? Chân tau không như mọi người. Tau không làm đẹp cho mẹ và mẹ không thương tau!" Con bé thở dài. Hoa nắng bắt đầu nhảy nhót trên áo nó. Con búp bê nhắm mắt ngủ. Con bé cũng thiu thiu.

Khi con Lỡ mở mắt, điều kỳ diệu đã xảy ra. Ông nó ngồi cạnh nó. Con búp bê tóc vàng, má hồng nằm cạnh con búp bê trụi tóc, cụt tay. Còn nó, nó nằm trên vũng nước tiểu.

- Ôi! Nó đẻ rồi! Thế bà mụ đâu! Cháu muốn cảm ơn bà.

- Bà mụ đi rồi. Bà còn phải vội đi đỡ đẻ cho con búp bê khác.

- Sao ông không thức cháu?

- Rồi nó nhìn cái quần ướt sũng, bẽn lẽn: - Cháu không định tè trong quần, nhưng...

Ông vừa nhăn nhó vừa cười. Nom ông là lạ. Nửa như nó, nửa như ông.

Ông lão ngồi thở, ông còn mệt và còn đau chân lắm; khó lòng tưởng tượng những gì ông đã làm sáng nay. Nó cũng kỳ diệu và khó nhọc như con-búp-bê-đẻ-con vậy.

Con Lỡ nhìn sững con búp bê tóc vàng. Nó đẹp dễ sợ. Nó không như con mèo mới đẻ, lông bết dính và mắt nhắm tít. "Mày thích lắm nhỉ - Bây giờ mình có ba người - Ban ngày thêm ông là bốn. Tau sẽ giấu mày trong chăn - Chị tau mà thấy họ không để yên cho mày đâu".

Ðêm đó ông lão không ngủ được, ông gác hai cẳng chân đau nhức, mỏi nhừ lên thành giường. Ông đã đi bộ đến mấy con đường với cái chân đau. Chính thằng cu Ðen táo tợn, bướng bỉnh ấy kéo ông đi tới cửa hàng búp bê. Ông thò tay vào ngực - Bà vẫn nằm yên trong đó, gối đầu lên ngực ông. Chỉ có khác là bức chân dung hồi trẻ của bà lồng trong trái tim bằng ngọc bây giờ không được treo sợi dây chuyền vàng nữa - nó được thay bằng một sợi dây rút từ bao xi măng. Trong bóng tối đôi mắt đẹp như mắt con Lỡ nhìn ông cười có đuôi. Con Lỡ chắc ngủ ngon sau khi trò chuyện với lũ búp bê. Ông mơ màng thấy thằng cu Ðen kéo một toa tàu, một ông lão cà nhắc, một con bé cà thọt và một bà lão muôn thuở tuổi đôi mươi.

Trên nhà, con Lỡ ôm hai con búp bê ngủ. Nó mơ nó đẻ con. Ðẻ ra một con Lỡ con lành lặn, đôi chân tròn trĩnh xinh đẹp lộ trong chiếc áo đầm voan trắng. Con Lỡ con đẹp giùm mình. Mặc áo đầm giùm mình. Con bé ngủ thiếp với ý tưởng đó. Còn con búp bê trơ trụi tóc, gãy tay thì không ngủ. Nó thao thức nghĩ đến bà mụ của mình.161