This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2008

Cái Thang



Đã ba hôm trời mưa tầm tã, Trang không còn thấy thích thú vì cái giếng nước trong vườn đã gần đầy lên đến miệng nữa. Trời xám xịt và đất thì mòng mọng những nước. Cả nhà cứ nhắc mãi trận lụt năm trước: “ Nước vào trong nhà đến năm tấc và làm hư bao nhiêu là đồ đạc!”.
Tân mách chị:
Chị ạ, hai đứa em không phải đi học. Cả ngày chỉ ngồi trên giường cao xếp thuyền giấy thả chơi vui ghê! Được nghỉ học những năm ngày.
MẹTrang phàn nàn:
-Lúc nước bắt đầu rút là phải quét liền, không thì bùn đọng lại khó rửa sạch được. Năm ấy có ai ngờ là nước lại vào đến nhà. Mẹ đang ngủ đến nửa đêm thức dậy thấy guốc dép nổi lềnh bềnh trong phòng cả rồi!
Mấy hôm nay tuy chưa hẳn là lụt to nhưng chợ không họp nữa nên trong bữa cơm không có thịt cá rau tươi, chỉ có cá kho,mắm, muối sả, cá hộp kho lại. Trang bực mình vì phải là tã cho con. Mà con bé Li Li cứ lúc nào trời mưa là tã ướt gấp đôi những ngày nắng ráo, thế mới khổ mẹ nó.
Đến sáu giờ tối nước mưa xuống không chảy đi đâu được nữa. Tất cả các cống rãnh thông nước đều tràn đầy lênh láng khắp vườn. Chảy không kịp, nước đọng lại trong sân. Một lúc sau nước trong sân cũng không phải chỉ là nước mưa vì tất cả các ao hồ lân cận cũng lên cao tràn thêm vào. Nước lên dần dần từng bậc thềm, rong rêu ở các hồ nổi trên mặt nước lùa vào từng đám. Trang bắt đầu thấy lo ngại, chạy hết chỗ này đến chỗ kia khắp các thềm nhà để xem chừng mực nước. Mưa vẫn tầm tã không ngớt, trời ảm đạm mờ mịt không cho ai một tia hy vọng gì.
Lúc trời tối hẳn Trang bắt đầu dọn đồ đạc lên nhà trên ngủ vì phòng của nàng thấp nhất nên nước vào trước.
Mẹ Trang bảo:
-Làm gì mà cuống cuồng lên thế? Thì cũng như năm trước, hay quá lắm là gấp đôi chứ gì, đã chết ai!
MẹTrang có vẻ bình tĩnh lắm, bà dục mọi người đi ngủ, bà cũng ôm bé Thu, con của em gái Trang, mới chập chững biết đi, ru hời ru hỡi như mọi đêm.
Trang đang ngủ bỗng giật mình thức dậy lúc 12 giờ khuya, nàng tưởng như mình đang ngủ đò, chung quanh giường nước mênh mông và sóng vỗ chợp chờn. Trong tiếng mưa đổ rào rào dữ dội xuống mái ngói, từ xa vẳng lại những tiếng kêu cứu, kêu đò, tiếng gọi nhau đủ các thứ tiếng không phân biệt được. Trang chỉ biết tất cả các thanh âm ấy hòa lẫn thành một tiếng kêu thảm thiết lẫn trong tiếng mõ đổ hồi liên thanh.
Trang hoảng hốt đánh thức Lạc, người ở gái, dậy cùng nàng khênh một chiếc chõng tre đặt lên giường, bế hai con nằm xuống. Xong nàng đến phòng bên cạnh gọi em Tân và Tấn. Hai đứa bé nằm cong queo ngủ ngon lành, không biết tấm phản chúng đang nằm sắp sửa nổi lên mặt nước.
Mẹ Trang cũng đã thức dậy, bà xếp dọn một ít đồ đạc và rất bình tĩnh:
-Không sao đâu con ạ, nhà mình ở cao nhất xóm. Nếu vùng này mà ngập thì quanh đây còn ai sống nữa!
Đồ đạc trong tủ bà chỉ dọn từng dưới lên từng trên.
Ở nhà giữa, anh Bê, người con nuôi ở với gia đình Trang từ bé đang cẩn thận xếp dọn những chồng sách của ba Trang lên mặt bàn: Ba Trang chỉ huy việc dọn dẹp:
-Sách từng thấp trong tủ lớn tạm cho lên trên bàn. Đồ đạc trong tủ đổi lên từng cao nhất. Sách tủ thấp phải dọn lên tủ cao, sách mà ướt là không có giá trị gì nữa!
Cô Tư cũng đã thức dậy, cô ngồi trên giường ông, co cả hai chân lên giường, mồm ngậm điếu thuốc Cẩm Lệ to tướng. Cô không dám nhúng chân xuống nước, vì nghe người ta nói đang có chửa, lội nước bạc sẽ hư thai.
Thấy Trang lăng xăng lội lên lội xuống khắp nhà mẹ Trang gắt:
-Trời ơi, con có chịu ngồi yên một chỗ cho mẹ nhờ không? Đẻ mới dậy chưa đủ trăm ngày mà đã dám lội nước bạc. Bộ muốn chết bỏ con lại đó cho mẹ nuôi sao? Me nuôi một mình con Thu đã mệt gần ngất ngư, chỉ còn da bọc xương, con muốn giết mẹ cho mau chết nữa à!
Mực nước vẫn cao vùn vụt, trong tiếng mưa,tiếng mõ dồn dập đổ hồi, muôn ngàn tiếng kêu thảm thiết làm Trang càng bối rối hoảng hốt thêm. Nhìn cái nhà năm gian rộng mênh mông và đầy những đồ đạc quí giá đối với riêng mỗi người, Trang không biết nên bỏ thức gì, cứu thức gì. Trang cũng sợ lội nước lỡ ốm chết bỏ con, nhưng nhà còn ai nữa đâu! Một người cha già ốm liệt giường liệt chiếu, một cô hầu non chỉ biết õng ẹo làm vui lúc bình yên nhưng không thể nhờ cậy được lúc tai nạn, và giờ phút này cô chỉ sợ hư thai, không dám nhúng chân xuống nước, Bé Thu và bé Mỹ còn phải đút cơm, bé Lili mới sinh chưa được trăm ngày, hai đứa em trai 7,8 tuổi, con của dì Ba, một nàng hầu đã chết. Tất cả được đặt ngồi trên giường cao không giúp ích gì vì mực nước đã lên quá đầu chúng nó rồi. Chỉ còn anh Bê, một con sâu rượu và cũng là một cây bệnh ngày thường, nhưng lúc này anh còn cố gượng đứng vững để sắp tủ sách cho Ba vì anh biết Ba quí sách nhất sau các cô hầu non! Mẹ Trang chỉ băn khoăn về mấy cái bàn thờ và những bộ Kinh Phật, bà không biết nên dọn gì, cuối cùng bà thắp mỗi bàn thờ một nén nhang. Hai người ở gái, một đã phải ngồi trông trẻ con sợ nó trở mình ngã xuống nước, chỉ còn một lo dọn gạo củi, nước.
Trang đang giúp anh Bê khuân dọn sách, bỗng nghe cô Tư cười the thé nói:
-He âhê hê, anh Bê ơi, còn cái tủ đồ tây của cụ nữa, vô dọn mau lên!
Anh Bê bực mình gắt:
-Thế cô ngồi đấy làm gì mà không giúp xếp dọn một chút cho dãn gân cốt. Tôi có phải là Phật bà Quan Âm đâu mà có những ba mươi sáu cái tay.
Cô Tư vẫn cứ ngồi yên dưới chân giường không cử động. Chốc chốc cô lại gọi:
-Anh Bê, đem thêm vài miếng gạch vô đây chêm chân giường, nước sắp ngập cụ rồi, hê hê hê, lụt chi lạ!
Cô vẫn ngồi co chân trên giường không dám nhúng chân xuống nước. Đồ đạc riêng của cô chỉ có mấy cái vali, cô đã cẩn thận gác lên xà nhà từ ban tối. Gói thuốc lá Cẩm Lệ cô cũng đã cẩn thận bỏ trong túi, bây giờ phận sự của cô chỉ còn lo giữ cái thai.
Mẹ Trang đang dọn đồ đạc trên nhà thờ Phật cũng chốc chốc gọi với:
-Con ơi, bàn thờ Phật sắp đổ!
-Bê ơi, tủ áo gấm của cụ …...
-Bê ơi . . .
Ba Trang nằm yên mãi cũng sốt ruột lên tiếng:
-Bê ơi, sách quí mà bị ướt rồi là không còn giá trị gì nữa!
-Chị ơi, em đói khóc đây này!
-Chị ơi, giường em sắp ngập đến nơi!
-Chị ơi . . Bê ơi . . .
Anh Bê và Trang hết chạy lên lại chạy xuống, hết chạy xuống lại chạy lên, người đã mệt mỏi nghe thế càng bối rối thêm. Riêng Trang nghe tiếng con
khóc như xé ruột. Nàng tìm được một cái bàn cao, khênh lên phản và bế bọn trẻ con đặt nằm ngồi ngỗn ngang. Phản có ba tấm ván, hai tấm trong vàø ngoài có chân bàn đè nặng nên đứng yên, còn tấm giữa không có gì chận, nổi lên mặt nước rồi bắt đầu từ từ đi du lịch khắp phòng.
Mực nước bây giờ lên vùn vụt chứ không còn lên chậm rãi như trước nữa. Trang thấy nước mắt mình đọng đầy trên mi, nàng nghẹn ngào chỉ muốn khóc oà lên . . .
-Anh Bê khiêng hộ cái va li với tôi một tay.
Rồi nàng phàn nàn một mình:
-Ai mất hết đồ đạc cũng còn lại cái xác nhà, còn tôi tất cả “ giang sơn” chỉ ở trong vali này, trôi hết thì mẹ con chẳng còn một manh!
Bỗng tiếng cô Tư thét lên:
-Trời ơi, giường cụ hỏng chân rồi!
Cả nhà nghe thế hoảng hốt vội nhấc một chiếc bàn
cao đặt ba Trang lên, và cùng phụ lực khênh chiếc bàn lên giường. Cái chân sưng của ông bị động làm ông đau đớn khổ sở lịm đi.
Mẹ Trang đứng hẳn lên lò sưởi để chuyền sách lên nóc tủ với anh Bê. Mấy tấm ván đầy sách giữa nhà bị nước đội hỏng chân, cả tấm ván nổi lềnh bềnh trên mặt nước xê dịch một lúc rồi chìm dần xuống đáy. Nước bây giờ càng lên càng nhanh, đi từ đầu phòng đến cuối phòng, lúc trở lại mực nước đã khác hẳn.
Anh Bê vò đầu bứt tai:
-Thôi hỏng rồi, mở cửa ra sân kêu cứu đi thôi!
Nhưng dù kêu cứu cũng vô ích. Ai cũng biết giờ phút này tất cả mợi người đều lo lấy thân mình chưa xong, mong gì ai cứu được ai! Giá cả gia đình Trang có tận lực kêu gào thì cũng chỉ góp thêm vài tiếng kêu thê thảm lẫn vào muôn ngàn tiếng kêu cứu khác vẳng lại từ bốn phía.
Trời tối đen, mưa vẫn tầm tã, điện bỗng nhiên tắt làm cho mọi người lại càng khủng khiếp thêm trong lúc nguy hiểm. Cõi sống và cõi chết bỗng giáp nhau gần đến nỗi người ta cảm thấy không còn biên giới nữa!
Thấy con mèo mướp lội vùn vụt dưới nước kêu gào một cách rùng rợn, Trang bắt để nó lên bàn. Trang tưởng nó tìm chỗ lánh nạn, nhưng nó không chịu ngồi yên. Nó vùng vẫy cào vào tay Trang rồi lại nhảy xuống nước lội xuôi lội ngược kêu gào như phát điên, thì ra nó đi tìm đàn con. Trang rất ngạc nhiên vì con mèo của nàng xưa nay vẫn có tiếng sợ nước, thì ra tình yêu con đã làm cho dù một con vật, cũng có những hành động suốt đời chưa từng biết.
Ba giờ sáng, rồi bốn giờ sáng, nước đã lên đến cổ. Mỗi một giây phút trôi qua người ta đều hy vọng đó là cái giây phút nước đứng rồi rút lui. Nhưng không thể được, mực nước không thể nào ngừng trong khi trời cứ mưa tầm tã như thế này. Có lúc Trang đã tưởng là nước như không bao giờ có thể đứng lại được, và tất cả mọi người chỉ còn cầu nguyện trước giờ chết mà thôi.
Mẹ Trang đang sắp mấy cuốn Kinh Phật trên bàn bỗng kêu thét lên. Cái bàn thờ Phật của bà đổ nhào xuống nước mà không cần hỏi ý kiến ai cả! Tượng Phật và kinh kệ nổi lềnh bềnh. Bà cố chạy theo vớt lại.
Trong lúc hoang mang đến cùng cực gần như tuyệt vọng, Trang bỗng chợt nhìn lên nóc nhà. Cái lỗ vuông nhỏ cỡ vừa một người chui lọt trên trần nhà để người thợ điện trèo lên xem xét giây điện, lúc này làm Trang nảy ra một ý nghĩ:
-Cái thang, phải đi tìm cái thang nhanh lên!
Gia đình ông bà Túy hàng xóm đập cửa ở nhà ngang bồng bế nhau lếch thếch lội sang vì nhà ông thấp hơn nên nước đã lên quá đầu. Trong lúc họ xem nhà Trang là nơi cứu mệnh thì gia đình Trang cũng xem ông Túy như cứu tinh. Ông để thằng con trai bé và bà vợ chửa gần ngày ngồi yên trên một chiếc bàn cao ngất ngưởng xong cùng Trang bàn cách leo lên trần nhà. Bây giờ ông Túy là người khỏe mạnh độc nhất mà tất cả mọi người đặt hy vọng vào.
Ông Túy trèo lên trần nhà nghiên cứu trước xem những tấm ván trần mỏng manh xưa nay chỉ dùng để làm đẹp cho cái nhà có đủ sức chịu đựng không. Ông gật đầu ra hiệu và Trang bắt chước ông một chân đạp lên cánh cửa lớn, hai tay nàng giơ lên bám được trần nhà. Mọi người không ai dám bắt chước. Tân và Tấn đứng trên bàn chuyền lên cho nàng một ít chăn chiếu khô để sửa soạn chỗ nằm cho ba. Ông Túy trở xuống mở cửa lội ra sân đi tìm cái thang. Cái thang nằm nổi trên mặt nước tận ngoài góc vườn nhưng may chưa trôi mất. Cái thang đã cũ vẫn thường dựng cạnh gốc cây trầu không một ai để ý, bây giờ được mọi người thiết tha cầu khẩn đến.
Một lúc sau ông Túy đem được thang vào nhà, mọi người trở dài như trút gáng nặng. Tìm được cái thang thì con đường sống chưa mất. Ôâng Túy cẩn thận đặt cái thang cạnh tường, ông đứng dưới bế từng đứa bé chuyền lên, Trang đỡ lấy đặt xuống ván. Năm đứa trẻ đã lên hết nhưng mẹ Trang không chịu lên, cô Tư vẫn ngồi co chân không chịu cử động, còn ba Trang thì cố nhiên không thể nào ngồi dậy được.
Ông Túy trèo lên trần nhà cáu kỉnh bảo Trang:
-Chị làm thế nào thì làm, tôi đã năn nỉ hết sức mà ông cụ không chịu lên, bảo chân đau không nhúc nhích được. Cả cái cô kia cũng vậy, không chịu “ dời gót ngọc”. Bộ muốn “ bất cầu đồng sanh, cầu đồng tử” chắc! Còn bà cụ thì ông cụ không lên nên bà cũng không chịu lên. Nước đã ngập lên đến cổ thế này mà mỗi người còn ôm một cục chướng như thế thì chỉ có ngồi mà đợi chết!
Tiếng mẹ Trang than thở:
-Suốt đời tôi cặm cụi khổ sở mấy chục năm trời mới gây dựng được cái cơ nghiệp này! Thực trời hại tôi! Trời muốn làm hại tôi hay sao hở trời!
Trời đâu có đây để trả lời bà, chỉ thấy tiếng Trang năn nỉ.
Trong lúc khổ tâm bà đâm ra mất hẳn lý trí, bà gắt:
-Tao không đi đâu cả! Gia tài sự nghiệp mất thì tao cũng chết! Tao chết theo với Phật, Thánh, kinh kệ, bàn thờ ông bà . . .
Bà đang nói bỗng thét lên, chiếc bàn bà đang ngồi bây giờ chỉ còn một mình nhẹ quá hỏng chân bập bềnh nổi lên mặt nước. Bà nhanh tay nắm được cánh cửa tủ nên khỏi ngã. Ông Túy vội vàng xuống đỡ lên thang. Người bà ốm nhỏ nên Trang nắm được cánh tay kéo qua cái lỗ vuông dễ dàng. Bà đã lạnh cóng cả người, nằm vật xuống sàn không còn biết ai là ai chung quanh.
Lúc này không còn thì giờ để chiều chuộng hay “trưng cầu dân ý” nữa, Trong lúc nguy hiểm cần phải có sự chỉ huy cương quyết rõ ràng, mặc dầu ba Trang không chịu đi, Trang vẫn nhất định bắt ông Túy và anh Bê khênh ông đi. Ban đầu ông còn chống cự, nhưng mỗi cử động đều làm ông đau đớn, kết quả ông đành nằm yên cho ai làm gì thì làm. Ông Túy và anh Bê đỡ ông lên tấm ván và khênh đi chậm rãi dò dẫm từng bước một.
Trang ở trên nhìn xuống cảm thấy từng tiếng tim mình đập, chỉ sợ một trong hai người đuối sức sẩy tay hay hụt chân thì chỉ có Trời cứu. Nước đã lên đến cằm. Anh Bê nguời thấp nhỏ phải đi nhón gót chân, mệt mỏi và lạnh cóng cả người, anh mím môi cắn răng cố đi từng bước cho thật vững chắc. Đang đi bỗng nhiên anh dừng lại ấm ớ kêu:
-Tôi uống nước. Chết tôi rồi!. Trời ơi! ... Ai cứu .. .cụ với!
Anh cố gượng thêm vài bước may đã đến được chân thang. Phải khó nhọc vất vả vô cùng mới xê dịch được ba Trang từ tấm ván lên vai ông Túy. Ôâng cõng ba Trang và bước lần lần từng bước lên thang. Cái thang cũ kỹ rít lên và kêu trèo trẹo dưới sức nặng của hai người cùng trĩu lên một lúc. Ở trên nhìn xuống, Trang nghe như tim mình ngừng đập, nàng nín thở tưởng chừng thêm một hơi thở của mình cũng thêm sức nặng và cái thang sẽ chịu không nổi mà gẫy mất. Vận mệnh của cha nàng nằm trong chiếc thang tàn tật ấy, thực trong suốt một đời người không ai ngờ đến. Còn được vài nấc, bà Túy và Trang ở trên nắm được cánh tay ông, hai người cùng gồng người gắng hết sức lực kéo lên. Đồng thời bên dưới ông Túy cũng xuất toàn lực, phùng mang trợn mắt ,vừa đun vừa đẫy . . .
Ba Trang lên đến được trần nhà, nỗi đau đớn xác thịt hành hạ ông đến cái trình độ tê tái không còn cảm giác. Ông như người mất hồn, mặt mày tái mét nằm vật xuống tấm ván Trang đã sắp sẵn.
Ông Túy xoa tay cười nói có vẻ thỏa mãn:
-Thực là kỳ tích, kỳ tích! Một bà chửa, ngày thường đi chợ “ khênh” một bó rau muống bằng nắm tay cũng kêu nặng, kêu mệt “ khênh “ không nổi, và một cô “ suyễn gia truyền” trói không chặc con gà, thế mà hôm nay “ khênh” à quên xách nổi ông cụ một tạ lên thang gác! Hì hì hì, mình vai u thịt bắp như thế này mà cõng cũng nặng oải ba sườn gần trẹo cả cổ!
Châu và Lac, hai người ở gái cũng đã có chỗ ngồi yên. Trang đợi kéo nốt cô Tư nhưng đợi mãi vẫn không thấy. Anh Bê đứng run rẫy thở lấy sức dưới chân thang, còn ông Túy nghe mẹ Trang bảo có một chai rượu ngâm thuốc bổ trong tủ, ông quyết trở xuống lặn tìm cho bằng được.
-Hu hu hu, Có ai cứu tôi với! Trời ơi, Có ai cứu tôi với!
Ba Trang lúc này đã tỉnh táo hơn, nghe cô Tư kêu cứu có vẻ thương xót lắm. Anh Bê đứng bên dưới cáu kỉnh:
-Cô ấy từ tối đến giờ hi hi mãi chán nên bây giờ đổi ra hu hu! Cô cao hơn tôi những một cái đầu, có chân thì tự đi cũng được, tàn tật già yếu bé bỏng gì mà phải đợi ai khênh. Mà giá có uống vài ngụm nước cũng không chết đâu!
Ba Trang thều thào cất giọng năn nỉ:
Ông Túy ơi, bây giờ chỉ có một mình ông, trăm sự đều nhờ ông cả. Ông làm phúc làm đức đưa dì ấy lên kẻo tội nghiệp, bụng mang dạ chửa!
Anh Bê lẩm bẩm:
-Người ta chửa gần đẻ đến nơi còn phải lội suốt đêm cũng chẳng sao, đằng này chỉ mới có vài tháng.
Ba Trang vẫn ngọt ngào:
-ÔngTúy, trăm sự nhờ ông, tính mệnh dì nó ở trong tay ông, suốt đời chúng tôi sẽ không quên ơn ông . . .
Bà Túy dẫy nẩy lên:
-Mau mau lên đi anh Túy ơi! Thôi đừng tìm rượu nữa! Ngâm nước từ đêm đến giờ, không khéo lạnh mà chết đấy! Ba vạn cũng bỏ!
Ba Trang vẫn năn nỉ:
-Chỉ còn có ông, ông làm ơn . . .
Ông Túy dù vợ không bằng lòng, anh Bê dù mệt mỏi đến đâu, kết quả cũng phải đi khênh cô Tư. Lên được đến nơi giọng cô không còn rên rỉ nữa! Cô cất tiếng cười the thé:
-Hê hê hê, tui không hề ướt lấy một cái vảy. Gói thuốc Cẩm Lệ cũng còn khô ran! Có thời chi lạ!
Trang lấy mấy chiếc áo len đã cứu được chia cho mọi người. Anh Bê ngồi run rẩy trong bộ quần áo ướt sũng những nước, hai hàm răng anh đánh vào nhau cầm cập, mặt anh tái ngắt và người cứng đờ ra. Anh thay được áo xong nằm vật xuống ván mê đi.
Cô Tư trông thấy thế lại cười rú lên:
-Hê hê hê, mình đi cũng được nhưng ai dại chi mà đi. Lỡ ướt lạnh chết thiệt thân mình chớ thân ai! Ba vạn cũng bỏ, gói thuốc Cẩm Lệ vẫn còn la øđược!
Bất giác Trang rùng mình. Trong cảnh nguy hiểm,đầy những tiếng kêu cứu thảm thiết, tiếng mõ dồn dập lẫn trong tiếng mưa đổ rào rào xuống mái ngói, tiếng cười của cô nghe lanh lảnh đến rợn người!
Suốt từ đêm, Trang phải làm việc và dùng nhiều sức nên lúc này cả người đau đớn mệt mỏi như bị dần từng đốt xương. Nàng tìm một góc và nằm lăn xuống ván. Tuy nằm nhưng Trang vẫn nghe rõ tiếng cha rên rỉ, tiếng cười hê hê từng hồi của cô Tư và những lời phàn nàn của mẹ:
-Thực là trời hại tôi! Thôi còn chi nữa! Kinh kệ mất hết, Phật tượng bể hết, áo quần trôi hết rồi còn chi! Trời, cả cơ đồ sự nghiệp của tôi! Già hơn sáu chục tuổi đầu rồi mà còn phải trông thấy cái cảnh như thế này! Thảm! Bộ kinh Pháp Hoa của tôi mới thỉnh, bây giờ có bạc vạn cũng không tìm đâu ra! …..
Bà chưa nói dứt lời bỗng cô Tư quát lên hỏi con Châu:
-Châu, sao mày không lo cất mấy cái trứng gà để dành cho cụ xơi hở. Bây giờ cụ đói, mới làm sao?
Con Châu cười lạnh lùng:
-Thế sao cô không lo? Cô ngồi đấy làm gì? Tôi làm bao nhiêu là công việc, nào gạo cơm than củi, khiêng vác từ đêm đến giờ! Bộ tôi ở không đấy hẳn!
-Ai biểu mi ngu! Mi lo khiêng vác không biết mấy thứ đồ đạc mà rốt cuộc đồ đạc đều bị ướt, mi cũng bị ướt như chuột lột. Còn tau không lo chi cả mà đồ đạc của tau vẫn không ướt, người tau cũng khô ran! Hê hê hê!
-Phải, người ta thì “ Lấy chồng phải gánh giang sơn nhà chồng” còn cô thì “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi”!
Ba Trang rên rỉ:
-Thôi bỏ đi, bỏ đi, chuyện nhỏ mọn! .
Ông không muốn ai nói động đến cô Tư, nhất là động đến cái sự vô dụng của của cô trong cơn hoạn nạn của gia đình.
Không biết con Châu đã lấy can đảm ở đâu ra, để cãi nhau tay đôi với cô Tư, chính nó cũng không tự biết. Có lẽ trong lúc tai nạn, nó đã làm tròn phận sự như một phần tử trong gia đình, còn cô Tư có vẻ vô dụng quá nên mất sự kính nể trước mặt chủ.
Bà Túy gắt với ôngTúy:
-Cái áo gấm của tôi anh để đâu? Còn cái đồng hồ tay nữa! Lại còn cái gói tã ướt của con . . . anh để mất thì liệu hồn.
Ông Túy mắng át:
-Thôi thôi, tôi xin các bà. Dẹp cái lọ mắm thối lại đi. Mới vừa lo chết dưới kia chưa được mười lăm phút. Lên đến đây cững chưa chắc đã sống đâu mà vội giở trò tiếc của. Aáy may mà chỉ lụt chứ không bão, nếu cả lụt lẫn bão thì ngồi đây lại càng được gặp Ông Bà Tổ tiên liền lập tức!
Đấy là sự thực cũng như những lời họ nói cũng toàn là sự thực. Trong lúc này không ai nghĩ đến những câu che đậy khách khí giả dối nữa! Trang chua chát nghĩ thầm:
-Lúc lòng người ta cởi mở thì tiếc thay chỉ được trông thấy toàn những cái không đẹp!
Trang gượng đứng dậy mở cánh cửa sổ con thông hơi nhìn ra. Bên ngoài cả một bầu trời mờ trong mưa. Trời đã sáng nhưng ánh sáng như hòa lẫn với mưa thành một thứ ánh sáng mờ mịt. Mạêt nước dâng cao lấp cả những mái nhà thấp chung quanh xóm. Trên mặt nước chỉ còn những tầu lá chuối rách nát ủ ê, một vài thân cây cau trong vườn còn đứng vững được nửa thân mình vươn lên mặt nước, phần nhiều đều ngã nghiệng hay đổ hẳn. Vài con chó vừa lội vừa kêu ăng ẳng một cách thê thảm, cố bám vào những chiếc rương hòm ngổn ngang trôi lẫn với củi ván. Xa xa,ngoài đám nước bạc mênh mang, một người đàn ông cõng một đứa bé trên vai, đứa bé vẹo đầu sang một bên, mặt nó sát hẳn với mặt nước, có lẽ nó ngất đi, hay nó đã chết, nhưng người ấy biết hay không biết vẫn mải miết bơi. Ngoài xa nữa, rải rác từng người, ôm thân cây chuối hay mảnh ván mặc cho giòng nước đưa đẩy. Vài chiếc bè lờ đờ trên mặt nước, mặc dầu tiếng kêu cứu từ dưới nước, trên mái nhà tranh, khắp mọi nơi vẫn không ngớt, họ hình như không nghe thấy gì cả. Họ còn mải lo tìm vớt những đồ vật từ øbốn phương trôi dạt lại! Nghìn năm một thuở cơ mà! . . .
-Trời ơi, còn cái phẫu tôm chua để trong tủ đồ ăn, có ai cứu cho tôi với không? Bây giờ dù có mấy trăm bạc cũng không làm được một phẫu như thế! Trong tủ lại còn hai cái bánh Trung Thu!
-Sách! Sách ướt là không còn giá trị gì nữa! Hàng bốn, năm chục năm trời sưu tầm!
-Trời, cái ống sáp môi của tui . .
-Trời!. . .
Không lúc nào ông trời bị người ta kêu réo ầm ỹ như lúc này! Từ tiếng kêu cứu mạng cho đến ống sáp môi, lọ tôm chua...
Trang thấy ngao ngán lạ lùng, nàng không cần quay lại cũng biết ai đã nói ra.
-Tôi đã bảo mà! cái đồng hồ mới tinh hảo của tôi thế là quên trong tủ. Nó mà hư thì anh liệu hồn!
-Xin các bà đi! Đồ đạc của các bà khô ráo mà các bà chết thì để mà liệm hay để mà thờ? Nước còn lên nữa thì chưa chắc đã sống đâu! Đừng lên giọng tiếc của vội!
Trang lấy chiếc áo dài quấn chặt người con bé Lili.
Tạm thời Trang chỉ sợ nó lạnh. Lúc nước mới lên đến bụng, nàng đã đi tìm hộp sữa khuấy uống một cốc đầy. Nàng đủ cương sữa để bé Lili bú suốt đêm nay. Con Mỹ sà vào lòng mẹ kêu đói. Trang chợt nhớ đến chiếc bánh ngọt mẹ chia cho lúc ngồi trên bàn, Trang chỉ vờ cắn một góc rồi gói vào chiếc khăn tay cột lên đầu. Trang tháo khăn ra thì chỉ còn một nắm bột vụn. Mỹ vui mừng, hai bàn tay bé nhỏ nắm chặt tay Trang cúi xuống liếm bột bánh một cách ngon lành. Trang rũ khăn ra vét nốt chỗ còn sót. Bé Mỹ lại cầm tay mẹ liếm sạch, cả những kẽ tay nó cũng không chừa. Ngày thường bao giờ nó cũng đòi ăn những chiếc bánh nguyên vẹn, nếu chỉ vỡ một góc nó cũng chê ít không chịu ăn, nhưng bây giờ dù bé bỏng nó cũng biết có chuyện gì đặc biệt lạ lùng xảy ra không dám quấy. Thấy hết nó bắt chước mẹ rũ khăn, tìm không có chút bánh nào nó phụng phịu:
-Me!Me! em ăn không no, em không uống nước!
Đó là câu nói độc nhất lúc nó còn muốn ăn thêm.
-Me! Me! Em ăn không no, em không uống nước.
Nhưng bây giờ làm gì có nước mà uống dù em đói
hay em no, và mỉa mai thay, dù bên ngoài nước vẫn mênh mông . ..
Mọi người tự tìm một chỗ ngồi dễ chịu trên những chiếc đòn ngang trên trần nhà, không dám bước chân vào những tấm ván mỏng mảnh sợ sập xuống. Bé Mỹ vẫn ôm cánh tay mẹ:
-Me! Em ăn không no, em không uống nước!
Trang bỗng chợt nhớ ra:
-Cái thang đâu! Còn cái thang đâu rồi?
Phải kéo nó lên kẻo trôi mất, đợi lúc nước rút còn khối công việc phải làm.
Ông Túy nhìn xuống thấy cái thang vẫn tựa chân tường vội vàng kéo lên. Cùng một lúc mọi người đều nhìn cái thang gẫy: Cái thang cứu mệnh!
Ôâng Túy đặt nó nằm dài cạnh cửa sổ. Cái thang đã gẫy nát, nhiều chỗ phải chắp nối và quấn giây thép chằng chịt ở mỗi bực thang. Cái thang vẫn suốt ngày dựng bên gốc cây trầu leo trên mình cây vông trụi lá, lâu lâu nó lại bị ném tư ønơi này sang nơi khác. Khi người ta hái trầu thì nó bị ném sang gốc cây ổi, khi Tân và Tấn trèo ổi thì nó bị gạt sang gốc cây mít hay đá hẳn xuống đất. Cái thang cứ nằm lì dưới đất như ăn vạ cho đến khi mẹ Trang trông thấy bảo con Châu dựng lại, nó mới kéo lê sền sệt ném trả vào gốc cây trầu. Cái thang không hề có một chút tín nhiệm nào. Cả đến người thợ điện lúc trèo lên trần nhà sửa giây điện cũng chỉ đánh đu vào cánh cửa mà lên chứ không dám dùng nó. Thế mà giờ đây nó đã cứu cả nhà! Nó bỗng biến ra đáng kính, đáng yêu, anh hùng trong con mắt mọi người.
Ở dưới nhà chốc chốc lại có tiếng đồ vật đổ xuống nước và mỗi lần như thế mẹ Trang lại than thở:
-Thôi còn chi nữa! Cả gia tài sự nghiệp của tôi!
Chỗ chân sưng của ba Trang lại đau nhức dữ dội. Ông rên rỉ một lúc rồi mê lịm hẳn đi. Khi ba Trang không rên nữa thì đến lượt những người khác rên. Những ai có lội nước đều cất tiếng rên, ban đầu còn gắng rên se sẽ, cuối cùng không còn nể nang gì nữa,mạnh ai nấy rên và càng ngày càng to. Trang cũng thế, nàng thấy cả người mỏi như dần, nhất là hai bắp chân và đùi, từng thớ thịt đều như tê cứng lại và đau đớn đến nỗi không thể trở mình được.
Suốt từ sáng cho đến chiều mọi người nằm co quắp trên những thanh gỗ ngang mê man không biết đến bên ngoài, không biết ngày giờ và cũng không biết đến đói khát . ..
Dần dần trời tối hẳn lại, nhưng mưa vẫn còn nặng hạt. Tiếng kêu cứu và tiếng mõ, tiếng súng báo hiệu vẫn còn vẳng lại xa xa. Cả nhà không ai nói gì, bỗng nhiên bàTúy kêu lên:
-Chết tôi rồi! Trời ơi, tôi đau bụng!
Hai tay bà ôm chặt lấy cái bụng to tướng đã gần ngày cất tiếng rên rỉ. Bác sĩ hôm kia đã nói bà sắp đẻ trong vài ngày, nghĩa là tình trạng như một trái cây đã chín tới, chỉ còn đợi nó rụng xuống mà thôi!
Ông Túy hốt hoảng:
-Ấy chớ! Đừng đẻ ra đây nhá! Dại dột đẻ ra bây giờ thì chết cả mẹ lẫn con chứ không chơi đâu! Gắng nín đến mai may ra còn hy vọng sống!
-Ối trời ơi! Đau chết tôi, đau chết mất thôi, ối ối . .
Bà Túy đang ôm bụng rên la bỗng bật cười:
-Không sao đâu, tôi không đẻ bây giờ đâu! Ôi trời, đau quá, đau quá!...
Tân và Tấn còn bé, mình nhỏ nhẹ nên nằm lăn ra ván ngủ. Chúng chỉ thấy khổ vì phải nhịn đói suốt ngày, và lại còn khát nữa! Từ ngày mẹ chết, chúng nó không còn ai để vòi vĩnh nên cũng đã thành thói quen ngoan ngoãn, và nhất là trong lúc này chúng biết không thể có gì hơn được nên đành ôm nhau nằm ngủ. Mọi người cũng dần dần ngủ hay nói cho đúng hơn mê đi trong tiếng mưa, trong sự mệt mỏi cùng cực của thể xác và tâm hồn.
Sáng hôm sau lúc trời mờ sáng thì nước đã rút chỉ còn ngang đầu gối và mưa cũng đã tạnh hẳn. Cái thang lại được đặt xuống rất cẩn thận nhẹ nhàng, và mọi người cố hết sức kéo lê cái thân hình mỏi mệt dò lần từng bước thang xuống bắt tay vào công việc dọn dẹp.
Bên dưới cả một cảnh tượng tàn phá thảm hại hiện ra, tất cả cái gì cũng đổ vỡ bẩn thỉu. Sách vở bị nước đưa đẩy tản mác đi khắp cả các phòng và nát ra từng mảnh. Cả một tủ đựng cốc chén đổ vỡ. Các rương và tủ quần áo lúc dơ ra thì chúng đã tự nhuộm thành một thứ mầu lem luốc không tên.
Mẹ Trang ngẩn ngơ cầm một chiếc áo mầu bùn bẩn thỉu ướt sũng những nước, ngắm mãi không thôi. Đó là chiếc áo nhung mầu rượu chát mới nhất và cũng là chiếc áo đẹp nhất của bà, bây giờ nó giống hệt như một con mèo bị nhúng nước bùn, từng đám nhung xoắn tít lấy nhau không còn những ánh tuyết êm dịu óng ánh nữa. Bà nhìn lên bức ảnh bán thân treo trên tường cao, bức ảnh chụp lúc bà mới hai mươi lăm tuổi, lúc bà còn trẻ đẹp . . . Trang đến cạnh mẹ se sẽ nói:
-Me ạ con mua cho mẹ một chiếc áo nhung khác.
Bà lắc đầu gượng cười:
-Không con ạ, có phải mẹ tiếc chiếc áo nhung đâu!
Bà rơm rớm nước mắt tiếp theo:
-Suốt đời mẹ từ lúc trẻ cho đến bây giờ mẹ đã hy sinh hết cả cho chồng, cho con, cho gia đình. Mẹ có tiếc gì đâu! Trải qua bao nhiêu lần lên bổng xuống trầm, mẹ đã bảo toàn được cảnh nhà, và giúp đỡ cho ba con không phải là ít. Cho đến ngày nay, các con đều đã trưởng thành tản mát tất cả bốn phương, mẹ thì già, mẹ chỉ còn có một người chồng mà nay cũng không còn là của mình nữa! Có lẽ nào mẹ lại tiếc một chiếc áo nhung!
Bà ngừng một lát thở dài:
-Mẹ đã cố hết sức vớt đồ đạc mà rốt cuộc không cứu vớt được gì cả! Nhưng dầu sao mẹ cũng đã hết lòng, đã làm hết sức lực rồi. Nay mai mẹ sẽ ốm sẽ chết, và đời sẽ gạt bỏ mẹ ra ngoài như mẹ sẽ vứt bỏ chiếc áo nhung đã hỏng này, nhưng thôi mẹ chỉ nói chừng ấy, con phải hiểu thêm cho nhiều mà tự định liệu cuộc đời của con . ..
-He âhê hê, đồ của tôi không ướt lấy một cái vảy, hê hê hê . .. Cả mấy con gà con cũng tự trốn được không chết lấy một con, chi lạ, thiệt là có thời!
Nghe tiếng cười hê hê của cô Tư, Trang thấy cả người nổi gai. Trang nhìn cô và cảm thấy hơi là lạ. Tuy ống son của cô không mất nhưng sáng nay cô chưa trang điểm, trông chán chường tàn tạ quá chừng. Trang đã quen nhìn cô với đôi má đỏ rực như hoa phượng, môi cũng đỏ chói, son đánh sát vành môi mỏng dính, có hai khóe thực dài. Gương mặt gầy, lưỡng quyền cao, bộ mặt lúc nào cũng đánh phấn trắng bệch của cô tăng thêm sự trái ngược của đôi bàn tay đen xương xẩu và lúc nào cũng nhơm nhớp đầy mồ hôi. Ban đầu Trang thấy chướng mắt cái lối trang điểm có vẻ hình nộm ấy nhưng sau nhìn quen Trang cũng thấy cô đẹp, một vẻ đẹp mê hồn các ông già, nhưng thiếu tính chất dịu dàng thùy mị của những người đàn bà với sứ mệnh đem lại hạnh phúc thịnh vượng cho gia đình.
Ngoài sân thấp thoáng bóng những người láng giềng đến hỏi thăm. Họ ở những nơi thấp hơn nên tản cư ngay từ lúc mới bắt đầu lụt nay mới trở về.
Mọi người tranh nhau kể lể:
-Tôi bị trôi tất cả quần áo đồ đạc, bây giờ chỉ còn một manh này.
-Tôi bị sập cả cái nhà bếp nhà ngang.
-Tôi trôi mất cả bầy heo hai chục con.
-Tôi. . .
-Ấy, dưới kia người ta trôi sạch cả làng, cho đến vững như cột đình cũng không còn!
-Có một gia đình bám lên mái nhà tranh bị trôi tuốt cả mái nhà ra sông Hương, lúc trôi ngang dưới cầu Trường Tiền bị gạt cả xuống nước. Hà hà, thì ra chúng mình vẫn còn có phúc!
-Nào về lo sửa máy vô tuyến điện trước, nghe thiên hạ nói dóc chơi. Mình kêu cứu khản cả cổ cũng chẳng có con ma nào biết đến, chứ nghe bản báo cáo thì chắc là cả một đội thủy binh đi cứu nạn dân và kết quả tốt đẹp ghê lắm!
-Thế nào, cụ có việc gì không, cô Trang có mất mát gì không?
MẹTrang chỉ gian nhà:
-Các ông các bà xem đấy, may mà còn gian nhà và cái thân già này!
Trang định trả lời mất sạch cả, nhưng cái cảnh người đàn ông cõng đứa con chết trên lưng, mải miết bơi trên mặt nước mênh mang không bờ bến hiện ra trước mắt nàng. Trang ôm chặt hai con vào lòng trả lời:
-Không,không, tôi không hề mất chút gì . Cả cái tài của tôi vẫn còn nguyên vẹn.
Tiếng rên của ba Trang, từ trong phòng vẳng ra nhắc nàng nhớ đến ấm nước đang đun dở để pha trà cho ông. Trang đứng dậy xuống bếp cho thêm củi. Con Châu đang vo gạo bảoTrang:
-Này chị, nghe bà Bá bên cạnh đang khóc ông ấy. Hay quá! Em nghe từ sáng đến giờ vẫn chưa hết, dài hơi ghê!
Trang lắng tai nghe. Tiếng bà sang sảng chẳng khác lúc bà chửi mất gà tí nào.
-Hơ hơ, hờ hờ, ông ơi là ông ơi! Ông chết đi ông bỏ tui, ông bỏ tòa ngang dãy dọc. Ông ơi là ông ơi! Ông sống giầu có năm bảy tòa nhà ngang dãy dọc mà chết vừa đói vừa lạnh. Tui biểu ông ăn mấy miếng khoai khô rồi đi mà ông cũng không ăn. Ông nóng ruột đi tìm cháu ông để đến nỗi ôm cây mà chết giữa đường.
Tui đã chắp tay tui lạy ông, biểu ông đừng đi, một hai ông cũng cứ đi. Hơ hơ! Hờ hờ! Tổ cha đứa mô rứa mà hắn dám nói tui xui ông đi vớt củi rều, để ông lạnh, ông đuối sức ông chết! Ông ơi! Lúc sống hà tằn hà tiện, con cá to cũng không dám ăn, chừ ông chết rồi tui cúng nem cúng chả cho ông ích chi! Ông ơi! Hơ hơ! Hờ hờ. . .
Bỗng nhiên bà đổi giọng quát người ở:
-Mới, mi còn đợi chi mà không đi vo thúng gạo ướt xay bột đi, để lâu chua lè ra tau bắt mi ăn cho hết đó.
Ấm nước đã sôi, Trang đổ vào bình rồi đun ấm khác.
Những cành tre nổ lốp bốp, ánh lửa đỏ ấm áp reo vui. Cái thang đã được chặt ra để nấu vì tất cả than củi đều bị ướt hết không dùng được. Cái thang anh hùng, cái thang cứu mệnh hôm qua! Nếu biết suy nghĩ chắc nó tưởng rằng sau cái “ ân cứu mệnh” người ta sẽ đặt nó trong viện bảo tàng hay cho vào lồng kính xếp chung với bàn thờ tổ tiên để ghi công ơn nó . . . Nhưng thực ra trên đời mấy ai biết tri ân, mấy ai còn nhớ đến những tai nạn đã qua! Khi người ta chết hụt xong, phần đông đều tưởng rằng “Mạng mình to lắm. Có lẽ Ông Trời còn dành để dùng vào một sự nghiệp vĩ đại gì đây!” Vậy thì cái thang dù suốt đời có hy sinh tận tụy thì hy sinh cho đến phút cuối cùng là lẽ dĩ nhiên.
Mai đây người ta sẽ đặt làm một cái thang mới khác chắc chắn đẹp đẽ, xứng đáng để trao gởi tính mệnh lúc cần dùng đến cũng là một lẽ dĩ nhiên nữa. Còn cái thang cũ kỹ, gẫy nát, trước khi trở về với tro bụi, vẫn nấu chín cơm sôi nước, hiến thân một lần cuối cùng, lại càng là một lẽ dĩ nhiên và hợp lý vô cùng.
113

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2008

ác cảm



Một chiếc cầu bắc trên dòng sông hẹp, ngăn thành phố với ngoại ô. Sang khỏi cầu, sự thay đổi đột ngột. Con đường xù xì lên những đá và đất đỏ. Những đứa con nít, phần nhiều có một dải bùa vàng buộc ở cổ áo, giỡn nhau giữa đường, chửi đùa nhau cũng khá thô tục. Một đứa bé tí lem luốc bước trên hai cẳng chân chưa vững và khóc bi be. Vài con chó chạy nhong nhong, cúi ngửi bã mía. Từng khoảng một, hai bên mép đường, mấy đứa con gái ngồi bán mía, em nhỏ đặt ngồi cạnh để trông giữ luôn.

Hai dãy nhà lụp xụp nối dài, cửa che bằng phên chống nghiêng nghiêng hoặc bằng mành tre rất to nan. Trên giậu râm bụt, vắt phơi trơ trẽn những quần áo bẩn thỉu, yếm váy vá chằng đụp.

Sông lờ đờ lê dòng hẹp màu vàng đục. Về chiều, nhất là những ngày chủ nhật hay ngày lễ, người trong phố ra ngồi bờ sông câu cá. Có người âu phục, có người ra dáng thợ máy, có mấy cậu học trò, và không biết tại sao, đôi khi lại có cả một bác lính mũ chào mào. Họ ngồi kiên nhẫn dị thường, chặn đầu cần câu dưới một hòn gạch hoặc đá, đoạn lơ đãng ngắm cảnh vật hoặc nhìn lại những người đứng chơi trên cầu nhìn họ.

Mấy người đàn bà lội xuống vo gạo, rửa rau, chè hoặc bèo. Họ cũng có ý đứng xa một tí những người đang giặt yếm váy. Họ khua tay trên nước mấy cái cho bọt và rác dãn ra theo vòng sóng, đoạn nhúng rổ xuống.

Đằng xa, một người đàn bà rán sức vung quá đầu chiếc chiếu cuộn dẹt rồi đập lên mặt nước rất mạnh, khiến nổ bật những tiếng như tiếng súng.

Giữa cái xã hội ngoại ô ấy, Mân sống đã mấy tháng nay. Anh dạy học ở một trường tư trong tỉnh, sau những buổi dạy, anh trở về túp tranh dựng ngay cạnh cầu, thuê mười đồng một năm. Anh chưa quen thuộc hẳn với cái xã hội mà anh cho là ô hợp ấy. Nhất là những lúc nghe hàng xóm chửi bới nhau om sòm, anh không nén được phiền bực.

Túp lều Mân ở tối om om. Mỗi sáng, soạn và chấm bài, anh phải chong ngọn đèn dầu mãi đến bảy giờ. Cái cửa sổ chấn song tre, cạnh đó kê bàn làm việc, nhìn ra con đường nhỏ dẫn xuống bến sông. Người gánh nước qua lại luôn, làm rộn trí anh. Nước đọng vũng, mấy con vịt đến khoắng mỏ lục sục, hơi bùn tanh nhạt, có khi thối hoắc, xông lên nặc mũi.

Một sự lầm lỡ đã đầy đọa Mân đến cảnh này. Chắc mấy người hàng xóm của Mân chẳng ai ngờ rằng cái ông giáo quèn vừa về sống cạnh họ và có bộ xơ xác, đã có lần quản trị hàng vạn bạc. Trước, Mân chung mở đồn điền với một người cùng huyện tên Bạc Hói. ồ, đó không phải một tên Tàu, hay Cao Miên. Nhưng lẽ ra - sau này Mân hối hận và nghĩ lại - với một cái tên như vậy, Mân phải đề phòng hơn mới phải. Có những cái tên hình như tiền định. Hắn hói mất nửa đầu, nên có biệt danh ấy. Tên Bạc cũng chẳng hay ho gì, khi nó dùng để ghép những chữ kép như: bạc ác, bạc bẽo, bội bạc.

Quả nhiên, Bạc Hói lừa Mân. Hắn nắm được một chỗ hở của Mân, đâm đơn kiện và tranh lấy cả đồn điền. Mân thu vét tiền còn lại để theo kiện, nên bây giờ nghèo xơ xác. Mân có của người kinh doanh cái óc bao quát công việc và cái khiếu đón đầu thời cơ. Nhưng anh đã tin người quá. Bao nhiêu những nhà doanh nghiệp đều có quả tim khô khan và khóe mắt nghi kỵ. Họ ngầm giữ miếng với cả những người tâm phúc. Cũng một đôi khi Mân đã ngờ lòng Bạc Hói, nhưng để rồi tự thẹn với mình, tự thẹn vì đã gán cho kẻ khác những tình ý mà hẳn y không có.

Bây giờ Mân sống đoạn tuyệt với mẩu đời vừa qua. Anh nguyền quên hết cả; anh bóp chết trong lòng hình ảnh Bạc Hói cũng như kỷ niệm sâu cay của một cuộc thất bại đau đớn. Nghị lực anh dựng một bức tường cao ngăn hẳn hiện tại với quá khứ. Của thời cũ, nếu Mân còn giữ lại cái gì, thì đó là cái kinh nghiệm về lòng người, càng quý báu vì giá mua càng đắt.

ở được ít lâu nơi ngoại ô, Mân có một bạn láng giềng mới. Một chiều đi dạy về, đang đứng thơ thẩn trước cửa, Mân thấy anh ta chuyển đồ đạc từ xe bò vào túp tranh bên cạnh. Anh không nhìn thẳng vào mắt hắn, nhưng đoán chừng hắn trạc ba bốn mươi. Một hồi sau, ăn cơm xong, anh ra vườn thì lại thấy hắn đứng rửa tay. Hắn quay nhìn sang phía anh, nhưng cúi đầu nên anh không nhận rõ được mặt hắn. Trong bóng hoàng hôn, anh tò mò ngắm hắn lâu lắm. Khuôn mặt hắn tròn tròn, đều đặn, anh chỉ biết có thế. Chợt tiếng reo nổi lên ngoài phía sông: hẳn một con cá vừa mắc câu, giữa sự vui mừng huyên náo và hơi trẻ con của những người xem. Hắn chưa quen tiếng ồn ào ấy, ngước nhìn, và Mân được dịp nhận ra một bộ mặt hiền lành, nhũn nhặn. Nhưng cùng một lúc, Mân đột ngột cảm thấy cái gì như một phiền rầy: có lẽ bởi anh bị bắt chợt đang nhìn trộm hắn. Anh bèn quay vào.

Vú già nói cho anh biết là hắn sắp mở một quán rượu đón những ông Xã bác Nhiêu lên tỉnh: rằng hắn tên là Tạo. Đàn bà là những cơ quan thông tấn thực nhạy.

Tin báo của vú già khiến lòng Mân nao lên một niềm gì gần như giận dữ. Hàng xóm của anh chưa đủ ầm ĩ hay sao mà hắn còn lo tụ tập lại những ông Lý toét, những bác Nhiêu, chén rượu thịt chó vào rồi hét oang oang như để cho cả trời nghe!

Chiều hôm sau trong lúc ngồi trông nom học trò làm bài, Mân sực nhớ lại giấc mộng hồi đêm. Có nhiều khi hồi ức giấc mộng đã cũ trở lại trí nhớ một cách đột ngột như thế, trong một hoàn cảnh không liên quan gì với chuyện trong mộng cả. Hình như anh đã thấy trong chiêm bao một cảnh gì náo động lắm, có điểm chút kinh hoàng thì phải, nhưng không nhớ rõ chuyện gì. Mà hình như giữa sự hỗn độn của những hình ảnh, có thoáng qua bóng dáng người láng giềng mới của anh.

Sau buổi dạy, trái với thói thường, Mân đi dạo quanh vùng anh ở. Khi qua trước cửa hàng rượu, anh quay nhìn vào một thoáng mau. Không hiểu tại sao anh cứ phải chú ý đến Tạo. Hắn đang sắp lại mấy phong thuốc lào trên quầy hàng, sực ngửng lên. Hắn đon đả chào:

- Thưa ông giáo đi chơi... Ông ghé tạm vào chơi xơi nước ạ.

Mân không bằng lòng với mình vì đã để cho hắn bắt chợt luồng mắt mình. Anh trả lời:

- Cám ơn bác. Để hôm sau.

Hắn có dáng nhã thiệp, và một nụ cười nhũn nhặn, dễ thương. Quần áo sạch sẽ, tóc chải gọn. Nhưng những điều ấy, không biết tại sao, chỉ làm Mân ghét thêm hắn. Hình như trong anh có tiếng nhủ thầm: Hãy coi chừng! Hãy coi chừng cái bề ngoài ấy!

Đáp lại lời mời nhã thiệp của hắn, Mân đã lấy một giọng hơi xẵng, hoặc ít ra cũng khô khan. Nhưng mà anh không thấy t120

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2008

Nợ Tình



     Nhà tôi có năm chị em gái, không sắc nước hương trời nhưng mỗi người một vẻ. Gái quê mang nét duyên thầm. Riêng chị hai kém cạnh hơn cả bởi cái nốt ruồi trên mặt.

Nốt ruồi ấy như một điểm phá tướng làm cho những nét thanh tú trên khuôn mặt trở nên chông chênh. Các chị em trong nhà hơn một lần khuyên chị nên tẩy đi, nhưng chị không chịu. Chị cả bảo: “Tẩy đi, không các ông, các bà chọn dâu lại bói toán này nọ”.

Chị hai ngúng nguẩy: “Kệ nó, đã như thế rồi có tẩy cũng vậy thôi”. Hai mươi tuổi chị cả đi lấy chồng, chị hai cũng có người yêu. Trong số trai làng có rất nhiều người đến “cưa” nhưng chị nguây nguẩy không tiếp, duy chỉ tiếp mỗi anh Khuê.

Khuê nhìn qua không có gì đặc biệt để mến thậm chí còn có ác cảm. Không cao to, người chỉ tầm tầm, da đen bóng, ít nói có vẻ lạnh lùng, đó là những gì mà người đối diện bình thường có thể cảm nhận ở anh. Nhưng ở Khuê có một điều mà chỉ có chị hai mới thấy được đó là ánh nhìn đắm đuối có phần cuồng dại, hoang dã nhưng si tình. Hai người quấn quýt bên nhau.

Rồi chị ba, chị tư cũng có người tán tỉnh, thoắt cái đã đến tuổi lấy chồng. Gái quê hai mươi là đã lấy chồng thậm chí còn sớm hơn. Chị ba lưỡng lự khi tìm được ý trung nhân lúc đã bước vào tuổi hai ba. Chị hai nói lẩy nhưng với chính mình chứ không phải em: “Đứa mô lấy được thì cứ lấy đi, kệ tao”.

Mẹ bảo: “Con gái có lứa có thì, lúc mười tám, hai mươi không lo chồng, lo con thì rồi sau mà dư khổ”. Chị hai lặng lẽ bỏ lên đồi chè. Mẹ nói với cha: “Nghe đâu bên ấy họ chê con Nữ” – “Chê cái gì” giọng cha có vẻ tức tối. “Thì cái nốt ruồi phá tướng. Người ta bảo cái nốt ruồi mọc ở chỗ đó sẽ làm khuynh đảo gia đình đằng nội, rằng rất khó có con…”. “Vớ vẩn, bói với toán, toàn là mê tín dị đoan…”. “Không lấy thằng Khuê thì lấy thằng khác, con trai thiếu gì mà nó có đến nỗi nào đâu”. “Nhưng nó chỉ yêu mỗi thằng Khuê…” mẹ cãi lại.

Đêm. Cha kêu chị hai lên: “Nữ, bây giờ mày tính sao? Thằng Khuê nó có yêu thương mày không? Nó nói sao?”. “Cha mẹ cứ lo cho các em đi, đứa nào lấy để nó lấy, đừng nghĩ đến tui”, nói rồi chị bỏ chạy ra sau vườn lặng lẽ khóc. Chị ba và chị tư cũng không biết làm sao.

Mẹ than thở: “Cha mẹ sinh con trời đất sinh tính; chúng tao già rồi chúng tao chết, ai ở mãi với chúng bay, đứa nào tự lo thân đứa nấy, chúng tao chỉ nói một lần”. Ít lâu sau chị ba lấy chồng, còn anh Khuê không thấy đến. Nghe đâu anh bỏ đi Nam làm thuê. Chị hai thì lặng lẽ đi về như chiếc bóng, chị vẫn hy vọng. Hình như khi yêu nhau, dù xa cách, dù nhớ nhung, dù đau đớn… người ta vẫn sống được nhờ vào hy vọng. Chị vẫn tin vào “thần giao cách cảm”. Chị vẫn tin rằng những nỗi nhớ ngút ngàn tê tái con tim, và nỗi cô đơn trong những đêm đông đầy mộng mị... của chị anh vẫn cảm nhận được.

Chị tự an ủi và nghĩ rằng không biết con trai họ yêu như thế nào? Có nhớ nhung nhiều và ý nghĩ lúc nào cũng hướng đến một người như chị không. Chị lại cảm thấy thương anh, nếu như anh cũng yêu chị như thế chắc anh khổ lắm. Người ta nói phụ nữ không giỏi chịu đau như nam giới nhưng đó là những sự đau khổ về thể xác còn tâm hồn thì ngược lại. Nước mắt chị lã chã rơi trong từng vách ngăn của những trường đoạn giấc mơ. Nhưng có khi chị lại nghi ngờ vào cả niềm tin của chính mình. Mỗi tin tức từ anh, chị đều lắng nghe nhưng vờ như là vô tình nghe được. Chị hỏi thăm người ta từ chỗ anh về nhưng rất khéo cứ như chị không chú tâm vào những thông tin về anh.

Và chị vẫn hy vọng. Chị biết anh chưa có người yêu. Ngoài ba mươi, các em gái của chị đã lập gia đình và có con, riêng chị vẫn giữ niềm tin trọn vẹn. Mà không, cuộc sống này đâu phải muốn gì là được, cái cản trở chị có được một ngôi nhà một cuộc sống giản dị của lứa đôi lại là trái tim. Trái tim chị chỉ mở cửa cho một người và đóng lại với tất cả. Có những lúc chị muốn nổ tung giữa đêm khuya khi những ngày chờ đợi vô vọng tin tức từ anh.

Là người ai chẳng khát khao, ái ân vợ chồng chỉ là sự thỏa mãn nhục dục mà đó còn là yêu, là thương là dâng hiến. Các em gái lo lắng cho chị, tuổi xuân không đến hai lần nhưng chị phớt qua tất cả mặc cho con tim gặm nhấm nỗi cô đơn càng làm cho nhan sắc nhanh tàn. Sau đôi ba lần nghe chị nói những câu khó nghe, có khi chị giận dỗi cả tuần, các em gái không đứa nào dám đụng đến chuyện riêng tư của chị nữa.

Có lần tôi thấy chị Tư khóc tức tưởi, bỏ về nhà chồng cả tuần không thèm về thăm cha mẹ dù từ chỗ nhà chồng về nhà cách chưa đầy một cây số. Thành thử các chị em trong nhà rất ngại chị hai. Mẹ thì mắng lắm, chửi lắm rồi cũng thế nên chẳng biết làm sao đành im lặng. Ba hai tuổi so với gái quê chị vẫn còn mặn mà nhưng bao người đến dạm hỏi đều bị từ chối thẳng thừng, đôi khi còn làm mếch lòng họ. Dần dà, họ không còn can đảm để đến.

Cuối năm anh Khuê đột ngột về. Ba mươi ba tuổi anh vẫn chưa vợ. Người ta mong rằng sẽ được đón nhận một kết thúc có hậu. Nghe tin anh về, đang ở trên đồi chè chị chực quẳng cả gánh gồng mà chạy. Nhưng bước chân chị khựng lại “mình là gì của người ta, sau bao năm xa cách như thế, bây giờ anh ấy thế nào?”. Tình cảm là cái mà con người ta không lường trước được, yêu đó, thương đó rồi lại hờ hững. Sự lý giải của bất kỳ một phép toán nào cũng không thể có đáp án đúng. Huống hồ anh đã ra đi gần mười năm trời…

Mười năm trời không một lá thư. Nước mắt chị tuôn trào, ồ ạt như người ta vắt một quả cam mọng nước. Ô hay! Mười năm qua nỗi đau đã lặn vào trong, dẫu có lúc chị quằn quại vì trái tim trưởng như không còn đủ sức đập thêm nhịp nữa nhưng nó âm ỉ cháy chứ đâu như giây phút này. Trời cao mây trắng vẫn nhởn nhơ bay mà lòng chị như lửa đang thiêu đốt. Cả buổi hôm đó chị chẳng làm được gì, chị không cho phép mình và gạt ra ngoài những linh cảm lo sợ đang xâm chiếm cả không gian…

Hy vọng. Một ngày. Hai ngày… Ba ngày, chị vẫn đợi. Nhưng anh không đến. Lòng chị tan ra từng mảnh như chiếc gương chị đánh rơi trong buổi chiều. Nhưng rồi gương không lành mà tâm hồn chị đóng lại thành một cục băng lạnh giá. Chị đau khổ: “Hết. Hết thật rồi…”. Ngày thứ chín, tôi đếm nhưng chị không đếm đã cách đó mấy ngày. Anh đến nhà tôi. Chị tiếp anh với vẻ mặt bình thản. Anh nói: “Ngày mai mời Nữ và gia đình lên nhà ăn kẹo duyên của tôi”. Chị khẽ cười: “Chúc mừng anh…”.

Anh nhìn chị, cái nhìn như soi tận tâm can người đối diện. Cảm xúc trong chị ùa về nhưng chị có đủ lý trí để ngăn lại: “Thế bao giờ anh cưới”. Anh quay mặt đi: “ít ngày nữa”. Ánh đèn dầu hỏa trong một đêm mất điện đã che đi nụ cười méo xệch của chị: “Nhanh nhỉ!…”. “Nữ à, em có ai chưa? Em…”. “Em hả?… có chứ… mà anh tính cưới xong đi luôn à?”. “Có lẽ thế…”. Cuộc gặp gỡ chóng vánh kết thúc, chị biện lý do là có công việc phải làm. Anh ra về. Chị lặng đi trong bóng tối nhìn theo anh, cái nhìn vĩnh biệt. Lòng chị đau như chưa bao giờ như thế. Cứ tưởng như mình đang giã từ chính mình. Giã từ linh hồn biết yêu, biết cảm nhận những điều tinh tế trong cuộc sống. Chỉ vì khi yêu người ta mới có thể biết được hơi thở của người yêu qua làn gió mang từ chốn có người. Vì chỉ có khi yêu và hy vọng ta mới thấy được rằng ta đang sống.

Trong cuộc đời này nếu không còn người mình yêu thương thì như đã chết rồi còn gì? Chị đã từng nghĩ thế. Bây giờ đây ông trời bắt chị phải chết đây. Ừ thì chết! Có sao đâu nhỉ? Chị khuỵu xuống. Trời ơi! Tất cả chấm dứt rồi, cuộc sống ơi ta có còn gì… Giá như có thể ngủ một giấc dài và vĩnh viễn không tỉnh lại thì hay biết mấy…

Nhưng chị vẫn sống. Ba lăm tuổi, chị vẫn sống bình thản, còn mẹ thì rất lo. Cái lo của người đã đi gần hết cuộc đời chiêm nghiệm ra những điều mà người trẻ không lường hết được… Lại có người đến hỏi. Nhưng dạo này những đối tượng đến với chị đa số không ấm đầu thì cũng “âm lịch” hay dạng vũ phu, thô bỉ đã từng bỏ vợ hoặc vợ chết. Chị đùng đùng chửi cả người làm mối. Mẹ thì đay nghiến: “Còn mười tám, hai mươi chi nữa mà kén cá chọn canh”. Nói mãi vẫn thế, mẹ đành im lặng.

Bốn mươi. Nhiều cô gái lỡ thì trong làng vội vã ăn nằm với một ai đó để lấy đứa con nuôi, phòng xa sau này già có nơi nương tựa. Chị cũng hoang mang lắm. Những trận ốm của thời kỳ mãn kinh ập đến, chị nằm mà lo sợ. Nước mắt chị lại tuôn trào. Sang bên kia dốc cuộc đời chị mới thấm thía cái cảm giác cô đơn. Có làm một căn nhà nho nhỏ, do vốn liếng góp nhặt chắt chiu, chị cũng không dám dọn ra ở.

Người ta có thể chịu khổ, chịu được tất cả mọi cực hình nhưng người ta không thể sống được với cô đơn. Thành thử lần lữa mãi chị vẫn sống cùng cha mẹ. Chị cũng muốn có con, một người phụ nữ có con là ước muốn chính đáng. Chị mơ có con với người xưa cũ nhưng không thể rồi. Bốn hai tuổi. Chị nóng lòng quen một ông năm mươi ba, dáng dấp ưng ý, đã có con trai, con gái, nhưng theo ông ta “muốn có thêm đứa con trai để phá thế độc đinh mấy đời”. Cuộc giao ước tưởng đã xong, nhượng bộ mãi cả nhà mới đồng ý cho chị vì ông ta không thể cưới chị đàng hoàng chỉ có thể “già nhân ngãi, non vợ chồng” mà thôi. Đột nhiên tất cả sụp đổ.

Vì là trong làng có một kẻ những tưởng đã gạ gẫm được chị, để hắn ăn nằm với. Hắn biết rõ dù gì thì chị cũng còn là con gái. Vốn là một tay sở khanh, dù gần hết đời và đã có con với năm người đàn bà và cuối cùng chọn một bà công chức về hưu nhưng vô sinh, hắn cũng không bỏ qua món hời khi biết ý muốn của chị. Hắn tọm toẹm hành nghề bói toán lại là bạn đồng môn của chồng em vợ ông kia, người có ý định với chị.

Không ăn thì đạp đổ, và hắn thừa sức để đạp đổ mối tình mong manh ấy. Được mấy bữa ông đi “tìm con” kia trốn biệt tăm. Thằng út ngập ngừng cố ý vòng vo để báo cho chị cái tin ông kia đã tìm được mối khác. Chị không nói gì. Một thoáng thất vọng hiện lên rồi bay đi. Chị cười cười, tảng lờ kể một câu chuyện khác đang là thời sự ở làng bên. Câu chuyện về một đứa con bất hiếu. Chị kể như để khỏa lấp nỗi buồn đã trở nên mơ hồ trong tâm hồn chị.

Bốn mươi lăm. Những trận ốm thời kỳ mãn kinh không còn nữa, chị vẫn sống cùng cha mẹ già. Thằng út bây giờ đi học đại học nên nhà trống trơn. Chị nấu rượu, nuôi lợn. Chị đem rượu bán. Cái thứ rượu nếp trong vùng đã trở thành đặc sản bởi vị cay xé lưỡi và nồng ngọt thì rượu chị như có thêm một chất xúc tác khác nên dù giá có cao hơn một chút người ta cũng tranh nhau mua.

Nhưng chị không ham, thích thì nấu, không thích thì thôi. Mua nhiều cũng không bán, ai mà say lè nhè đến mua thì chị nói bạo miệng lắm, nhưng họ không giận vì chị cũng chẳng để bụng điều gì. Bây giờ chị không sầu não nữa… Nhưng đôi lúc một mình trên đồi chè chị lại nhìn lên trời xem thử mây trắng có còn bay nhiều không…

177

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2008

Bản Năng Làm Mẹ



V.S. Naipaul kể lại chặng đường đầu tiên gian khổ thế này, "Tôi viết Miguel Street trước tiên, bạn tôi, Andrew Salkey mang tác phẩm này đến André Deutsch. Diana Athill, biên tập viên của nhà xuất bản Deutsch, thích câu chuyện nhưng André Deutsch biết những tác phẩm loại này, cho rằng 'truyện ngắn bán không được.' " Bản thảo Miguel Street bị giữ lại trong ngăn kéo. Nhà xuất bản cần truyện dài, thế là Naipaul viết The Mystic Masseur. Ông hoàn tất tác phẩm này tháng Giêng năm 1956. Quyển này lẽ ra được xuất bản ngay trong năm đó. Tác giả là người nôn nóng hơn ai hết mong được nhìn thấy tác phẩm mình trên giấy trắng mực đen. Cuối cùng phải đến tháng Năm, năm sau, The Mystic Masseur mới chào đời. Nhà xuất bản lại đòi thêm một truyện dài khác. Ông viết tiếp và The Suffrage of Elvira được xuất bản tháng Tư, năm 1958. Ngày nay khi nhìn lại quãng đời trước, Naipaul vẫn không quên "nỗi lo lắng và đớn đau tột cùng" đã tạo tác nên ba tác phẩm đó. Hãy thử tưởng tượng, chàng trai Naipaul 23 tuổi đầu, sống trong giấc mơ trở thành nhà văn. Chàng dồn tất cả tấm lòng và sức lực vào tác phẩm đầu tiên. Thời của chàng, thế giới văn chương Tây phương không ai mấy quan tâm đến chuyện thuộc địa hay hậu thuộc địa là điều duy nhất chàng có thể viết vì một lẽ dễ hiểu, chàng đã sinh ra và lớn lên ở một nơi như vậy. Kịch bản đời sống của xã hội đó chàng vừa là nhân chứng, vừa là diễn viên. Trái đắng đó chàng đã nếm, dâu biển đó chàng đã trải qua, một lần và cho cả đời. Hãy thử tưởng tượng, sau những lần chàng bị từ chối, niềm hy vọng đó lọt vào mắt nhà xuất bản Deutsch, rồi kế tiếp là nỗi thất vọng vì "truyện ngắn bán không được." Chàng vẫn không thể quên, "... điều này vẫn còn là cái bóng đen lớn che phủ đời tôi." Chàng nói, "...khi bạn còn trẻ, hai năm là thời gian dài để chờ đợi. Khi bạn lâm cảnh cùng quẩn, như tôi, hai năm cùng quẩn là thời gian quá dài để chờ đợi. Khi bạn muốn đánh dấu sự hiện diện của mình trong thế giới, đó là thời gian dài để chờ đợi... Hồi đó, rất khó cho tôi để tìm ra việc làm, rất khó cho tôi để tìm một chỗ sống, rất khó cho tôi để tìm tiếng nói chính mình. Rất khó cho tôi, vừa phải làm tất cả những việc đó, vừa phải viết ra những quyển sách ấy, để xuất bản." V.S. Naipaul đã khởi đầu sự nghiệp văn chương như thế.

Trong công bố với báo chí, Hàn Lâm Viện Thụy Điển coi những câu chuyện ngắn của Miguel Street là "sự pha trộn giữa Chekhov và điệu nhạc calypso tạo Naipaul thành nhà hoạt kê và kẻ mô tả đời sống trên đường phố." Con đường có tên Miguel, khu ổ chuột của thành phố Port of Spain, đã được nhìn qua cặp mắt quan sát của cậu bé mới lớn của nhân vật xưng tôi. Ở đó có gã thợ mộc tên tên Popo làm việc tất tả để tạo những "vật không có tên." Ở đó có cô Laura luôn luôn mang bầu, có tám đứa con với bảy đời chồng. Ở đó có tay anh chị tên Bogart chọc trời khuấy nước và sau cùng bị bắt vì tội đa thê... Con đường nối liền những mảnh đời tù túng, buồn, xám. Con đường cũng nối liền những ước mơ vượt thoát, bỏ đi, đổi đời. Có cả thảy mười bảy câu chuyện được kể. Mỗi chuyện mở ra một bi kịch của đời sống riêng tư từng nhân vật. Nhưng ở đây, người kể chuyện không khai thác khía cạnh bi kịch đó. Ông nhìn mọi chuyện trong cái vẻ khôi hài, một thứ "cười ra nước mắt" của Gogol. Tiếng cười theo nhận xét của Octavio Paz không thấy ở Homer hay Virgil mà chỉ được thấy kể từ khi có Cervantes, "là phát minh lớn của tinh thần hiện đại." Milan Kundera nói rõ hơn, "đó là sự phát minh gắn liền với sự ra đời của tiểu thuyết."





Tôi nghĩ Laura là người giữ kỷ lục thế giới.

Laura có tám đứa con.

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên.

Tám đứa con của cô có cả thảy bảy người cha.

Dám qua mặt nổi không!

Chính Laura là người đã dạy cho tôi bài sinh vật học đầu tiên. Cô sống cạnh nhà chúng tôi, và tôi có cảm tưởng mình quan sát cô thật gần.

Tôi ghi nhận bụng cô lớn dần lên sau nhiều tháng.

Kế tiếp cô biến đi một khoảng thời gian ngắn.

Và rồi tôi thấy bụng cô nhỏ đi.

Và tiến trình tăng trưởng này bắt đầu trở lại vài tháng sau đó.

Đối với tôi đó là một trong những điều kỳ diệu của thế giới nơi tôi đã sống, và mãi quan sát Laura. Chính cô cũng khá vui vẻ khi nói đến chuyện xảy ra trong đời sống. Cô vẫn thường chỉ bụng mình và nói, "Của này lại đến nữa đây, nhưng chị sẽ quen đi sau ba bốn lần đầu. Tuy thiệt là phiền hết sức."

Cô thường đổ lỗi cho Thượng Đế, và nói về sự tinh quái của đàn ông.

Bởi vì với sáu đứa con đầu tiên, cô đã thử qua sáu người đàn ông khác nhau.

Hat vẫn hay nói, "Có một số người thiệt khó làm cho họ hài lòng."

Nhưng tôi không muốn tạo ấn tượng cho bạn là Laura dùng cả thì giờ cô có vào việc sinh đẻ và lên án đàn ông, và thường xuyên cảm thấy hối tiếc cho bản thân mình. Nếu Bogart là người nhàm chán nhất trong khu phố, Laura lại là người sinh động hơn hết. Cô luôn luôn vui vẻ và cô lại thích tôi.

Cô vẫn cho tôi những trái mận và xoài cô có; và khi nào làm bánh đường, cô vẫn thường cho tôi một ít.

Ngay cả mẹ tôi vốn không thích cười đùa, nhất là ở tôi, cũng phải cười với Laura.

Bà vẫn thường nói với tôi, "Mẹ không biết vì sao Laura lại để tâm đến con như vậy. Bộ cô ta không có đủ con cái để lo hay sao."

Tôi nghĩ mẹ tôi đúng. Tôi không nghĩ một người đàn bà như Laura lại có thể có nhiều con đến như vậy. Cô thương mọi đứa, dù rằng bạn có thể không tin vào điều này nếu dựa vào ngôn ngữ cô dùng để nói với chúng. Một số những lời quát mắng của Laura khá phong phú đến nỗi tôi chưa bao giờ nghe qua và tôi sẽ không bao giờ quên được.

Một lần Hat nói, "Mày coi, cổ giống như Shakespeare khi cần dùng đến chữ nghĩa."

Laura thường la con thế này, "Alwyn, con thú rộng mồm kia, đến đây."

Và, "Gavin, nếu mày không đến đây ngay, tao sẽ khiến mày địt ra lửa, có nghe không."

Và, "Lorna, con chó đen chân vòng kiềng, tại sao mày không để ý tứ vào chuyện mày đang làm hả?"


*****

Bây giờ, so sánh Laura, mẹ của tám con, với cô người Tàu Mary, cũng tám con, là điều không công bằng. Bởi vì Mary chăm sóc con cái thật kỹ lưỡng, và chưa bao giờ nặng lời với chúng. Nhưng Mary, xin lưu ý với bạn, có người chồng chủ một cửa hàng, và Mary có điều kiện để lịch sự và tử tế với con cái, sau khi đã cung phụng chúng đầy đủ những món rau cải xào thịt, và mì xào, và hủ tiếu xào và những món có tên tương tự. Còn Laura, cô tìm ở đâu ra tiền để lo cho con?

Những người đàn ông tuần tự chậm rãi đi ngang qua nhà Laura mỗi chiều, huýt sáo gọi Laura, không phải là người bỏ tiền ra cho con của Laura. Họ chỉ muốn Laura.

Tôi hỏi mẹ tôi, "Laura ra sinh sống ra sao?"

Mẹ tát yêu tôi, nói, "Con biết không, con nhanh nhẩu quá so với tuổi của con."

Tôi ngờ là có chuyện thật tệ hại.

Nhưng tôi không tin đó là sự thật.

Thế nên tôi hỏi Hat. Hat nói, "Cô ta có rất nhiều bạn buôn bán ngoài chợ. Họ biếu xén cô nhiều thứ, và đôi khi một, hai hay ba người chồng cô cho cô nữa, nhưng không nhiều lắm đâu."

Phần lạ nhất của câu chuyện là ở Laura. Laura không đẹp. Như Boyee một lần có nói, "Cô ta có khuôn mặt giống như cái mặt trên của bình điện xe hơi." Và cô hơi mập một chút.

Tôi đang nói đến thời kỳ cô chỉ mới có sáu đứa con.

Một ngày nọ, Hat nói, "Laura vừa có một người đàn ông mới."

Mọi người cười, "Chuyện chẳng có gì lạ. Nếu Laura có cách của cô, cổ nên thử qua mỗi người đàn ông một lần."

Nhưng Hat nói, "Không, tao nói thiệt. Hắn đến sống với cổ luôn rồi. Tao thấy hắn sáng nay lúc tao dắt bò ra đồng."

Chúng tôi theo dõi và chờ đợi người đàn ông này.

Sau đó chúng tôi mới biết chính hắn cũng theo dõi và chờ đợi chúng tôi.

Không ít lâu sau, người đàn ông này, Nathaniel, gia nhập vào băng của đường Miguel. Nhưng rõ ràng hắn không thật sự là một thành viên trong nhóm chúng tôi. Hắn xuất thân từ tận cùng phía đông của Port of Spain, là nơi chúng tôi coi như là nhơ bẩn hơn; và ngôn ngữ hắn dùng thật thô nhám.

Hắn bịa chuyện hắn là một kẻ từng gieo rắc kinh hoàng ở đoạn cuối phía đông đường Piccadilly. Hắn kể lại nhiều chuyện băng đảng đánh nhau, và hắn cũng muốn cho mọi người biết hắn đã từng tàn phá diện mạo của hai hay ba người gì đó.

Hat nói, "Tao nghĩ hắn chỉ nói nhăng, nói cuội, tụi bây biết không."

Chính tôi cũng không tin hắn. Hắn là người nhỏ con, và tôi luôn luôn có cảm tưởng là người nhỏ con thường quỷ quái và hung bạo.

Nhưng điều thật sự khiến chúng tôi buồn nôn là thái độ của hắn đối với phụ nữ. Tuy không một ai trong chúng tôi gọi là hào hiệp nhưng thái độ khinh miệt phụ nữ của Nathaniel là điều chúng tôi không thích. Hắn luôn luôn đưa ra nhận xét thô lổ khi nhác thấy một phụ nữ đi ngang qua.

Nathaniel có thể nói, "Đàn bà giống như bò cái. Bò cái và họ như nhau."

Và khi cô Ricaud, người đàn bà an phận, đi qua, Nathaniel buông miệng, "Hãy nhìn con bò cái mập kia kìa."

Đó không phải là câu nói đàng hoàng bởi vì chúng tôi đều nghĩ rằng cô Ricaud quá mập để đáng bị chế nhạo, và lẽ ra nên thương hại cô hơn.

Nathaniel, lúc đầu, cố gắng làm cho chúng tôi tin rằng hắn biết cách trị Laura. Hắn gợi ý là hắn vẫn thường đánh đập cô. Hắn hay nói, "Đàn bà, họ thích bị đập cho thật đích đáng, biết không. Tụi bây chắc biết điệu hát calypso này:


Thỉnh thoảng chỉ cần đánh họ ngã xuống Thỉnh thoảng chỉ cần ném họ xuống Đánh bầm mắt họ, đánh sưng gối họ lên Và như thế họ sẽ yêu anh vĩnh viễn

Đó là sự thật phúc âm về đàn bà."

Hat nói, "Thiệt đúng đàn bà là thứ buồn cười. Tao không hiểu một người đàn bà như Laura thấy gì ở Nathaniel."

Eddoes nói, "Tao biết rất nhiều về đàn bà. Tao nghĩ Nathaniel chỉ nói nhăng nói cuội. Tao nghĩ khi đối diện với Laura hắn cụp đuôi từ đầu đến cuối."

Chúng tôi thường nghe các vụ đánh nhau và nghe tiếng trẻ con la hét ầm ỉ, và khi chúng tôi gặp Nathaniel, hắn có thể chỉ nói, "Vừa đập cho mụ đàn bà đó một bài học."

Hat nói, "Vui chưa. Laura không có vẻ gì buồn hơn trước."

Nathaniel nói, "Chỉ có đánh mụ mới thực sự khiến mụ hài lòng."

Dĩ nhiên Nathaniel nói dối. Không phải hắn là kẻ xuống tay mà là Laura. Điều này lộ ra khi Nathaniel tìm cách đội mũ để che giấu con mắt bầm đen của mình.

Eddoes nói, "Hình như người ta viết ra điệu hát calypso cho đàn ông chứ không phải cho đàn bà."

Nathaniel sấn tới định thịt Eddoes, là người vốn nhỏ con, ốm yếu. Nhưng Hat buộc miệng, "Này, hãy thử ra tay với Laura đi. Tao biết Laura. Laura chỉ mới đập mày vừa đủ để mày ở với nó, nhưng đến ngày nó chán mày, cách tốt nhất là mày phải chạy thôi."

Chúng tôi cầu nguyện cho một chuyện gì đó xảy ra để Nathaniel phải rời bỏ đường Miguel.

Hat nói, "Chúng mình không cần phải đợi lâu đâu. Laura mang bầu tám tháng rồi. Còn một tháng nữa là Nathaniel phải đi thôi."

Eddoes nói, "Đó mới thật là một kỷ lục mới. Bảy đứa con với bảy thằng chồng."

Đứa bé chào đời.

Đó là ngày thứ Bảy. Buổi chiều hôm trước tôi còn thấy Laura đứng trong sân tựa vào hàng rào.

Đứa bé lọt lòng mẹ lúc tám giờ sáng. Và, như một phép lạ, chỉ hai giờ sau, Laura đã gọi vọng sang mẹ tôi.

Tôi nấp và lén nhìn.

Laura tựa vào thành cửa sổ. Cô đang ăn xoài, và chất nước vàng loang lổ trên mặt cô.

Cô nói với mẹ tôi, "Cháu bé ra đời sáng nay."

Và mẹ tôi chỉ có thể nói, "Trai hay gái?"

Laura nói, "Bà nghĩ tôi có may mắn hay không chứ? Tôi nghĩ mình thiệt bịnh hoạn. Lại một đứa con gái nữa. Tôi chỉ muốn cho bà biết chuyện này, thế thôi. Thôi, tôi phải đi đây. Tôi phải lo may vá chút đỉnh.

Và ngay buổi chiều hôm đó có vẻ như điều Hat nói trở thành sự thực. Bởi vì buổi chiều hôm đó Laura ra đường và kêu to tiếng với Nathaniel, "Ê, Nathaniel, tới đây."

Hat nói, "Chuyện quái gở gì nữa đây? Có phải cổ vừa sinh con sáng hôm nay không vậy?"

Nathaniel làm ra vẻ ngon lành trước mặt chúng tôi. Hắn nói với Laura, "Tao đang bận. Tao không về được."

Laura sấn tới và tôi thấy cô có vẻ như sẵn sàng đập lộn. Cô nói, "Mày không về? Không về? Tao nghe có đúng không?"

Nathaniel lo ngại. Hắn cố trò chuyện với chúng tôi, nhưng không ai hiểu hắn nói gì.

Laura nói, "Mày nghĩ mày là đàn ông. Nhưng đừng đóng vai đàn ông với tao nghe chưa. Phải, Nathaniel có phải tao đang nói với mày hay không, cái thằng có cái đít như hai ổ bánh mì thiu trong quần kia."

Đó là câu nói hay nhất của Laura, và chúng tôi tất cả phá lên cười. Khi thấy chúng tôi cười, Laura cũng bật cười theo.

Hat nói, "Mụ đàn bà này thiệt quá cỡ."


*****

Nhưng sau khi đứa con ra đời, Nathaniel vẫn không rời đường Miguel. Chúng tôi hơi lo ngại.

Hat nói, "Nếu không cẩn thận, cổ lại có thêm đứa con nữa với cùng một người đàn ông, tụi bây biết không."

Không phải tại lỗi của Laura mà Nathaniel không ra đi. Cô đập hắn nhiều trận và làm điều này một cách công khai hơn trước. Thỉnh thoảng cô nhốt hắn ở ngoài và chúng tôi được nghe Nathaniel khóc lóc và năn nỉ nhẹ nhàng bên lề đường, "Laura, em yêu, Laura, cục cưng, hãy để anh vô nhà đêm nay. Laura, cục cưng, hãy để anh vô."

Bây giờ hắn bỏ quên cả cái thói giả bộ như một tay có thể trừng trị được Laura. Hắn không muốn nhập bọn với chúng tôi nữa, và chúng tôi lấy làm khoái trá về điều này.

Hat thường hay nói, "Tao không biết tại sao hắn không trở về Dry River nơi hắn xuất thân. Hắn sẽ sung sướng hơn ở cái nơi không có văn hóa đó."

Tôi cũng không hiểu tại sao hắn vẫn ở lại đây.

Hat nói, "Có một số đàn ông giống như hắn. Bọn này thích bị đàn bà hành hạ."

Và Laura càng ghét cay đắng Nathaniel hơn.

Một ngày nọ chúng tôi nghe cô bảo hắn, "Mày nghĩ mày cho bà một đứa con là mày làm chủ bà phải không. Đứa con đó ra đời vì tai nạn, mày có nghe thủng không."

Cô đe dọa kêu cảnh sát.

Nathaniel nói, "Nhưng rồi ai chăm sóc con cái cho em?"

Laura nói, "Chuyện đó để tao tính. Tao không muốn mày ở đây. Mày chỉ thêm một miệng ăn phải lo. Và nếu mày không đi ngay lập tức tao sẽ kêu trung sĩ Charles lo cho mày."

Chỉ khi bị đe dọa kêu cảnh sát Nathaniel mới chịu ra đi.

Mặt hắn ràn rụa nước mắt.

Nhưng bụng Laura lại phình ra thêm lần nữa.

Hat nói, "Trời ơi! Hai đứa con với cùng một người đàn ông!"


*****

Một trong những sự kỳ diệu của đời sống trên đường Miguel là không ai bị chết đói. Nếu bạn ngồi xuống bàn với cây viết chì và tờ giấy và cố gắng tính toán, bạn sẽ thấy điều này không thể nào xảy ra được. Nhưng là người sống ở đường Miguel, tôi có thể bảo đảm với bạn là không ai chết đói. Có lẽ họ có bị đói, nhưng bạn sẽ không bao giờ nghe ai nói về điều này.

Con cái của Laura rồi cũng lớn lên.

Cô con gái cả, Lorna, bắt đầu làm đầy tớ cho một nhà ở St. Claire và đi học đánh máy từ một người đàn ông ở đường Sackville.

Laura hay nói, "Trên thế giới không có điều gì giống như giáo dục. Tôi không muốn các con tôi lớn lên giống như tôi."

Vào lúc đó, Laura sinh ra đứa con thứ tám, một cách không cần phải cố gắng như thường lệ.

Đó là đứa con sau cùng của cô.

Không phải tại vì cô đã quá mỏi mệt hay cô đã đánh mất tình yêu đối với nhân loại hay cô đã mất đam mê cung cấp thêm người cho nhân loại. Thực tế là Laura không bao giờ già hơn hay ít vui hơn. Tôi luôn có cảm tưởng rằng nếu có cơ hội, cô có thể tiếp tục có thêm con nữa.


*****

Cô con gái cả, Lorna, một đêm nọ, từ lớp học đánh máy về nhà trễ và nói, "Mẹ, con sẽ có con."

Tôi nghe tiếng rít của Laura.

Và đó là lần đầu tiên tôi nghe Laura khóc. Đó không phải là tiếng khóc bình thường. Cô có vẻ như khóc cho mọi tiếng khóc cô đã giữ lại kể từ ngày cô được sinh ra; cho mọi tiếng khóc mà cô đã cố giấu đi bằng tiếng cười. Tôi từng nghe người ta khóc ở các đám tang, nhưng có khá nhiều giả tạo trong tiếng khóc đó của họ. Tiếng khóc của Laura trong đêm hôm đó là điều ghê gớm nhất tôi chưa từng nghe được. Nó khiến tôi cảm thấy thế giới thật là một nơi chốn ngu xuẩn và buồn, và tôi gần như sắp rớt nước mắt với Laura.

Cả đường phố đều nghe Laura khóc.

Ngày hôm sau Boyee nói, "Tao không hiểu tại sao Laura lại quá giận dữ về chuyện đó. Cổ cũng có khác gì đâu."

Hat thật bực tức, nó rút dây thắt lưng da ra và quật Boyee.

Tôi không biết tôi phải tội nghiệp ai, Laura hay con của cô.

Tôi có cảm tưởng như giờ đây Laura cảm thấy tủi nhục nếu phải xuất hiện ngoài đường phố. Khi tôi gặp lại cô tôi không tin cô là người đã từng cười đùa với tôi và đã từng cho tôi những cái bánh đường.

Bây giờ cô đã thành một bà già.

Cô không còn la mắng con cái, không còn đánh đập chúng. Tôi không biết tại vì cô lo lắng chúng đặc biệt hơn hay đã không còn quan tâm đến chúng nữa.

Nhưng chúng tôi không nghe Laura nói một lời trách móc nào đối với Lorna.

Điều này thật kinh khủng.

Lorna mang con về nhà. Không có lời bỡn cợt nào về chuyện này trên đường phố.

Nhà của Laura là căn nhà chết chóc, im lặng.

Hat nói, "Đời sống thiệt quá sức. Mày có thể thấy chuyện rắc rối xảy đến mà không thể làm được chút gì để ngăn chận nó lại. Rồi mày chỉ còn biết ngồi nhìn và chờ đợi."


*****

Theo tin trên báo, chuyện đó chỉ tạo thêm một bi kịch cuối tuần, là một trong số nhiều bi kịch.

Lorna chết đuối ở Carenage.

Hat nói, "Đó là chuyện thiên hạ hay làm, bơi ra xa, thật xa cho đến khi thật rã rời và không thể bơi được nữa."

Và khi cảnh sát đến báo tin cho Laura, cô chỉ nói thật ít.

Laura nói, "Tốt. Tốt. Tốt hơn là như vậy."
176

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2008

Ảo Ðăng



Mỗi lần vào nghĩa trang, tôi sờ tay lên phiến huyền thạch mát lạnh, rồi ngó bâng quơ cây thập tự bằng đồng đỏ ối vươn cao. Chín ngày sau đám tang, phần mộ xây xong, tôi trở vào đó nhìn chăm bẳm tấm bia. Chỉ là cái tên sao đủ cho tôi khép chặt mắt lại mà vẫn thấy khuôn mặt mình rõ ràng là bản sao trung thực của người mang nó. Cũng cặp mắt lệch, một con đuôi dài khem khép, con kia cùn cụt lồi ra chắc để cố giữ quân bình thị độ. Vành lông mày rậm đánh lên thẳng thừng vô cớ, còn hai cánh tai càng ngày càng cố tình xòe ra như cặp loa hẳn để nghe cho rõ tiếng đời sống thất thanh kêu rú ngoài thế giới âm u này. Thường, tôi đứng dậy ra về trước khi những cây dẻ tàn rậm sẵn sàng ôm trùm các ngôi mộ, xoá sạch hết lối đi.

Không gian mỗi ngày một kín mít, đêm đổ chẳng ngại ngần, tôi nằm vật xuống chiếc giường rộng thênh, đầu óc rỗng. Về đến căn nhà từ khi trời nhập nhoạng cho đến lúc đồng hồ treo tường vượt qua một ngày khác, tôi thường chẳng nhớ mình làm những gì trong khoảng thời gian ấy. Chui vào phòng tắm xịt nước ào ào rồi tròng cái T-shirt thùng thình lê vào bếp, lôi ra mẩu bánh mì từ cái bao vải, xẻ một miếng phó mách, rót một ly rượu vang. Ði qua đi lại, nhai và nuốt. Không mấy lần tôi chịu khó ngồi ở chiếc bàn con để chậm rãi thưởng thức bữa tiệc bánh mì, phó mách và rượu ấy. Ăn cho xong và tắm cũng cho xong. Trong gian nhà hai phòng hơn ba mươi mét vuông, tôi lẩn quẩn, cuối cùng ném xuống giường tấm thân vô tội.

Cứ thế, tôi nhập vào bóng tối, trong khi ngoài cánh cửa sổ đã đóng chặt có sẵn ngọn đèn đứng khẳng khiu bên bờ kinh vẫn vắt lên tới tầng lầu này một thứ ánh sáng vàng lãng. Nước dưới ấy chảy âm thầm, bải hoải vì tên thiết kế con kinh nhân tạo luồn giữa hai dãy nhà đã quên đặt vài hòn đá, đôi khúc cây trong lòng hay bên bờ để thay đổi chuyển động của dòng nước. Tuy thế những bụi hoa mận tiá và mấy cây liễu dáng chừng thoả mãn, soi bóng lung linh trên mặt lục. Còn tôi, chẳng mấy khi có nhu cầu ra đứng ở lan can nhìn xuống, chộp lấy chút sắc xanh sóng sánh hay ngửi hơi gió thoảng. Dọn về đây đầu đông, cho đến cuối hè là gần một trăm đêm tối nằm ngang sổ dọc trên mặt nệm. Hai chân quấn quíu vào nhau, một bàn tay vuốt ve cuống cổ, tay còn lại luồn dưới vải áo mân mê, tôi truồi dần vào những cơn mơ cho đến bốn giờ mười lăm phút sáng. Hôm nào cũng thế, giờ ấy tôi bị lôi ra khỏi giấc mộng thật đột ngột bởi tiếng nước kéo ào xoáy khọt vào tai bên kia vách. Những ngày đầu bực bội, tôi định đập vô tường hét vọng qua : Ðợi tới sáng giật nước cũng chẳng hôi hám gì. Nhưng cuối cùng, sự lười biếng lê chân khỏi giường cho tôi đủ bình tĩnh để nghĩ lại : Thà bị đánh thức còn hơn tiếp tục cơn mơ đuổi bắt mệt nhoài những hình nhân không mặt mũi, hay nghẹt thở bò rạp giữa thảm cỏ ẩm ướt tối, chúi mắt đánh vần từng tên người trên những phiến bia.

Ðến hôm nhìn rõ ra người hàng xóm, không những tôi chẳng còn giận dữ mà đêm đêm nếu bất chợt tỉnh mộng trước bốn giờ mười lăm tôi nằm đợi rồi mỉm cười với tiếng nước ban đầu sè sè xong nhỏ lại, ngập ngừng. Người đàn bà đi tiểu đêm đúng giờ đúng khắc ấy mang khuôn mặt Á Châu đằm thắm. Mấy nếp gấp của tuổi sáu mươi nơi khóe mắt nhếch lên cùng với mép cười có chút gì tinh quái mà tôi chỉ nhận ra độ sau này, từ một hôm bà đến ngồi gần cửa sổ trông ra ngoài hành lang là lối vào chung cho mấy căn nhà cùng xoay về một hướng. Chiếc phong linh reo vui khi bà ấy mở cửa bước hẳn ra ngoài, vài ba câu rồi bà rủ tôi vào nhà. Hai căn cùng một diện tích nhưng bên tôi trống trải lạnh lẽo bao nhiêu thì đầy đặc và ấm áp vô cùng trong không gian người đàn bà ấy. Tranh ảnh, cây xanh, lồng chim, dây giăng ngang trần treo lủng lẳng những quả chuông, đèn lồng. Mùi nhang trầm phảng phất với một thứ hương nồng nả. Bà chỉ cây hoa cánh dài trắng muốt bảo đó là hoa ngọc lan nhiệt đới, rồi ngắt một bông cài lên mái tóc rối bù của tôi. Những ngón tay đều đặn, hồng và mềm lạ lùng của một người quá tuổi. Thân mật kéo sợi tóc ra khỏi vành tai cho tôi, bà vuốt sổ xuống nhẹ nhàng :

- Ðể thế này thì hơn.

Lần đầu tiên tim tôi không nhói lên trước một câu nói động chạm xa gần tới khuôn mặt mà lâu rồi vì nó, tôi đập vỡ những chiếc gương.

***

Hôm bà vẫy sang, tặng chiếc lồng có cặp chim mỏ đỏ lông vàng cũng là lần đầu tiên tôi đứng lâu ở chiếc ban công nhà bà sát cạnh của tôi. Trời bây giờ mau tối, ánh tím chiếu trên mặt nước con kinh lềnh dềnh lá liễu thon cong rụng trở mùa. Ngửng mắt sang khu nhà đối diện, bất chợt tôi bắt gặp những chiếc đèn lồng vừa nháy lên trên đầu một chậu cây bách diệp. Quay lại tôi hỏi :

- Bên kia hẳn nhà người Á Châu, họ cũng có mấy cái đèn giống y.

Người đàn bà đang rót nước vào bình trà dưới cửa sổ ngó ra :

- Không, tên ấy chắc người Ý.

- Sao lại chắc ?

Bà ta chép miệng :

- Ðoán thế, giống mấy thằng tài tử xi-nê, với lại bọn Ý khoái ảo thuật.

Tôi cười trước sự suy diễn dễ dàng :

- Bà thấy hắn làm ảo thuật à ?

Người đàn bà chặn ngay :

- Tại cô cứ nằm im ỉm trong nhà nên chẳng thấy hắn tập dượt. Xem đã lắm.

Tự nhiên tôi tò mò :

- Thế hắn có trình diễn trên truyền hình không ? Tên gì ?

Bưng khay trà đặt trên chiếc bàn con, bà chậm rãi chuốc nước từ cái chung sành xanh biếc nhỏ xíu này sang cái chung kia, cơ hồ chẳng nghe câu hỏi. Ðầu những ngón tay cắt gọn, hơi vuông vức nhưng chúng cân xứng với khuôn mặt và cả con người tầm thước của bà ta. Tôi chăm chú nhìn, quên bẵng điều mình muốn biết, cho tới lúc bất ngờ bà thản nhiên nói tiếp :

- Tài tử thôi. Hắn có việc làm nhất định, đi sớm về muộn hơn cô.

Ðêm đó mắt trâng tráo, cơn mơ lọt ra ngoài. Bàn tay vẫn luồn trong chiếc áo ngủ rộng thênh, xoa xoa mảnh bụng nhộn nhạo. Hai con chim sùng sục, khi gù gù lúc dãy phành phạch. Bóng đen đặc quánh. Chẳng thấy chúng làm gì nhưng tôi tưởng tượng những cánh lông xù lên, rồi bị dứt khỏi da bay loạn mù trong chiếc lồng, mỗi cuống lông mang một giọt máu nhểu hoài không cạn. Mãi gần sáng tôi thiếp đi trong đốm sáng lúc tròn xoe ấm áp của đèn lồng, lúc xanh lạnh như sao trời hun hút.

Sáng trở dậy tôi đem chiếc lồng treo ngoài ban công. Hai con chim suốt đêm trong bóng tối đang cú rú vào nhau thảm hại, mỏ quẹt quẹt, đuôi cà cà. Khi ngửi ra hơi sương sớm bốc từ mặt kinh chúng ngóc đầu rồi hớn hở bay lên đánh đu trên thanh tre cao nhất. Chiều đi làm về tôi ghé mua chậu cây, những bông hoa đỏ li ti làm sáng mắt cặp chim, chúng nhảy nhót kêu riu ríu, đến nỗi bà ta bên kia cất tiếng :

- Chao, làm gì bắt loạn.

Tối lại tôi bỏ giường mở cửa ngó sang c143

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2008

Bao Giờ Cho Ðến Bốn Năm Sau ?



Lần cuối cùng bạn tự động bắt chuyện với ông giáo sư gì thường lách vội qua cái ngõ bị bạn khuỳnh tay đứng chắn là bao giờ nhỉ ? Bạn thuộc giới vô công rồi nghề, ông ấy thuộc giới vô tích sự, chẳng bên nào hơn bên nào, nhưng ông ấy kém bạn ở cái khuỳnh tay đứng ngõ. Việc gì phải hạ cố bắt chuyện. Lần cuối cùng bạn thấy bọn trí thức cũng đáng hưởng chút tình hàng xóm, thậm chí bạn ngầm thừa nhận cái địa vị và học thức của ông giáo sư gì, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm trước, vào mùa World Cup bóng đá. Nhà văn Uruguay Eduardo Galeano, tác giả cuốn kinh thánh bóng đá Quả bóng hình tròn, cho rằng thượng đế và bóng đá giống nhau ở chỗ : dân chúng càng kính ngưỡng thì kẻ trí thức càng hoài nghi. Tôn giáo và bóng đá đều là thuốc phiện cho nhân dân. Thượng đế đã chết thật, hay thượng đế lại đầu thai vào quả bóng ? Pelé vĩ đại đã nói rồi, may mà có bóng đá, nếu không thì nước Brazil chúng tôi chắc phải làm cách mạng. Nhà văn Tây Ban Nha Javier Marias, cổ động viên chung thuỷ của Real Madrid thì cho biết, hai mươi năm trước không một trí thức Tây Ban Nha nào dám công khai ngưỡng mộ bóng đá, bây giờ muốn lên a-văng-gác lại phải rành đá banh. Thuốc phiện cho nhân dân hay viagra cho ám ảnh bất lực của kẻ sĩ trong kỉ nguyên huy hoàng của văn hoá đại chúng ?


Những chuyện ấy chẳng quan hệ đến bạn và ông giáo sư gì. Vào mùa bóng đá, ông ấy hết vô tích sự và bạn hết vô công rồi nghề. Ông ấy thuộc tên các câu lạc bộ, cầu thủ, huấn luyện viên và trọng tài hơn bạn nhiều, toàn tên nước ngoài, bạn làm sao nhớ nổi ? Ông ấy phân tích luật chơi đâu vào đấy, dùng từ chuyên môn chuẩn xác, nhờ vậy mà bạn biết cái vị trí offside là " việt vị ", trước đây bạn toàn nghe đám thất học gọi bừa là " liệt vị ". Việt là vuợt, như tên nước mình, ông ấy giải thích và bạn gật gù. Nước mình chả biết vượt đi đâu, nhưng nghe cũng khoái hơn một cái tên vô nghĩa. Bù lại, nhờ bạn mà ngôn ngữ bóng đá của ông ấy ác chiến hơn, cũng " bóng nóng ", " bóng nguội ", " tanh ", " máu ", " xích lô chỏng càng ", " ngả bàn đèn ", " nhả ", " ngoáy ", " găm ", " mồi ", " bốc "," lí nhí củ lạc ", " nấu cháo sườn "," chuối ", " siêu chuối "... Ông ấy bình luận rất chí lí về phong cách chơi tức phong cách tồn tại của từng dân tộc, nhờ vậy mà bạn biết chuyển từ ngưỡng mộ sang khinh bỉ cái tinh thần duy lí, thực dụng, phi nghệ thuật, thiếu hào hoa của bóng đá và chủ nghĩa Ðức. Bọn Ý cũng không khá hơn. Chúng nó cùng một duộc phát xít là phải. Tất nhiên nếu chạy đủ tiền, bạn sẽ cho thằng con lớn đang chờ chiếm cái chỗ khuỳnh tay đứng ngõ của bạn sang Ðức tị nạn chứ không sang Brazil. Bóng đá là cả cuộc đời, nhưng cả cuộc đời lại không chỉ là bóng đá, chính ông giáo sư gì đó triết lí như thế. Năm nay ông ấy cũng gửi con đi Pháp du học chứ không đi Senegal. Nhờ một trò chơi chẳng made gì in Việt Nam mà trí thức Việt bốn năm một lần xứng đáng là thành phần phát ngôn của dân tộc, là thày và bạn của nhân dân.


Còn bạn, lần cuối cùng đồng chí công an khu vực ghé qua quán cà phê có bán thuốc lắc (1) của bạn, không phải để phạt mấy chiếc ghế nhựa chiếm hè đường trái phép, là bao giờ nhỉ ? Bạn thuộc giới nhảy rào pháp luật từ phía bên này, đồng chí ấy thuộc giới nhảy rào pháp luật từ phía bên kia. Rồi cũng tập kết ở cùng một điểm mà thôi, nhưng gặp nhau ở quán cà phê của bạn thì không sướng. Lần cuối cùng đồng chí ấy thoải mái tụt giày, ngồi xổm trên một trong những chiếc ghế nhựa phạm pháp ấy và bạn ngừng tay san bịch thuốc lắc thành từng gói nhỏ xanh đỏ vui mắt, hai bên say sưa nói về một sự kiện không xảy ra trong khu phố, không xảy ra trong quán cà phê, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm truớc, vào mùa World Cup bóng đá. Sự kiện quân đầu gấu Ðức đánh trọng thương một cảnh sát Pháp. Việt Nam mà đăng cai mông-đi-an thì cảnh sát mình cho đầu gấu quốc tế biết thế nào là lễ độ. " Chuồng cọp " còn để trống nhiều, cho thuê không được mấy. Năm nay là một đồng chí khác, công an khu vực thuộc quận Hoàn Kiếm của bạn đảo như rang lạc, như cầu thủ chuyển câu lạc bộ, như Bora Milu chuyển đội tuyển quốc gia. Ðồng chí năm nay căm thù mười một thằng điên Hàn Quốc và băng trọng tài mafia. Mười một thằng điên, mỗi thằng nửa triệu đô la chờ ở chung kết, mua mấy tiếng còi chẳng được. Việt Nam mà đăng cai mông-đi-an thì quân hối lộ khóc thét. Nhờ một trò chơi chẳng made gì in Việt Nam mà toàn dân Việt bốn năm một lần chuộng pháp luật và tẩy chay tham nhũng.


Còn bạn, lần cuối cùng bạn quên phắt rằng, gã đàn ông ngồi cạnh đang cắn móng tay và năm phút nữa sẽ tan như giẻ rách theo đội Anh thực ra là thủ trưởng cơ quan bạn, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm trước, vào mùa World Cup bóng đá. Mùa hè. Còn lâu mới Tết. Còn lâu bạn mới phải rụt rè giao lưu chai rượu Tây, tức vừa xinh tháng lương thứ mười ba, vào tay vợ thủ trưởng và phấp phỏng lo rượu rởm. Mắt mụ ấy như mắt cú, nhìn xuyên Johnny Ðen (2). Bây giờ gã ấy ngồi cạnh bạn, nốc rượu đế bằng cái chén bẩn. Kiến thức bóng đá của gã mỏng như áo em, bạn nói gì gã cũng gật. Gã thua cá là phải. Bạn sẽ giành lại nhiều tháng lương thứ mười ba từ tay gã, giấu mắt cú của vợ. Còn lâu, ít nhất là xong trận chung kết, bạn mới phải trở lại bàn giấy cơ quan, gã nói gì bạn cũng gật. Năm nay bạn cá lớn cho đội Thổ vào bán kết. Thủ trưởng cơ quan bạn, thằng ngốc, thằng nịnh Tây, thằng nô lệ cho thực dân, cắm nguyên con Daewoo mới chạy rốt-đa vào Pháp. Bóng đá tái thiết lập công bằng xã hội, mà xã hội Việt chẳng tốn một khẩu hiệu nào. Của người phúc ta, kì diệu là như vậy.


Còn bạn, lần cuối cùng vợ chồng bạn thức trắng, không để cãi nhau, không để lo mẻ xôi sáng mai thử bán, không để tâm sự chuyện nặng bên nội nhẹ bên ngoại, không để xem phim sex dày, không để làm tình muộn, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm trước, vào mùa World Cup bóng đá. Cô ấy mê chàng Beckham bô trai có cái miệng cực kì duyên dáng, đồng thời mê Klinsmann mắt xanh tóc vàng. Toàn những thằng Tây giỏi trai, trẻ hơn bạn, giàu hơn bạn hàng chục triệu lần, nổi tiếng hơn toàn đàn ông nước Việt gộp lại. Bạn ngạc nhiên thấy mình không ghen. Bạn còn ôm vai vợ an ủi khi Beckham ăn thẻ đỏ và chuốc ruợu vợ tiễn Klinsmann theo đội Ðức về vườn. Năm nay tóc các cầu thủ Nhật và Hàn cũng vàng, thay cho Klinsmann mà nàng đã quên. Beckham còn quyến rũ hơn. Thằng Raul trông cũng kháu. Nhưng vợ bạn đã chuyển điểm ngắm sang Oliver Kahn sát khí dữ dằn. Nàng vẫn yêu bóng đá như bao giờ, yêu cái thế giới toàn đàn ông, trợn mắt, nhe răng, nhổ nước bọt, yêu cả những cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay đầy nam tính, đầy tinh thần chiến
tranh. Chiến tranh thật, nếu không thì mười một thằng điên Hàn Quốc chẳng được miễn nghĩa vụ quân sự. Và bạn thấy mình là một phần của cái tình yêu ấy. Bóng đá tái thiết lập bảng phân vai nam nữ như buổi nguyên sơ. Ðàn bà nuớc Việt được cách mạng giải phóng lâu rồi, họ không cần sờ vào quả bóng, không cần thạo luật, không cần phân biệt hai khung thành. Miễn là bóng ở đâu rơi vào. Miễn là xem, hoặc xem chồng xem đá bóng. Nhưng đàn ông nước Việt cũng không cần sờ vào trái banh.


Lần cuối cùng tôi chung một nhịp sống, một ý nghĩa tồn tại với toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta, với các cấp, các bộ, các ngành, các giới, các địa phương và một trung ương, là bao giờ nhỉ ? Hình như là đúng bốn năm trước, mùa World Cup bóng đá. Tôi cũng tiêu trọn nửa ngày làm việc vào giấc ngủ bù, vật vờ lê nốt phần giờ hành chính sự nghiệp còn lại trong cực hình của chờ đợi. Rồi nhồm nhoàm ăn uống và ngấu nghiến mọi tờ báo có bài về bóng đá, nghĩa là đứt một sạp báo. Rồi về điện thoại gọi vài chầu vòng quanh đất nước, hàng ngũ tri kỉ của tôi ở mọi nẻo đường tổ quốc sẽ quyết tử với lí tưởng mầu da cam, dù đội Hà Lan còn hay mất. Rồi cùng cả cái dân tộc chẳng hề quen sống về đêm này thức trọn những canh khuya. Không phải để chiêm nghiệm những suy tư siêu hình, trăn trở những vấn nạn xã hội, ôm ấp những giấc mộng " tự do dân chủ đa nguyên, quốc gia phồn thịnh bình yên, nhân dân phấn khởi triền miên " gì đó. Tất nhiên là không. Chúng ta không dại dột đến mức ấy. Cả nước Việt chỉ reo vang khẩu hiệu " Vàààooo ! " giữa canh ba và canh năm. Người hô trước, chó choàng tỉnh sủa đệm một hồi và sao trời rung rinh phụ hoạ. Ngày mai lại là một ngày đáng sống.


Lần cuối cùng chúng ta thấy mình thực sự hoà vào hơi thở thời đại, vui niềm vui của toàn nhân loại, khóc những giọt nuớc mắt Pháp, đập thình thịch bằng trái tim Mêhicô ; lần cuối cùng chúng ta được cười vào mũi anh bạn khổng lồ Trung Quốc mà khỏi phải dẫn Bình Ngô, được chửi Mỹ thậm tệ mà cóc cần chiếu cố vụ 11 tháng Chín ; lần cuối cùng chúng ta được xả ngược tinh thần kì thị chủng tộc vào các mầu da không trắng mà khỏi cầm gương soi da mình vàng ; lần cuối cùng lòng yêu nuớc và tinh thần tự hào dân tộc đã thủng két lắm của chúng ta khỏi phải gõ cửa từng nhà, chỉ cần nhờ ba muơi hai cái chủ nghĩa dân tộc cháy bỏng trong một cuộc chơi toàn cầu đứng ra quyên góp giúp ; lần cuối cùng chúng ta được tự do lựa chọn và hội họp, được thông tin đầy đủ và ngôn luận sướng mồm như thói Tây ; vâng, lần cuối cùng chúng ta được làm những người Việt yêu nước mà không cần xả thân vì nuớc, tự do mà không cần tranh đấu cho tự do, bình đẳng mà không cần chống bất bình đẳng, và đồng thời là công dân thế giới, ở đỉnh cao thời đại, vô tư hưởng chiến công nhân loại mà khỏi cần lập công, mà chẳng phải làm gì hơn ngoài ngồi trước một màn hình, là bao giờ nhỉ ? Là suốt tháng Sáu vừa rồi, mùa World Cup bóng đá.


Hay đơn giản hơn, lần cuối cùng bạn tôi ở Sài Gòn, vốn chẳng ham hố được thua ở đời, mà thể thao là phân thắng bại, bỗng chăm chỉ ngồi trước màn hình, cũng là suốt tháng Sáu vừa rồi, mùa World Cup bóng đá. Anh bảo : " Thôi thì giết thời gian, đỡ buồn ". Giết thời gian còn hơn sống mòn. Ðỡ buồn tốt hơn vơi hi vọng.


Năm nay Brazil lại không làm cách mạng. Mọi chú bé sinh năm 2002 ở cái xứ khổng lồ của nghèo khổ, bệnh tật, tham nhũng, bất công ấy chỉ cần mang tên Ronaldo và Ronaldinho là ổn.


Năm nay tôi không có lí tưởng. Bạn biết rồi, lí tưởng của tôi mầu da cam. Nhưng bốn năm nữa lí tưởng ấy sẽ hùng mạnh hơn bao giờ. Bao giờ cho đến bốn năm sau?
185

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2008

Ăn Trộm Vịt



Con vịt coi vậy mà gần gũi với bữa ăn của người dân quê miền Nam hơn là con gà. Món gì thịt gà làm được, thì thịt vịt cũng không thua, mà có khi hơn hẳn. Thí dụ món tiết canh, ta chỉ có món tiết canh vịt, chớ chưa hề thấy ai ăn tiết canh gà bao giờ.


 
Biết sao không? Đàn ông mà ăn tiết canh gà, đêm đêm sẽ xửng cồ gáy, làm phiền lòng vợ, có khi bị bả đạp xuống gầm giường, rồi nói sao xui!




Người Việt mình khiêm nhượng lắm, cứ cái gì nhỏ thì nhận là của mình, còn cái gì to lớn một chút thì cho rằng của nước ngoài: Con Vịt Xiêm (con ngan Thái Lan) to gấp hai con vịt ta. Trái mãng cầu ta lớn bằng nắm tay mà trái mãng cầu xiêm lớn như trái dừa. Trái chuối Tây cũng lớn hơn trái chuối cau của ta.


Mà chưa chắc gì trái chuối lớn đó là chuối Tây, vì ở bên Tây lạnh quá như vậy dễ gì chuối sống nổi, ngay cả nước Tàu kế bên VN như vậy mà cây chuối còn đèo đọt không lên nổi vì lạnh mà.



Hồi xưa vịt đàn toàn là vịt sẻ màu nâu xám, mỗi con nặng chừng hơn ký lô, nhưng bây giờ vịt đàn gọi là vịt Bắc Kinh màu trắng và to như vịt bầu nhưng cổ cao hơn một chút.



Con gà trống thì khác gà mái rất nhiều, nhìn thấy ảnh là biết ngay, từ dáng to lớn đi nghênh ngang, đến đuôi cong vòng, mào đỏ chót, chân có cựa và lông vũ đẹp đẽ, còn vịt thì lại khác, đực cái gì chúng cũng giống nhau quá. Con đực giọng khàn khàn và chỉ có thể nhận ra anh ta là vì ở ngay phao câu có một cái lông cong tròn lên như chữ C. Nếu nhổ nó đi thì chỉ vài ngày sau lại mọc lên cộng lông mới cũng cong y chang như vậy.

Làm thịt vịt chỉ ngán một nỗi là khi mình nhổ lông nó, nhứt là khi mua nhằm con vịt đang ra lông măng, nhổ muốn chết cha luôn.



Muốn làm lông vịt cho dễ, người ta bỏ vô nồi nước sôi chút xà bông bột, nó sẽ làm tan chất dầu nhờn ở lông và da con vịt thì dễ nhổ hơn.



Khi vừa cắt tiết xong, lấy ống đu đủ nhỏ hay ống trúc luồn vô dưới da mà thổi cho con vịt căng lên to như con ngỗng, lấy dây cột cổ lại cho khỏi xì hơi ra, lúc đó làm lông còn dễ hơn nữa.

Trước khi kể chuyện về cách ăn trộm vịt giữa ban ngày, của bọn con nít rắn mắt, tôi xin nói về cái tỉn nước mắm cái đã.

Khoảng đầu thập niên 60 người ta vẫn còn xài cái tỉn làm bằng đất nung để đựng nước mắm, hồi đó bình bằng ny-lon chưa được phổ biến nhiều. Đó là đồ đựng hình quả trám, nặng chình chịch mà sức chứa chưa tới 4 lít.



Khi đổ đầy nước mắm vô rồi thì nhà thùng dùng xi măng mà khằn cái miệng lại. Tuy nhiên nước mắm vẫn rỉ ra hôi rình. Đã thế chung quanh cái tỉn lại dùng lá kè non mà ràng làm quai xách coi rất bê bối.



Khi mình xài hết nước mắm rồi, mấy cái tỉn bị vất lăn lóc ngoài sau hè. Lâu lâu có cái xe đap ràng cần-xé hay ghe đi mua lông vịt thì mua tỉn luôn. Có khi họ không trả bằng tiền mà chỉ đổi cốm ngào đường mà thôi. Họ đạp xe khắp hang cùng ngõ hẻm hoặc bơi xuồng trong các kinh rạch và rao:



-Ai có ve chai, nhôm bể, lu, lông vịt, hột gòn .... đổi cốm hông ???



Khi nước lụt dâng lên ban đêm, thường thì mấy cái tỉn bị trôi theo giòng nước. Cho dù giòng nước chảy khá mạnh, nhưng vì hình thể của cái tỉn tròn tròn, nó cứ trôi lắc lư từ từ, nên người ta có câu "đủng đỉnh như cái chỉnh trôi sông"
để tả con người làm gì cũng chậm chạp, không xốc vác chút nào.



Miền Bắc gọi cái tỉn là cái chĩnh, như trong câu: Chuột sa chĩnh gạo. Trong khi người Nam thì lại nói: Chuột sa hũ nếp.

Sở dĩ tôi phải dài dòng về cái tỉn nước mắm là vì đó là dụng cụ để ăn trộm vịt.

Nếu đàn vịt mà còn đang ăn trên đồng cạn nước thì vô phương bắt nó. Người lạ đến gần thì cả đàn chạy dạt ra xa và kêu cạc cạc ầm lên. Anh chàng chăn vịt vác cái sào tre lại đứng trên bờ ruộng thì làm sao bắt trộm cho được.



Phải đợi bầy vịt ra con kinh đào hoặc sông nhỏ mới ra tay được.



Lên phía trên giòng nước chảy, cột vô cái tỉn đã múc nước gần đầy, chỉ nổi phập phờ, một sợi dây nhợ dài như dây diều. Ngay quai xách lại móc hai lưỡi câu có mồi cua hay cá. Cái tỉn được thả trôi xuống phía bầy vịt.




Anh chàng chăn vịt giữa trưa nắng chang chang, nóng thấy ông bà ông vải nên chui vô bóng mát dưới rặng trâm bầu. Anh nằm dài lấy cái nón lá ngửa ra kê đầu, mắt hấp háy nhìn trời và chân thì gác tréo ngoe, vừa nhịp nhịp vừa hát:

-Sương thu lạnh bao trùm khắp nẻo
Trăng đêm nay dìu dịu cả không gian
Tôi với em đi gánh nước cạnh đình làng
Mùi cỏ dại mơ màng trong đêm vắng .....

Nước giếng trong giữa đồi cát trắng
Bên ánh nguyệt mờ soi đôi bóng giao kề
Dưới trăng khuya tôi với em quảy gánh ra về ......

Anh đang mơ màng cái cảnh đi gánh nước với em, thì hai con vịt của anh ăn nhằm lưỡi câu, nó giằng qua giựt lại làm cái tỉn chao đi và nước tràn vô đầy tỉn. Cái tỉn chìm xuống và với sức nặng đó, nó kéo cổ hai con vịt xuống theo tới dưới đáy sông và neo luôn ở đó.


Trong khi anh chủ của nó thì đang rướn cổ lên để ca một câu mùi tận mạng:




-Ba năm sau, tui trở về quê cũ, gánh nước đêm trăng để tìm lại kẻ chung .....tình .....
Quảy gánh lên vai tôi thờ thẩn một mình ..

Anh nhỏm đầu nhìn đàn vịt, lấy nón lá rách đội lên rồi vác cái sào dài "thờ thẫn" đi theo đàn vịt, vì chúng không khi nào chịu ăn hoài một chỗ, chừng năm mười phút sau nó đã kéo nhau đi xa cả mấy công ruộng, và anh chăn vịt lại lững thững theo sau, không biết rằng có hai con vịt của anh đầu đang cắm xuống, đít nhổng lên trời, chết mà không kêu lên được một hai tiếng cạc cạc từ giã cõi đời.

Trên cánh đồng mênh mông, giọng hát buồn thoảng theo làn gió:


-Hò ơi ! Ai phụ tôi có đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng ai
Tưởng cái giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Ngờ đâu giếng cạn ..
Hò ơi .. ngờ đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây !!

Chờ anh chăn vịt khuất d109