This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2005

Cha Tôi



     Cha tôi là một người đàn ông bình thường. Một người dễ dàng bị nuốt chửng bởi khối đông đàn ông ngoài kia, không để lại ấn tượng nào hết.

Cha tôi là một người cha tốt, một người chồng rộng rãi giỏi lo. Hiếm khi tôi nghe cha mẹ tôi cãi nhau. Mẹ tôi nhường chồng, có lẽ vì ảnh hưởng giáo dục gia đình, và phong tục tập quán. Cha tôi chiều vợ, có lẽ vì là người rộng rãi tình cảm, và không câu nệ vai trò phái tính trong gia đình. Riêng về phương diện phân biệt nam nữ thì cha tôi có phần cấp tiến hơn phần lớn những người đàn ông đồng thời cùng gốc gác. Nhưng, ông chỉ có phần cấp tiến hơn, một phần nào đó mà thôi. Có lẽ đối với ông, phần ấy cũng đã là quá lớn.

Khi chúng tôi đến tuổi vị thành niên, cả cha lẫn mẹ tôi đều không ngăn cấm việc ăn mặc thời thượng nhưng tôi không theo dõi thời trang như phần lớn đám con gái cùng lớp. Điều này do ở nơi mẹ tôi là người không chú trọng đến bề ngoài nên không biết gì hết về thời trang ăn mặc. Bà chỉ có một áo vét sọc ca rô đen đỏ trắng, trộm kiểu Chanel, là chiếc áo đỏm dáng nhất bà thường mặc khi buộc phải đi ăn cưới đâu đó với cha tôi. Tất nhiên mẹ tôi không hề biết nó là trộm kiểu Chanel. Bà chỉ biết nó bán rẻ ở phố Tàu và tiện lúc đang cần một cái áo mặc ngoài, thế thôi. Và tất nhiên mẹ tôi cũng chẳng để ý đến chuyện màu sắc sặc sỡ của áo tương phản quá sức với cặp kính cận dầy trễ nơi sống mũi, và với tất cả những gì hiền lành yên lặng nơi bà. Tuy vậy, điều này không có nghĩa bà để con cái ăn mặc tồi tệ hay cổ hủ khác người.

Nơi lứa tuổi thiếu niên nhốn nháo thời trung học, tôi không hề có ý muốn nổi bật như một con mọt sách kỳ quái thông minh, và cũng không thích phổ thông bừa bãi với nhiều tai tiếng. Như cha tôi, cả hai anh em đồng lọt trũng trong khối đông trung bình. Khi tôi muốn có cái váy đầu tiên trong đời, năm mười hai tuổi, cha tôi chứ không phải mẹ tôi, đưa đi mua. Tất nhiên ông không biết gì hết về những tiệm quần áo thời trang. Tuy rằng tôi là người muốn mua nhưng khi bước vào khu buôn bán đầy dẫy đủ mọi thứ tiệm, tôi cũng không khá hơn cha tôi chút nào trên phương diện mua sắm. Thế nên, cái váy đầu tiên của tôi là một thất bại chán chường.

Tôi cho rằng gia đình tôi may mắn nên tuổi thơ của chúng tôi vui vẻ bình thường như mọi gia đình trung bình khác. Mỗi năm đến hè, chúng tôi đều được đi xa hoặc tham dự những trại hè hướng đạo. Đấy là chưa kể thường xuyên trong năm, tuỳ mùa tuỳ dịp lễ, khi thì lên núi trượt tuyết, lúc thì chèo chuyền cắm trại. Là một người làm việc gì cũng rất cần mẫn, cha tôi ngoài thì giờ làm việc, vẫn cố dành một ít thì giờ để chia sẻ nhiều hoạt động sau giờ học với chúng tôi. Tôi còn nhớ rất rõ có lần ông đã bỏ ra gần sáu tháng cùng học dương cầm với chúng tôi để khuyến khích.

Sau khi mẹ tôi mất được vài năm, cha tôi về hưu. Ông sống một mình cho đến lúc sức khoẻ suy giảm khá nhiều mới về ở với vợ chồng anh tôi. Thỉnh thoảng tôi đến thăm ông, những sáng chủ nhật hay những chiều thứ sáu, hoặc khi anh chị tôi đi chơi tối cần người giữ trẻ. Và trong một lần đến nhà anh giữ cháu trông cha, tình cờ tôi thấy được một khía cạnh khác nơi ông.

Cha tôi từ tốn để úp tấm ảnh nơi tay xuống bàn khi tôi mời ông ra ăn tối. Có lẽ ông quên cửa phòng mình đang mở và tôi ló đầu vào hơi đột ngột dù đã gõ nhẹ vài tiếng trước đó. Rất vô ý, tôi đùa.

"Ba nhớ mẹ quá lại đem hình ra xem đấy à?"

Không trả lời, cha tôi nhẹ nhàng mở ngăn tủ để hình vào rồi khoá lại. Sự im lặng bất chợt của ông bỗng dấy trong tôi một áy náy sượng sùng, sực nhận ra câu đùa không phải lúc. Và nỗi áy náy ấy biến tôi ra khó chịu, không phải với cha tôi, mà là với chính mình.

Cha tôi là người không có bí mật, không giữ điều gì bí mật. Ít ra, đó là ấn tượng tôi vẫn có về ông cho đến lúc đó, lúc ông im lặng từ tốn khoá trái ngăn tủ bàn viết. Từ lúc tôi có hiểu biết, nhận ra và nhớ được mọi chuyện quanh mình, chưa bao giờ tôi thấy ông khoá tủ bàn viết của mình. Bàn viết của cha tôi là một chỗ không cần lời dặn hay bảng cấm vẫn không ai bén mảng nói gì đến lục lọi tìm kiếm. Lâu ngày, dường như nó biến thành một nơi bất khả xâm phạm rất tự nhiên đối với chúng tôi. Chưa bao giờ tôi có ý muốn thúc đẩy tò mò nhìn qua giấy tờ hay mọi thứ nơi bàn làm việc riêng của ông. Nhưng, sau biến cố tình cờ thấy ông khoá tủ, nó hết còn tự nhiên và biến thành một thứ lập luận mà tôi chưa bao giờ đối diện để tranh cãi. Chưa nhìn thấy cha tôi khoá ngăn tủ bao giờ, không đủ để khẳng định rằng cha tôi chưa bao giờ khoá ngăn tủ ấy. Tất cả chỉ là lập luận một cách tự nhiên vì không ai thắc mắc một việc đã thành nếp theo thời gian trong gia đình.

Từ lúc đó trở đi, thể như tôi mới thật sự nhìn thấy cha tôi lần đầu trong đời. Hay đúng hơn, lần đầu sau bao nhiêu năm tôi đã xem sự có mặt của ông trong đời sống của mình là một điều bình thường đến độ không mấy quan tâm. Kể cả hình dáng bên ngoài, tôi cũng đã không mấy chú ý. Tựa như, mọi thứ đã có thứ tự chỗ đứng của nó và chúng tự lo lấy thân, tôi không phải bận tâm, không cả thắc mắc, không cả liếc nhìn.

Tóc cha tôi thưa sớm nơi chóp đầu ở tuổi bốn mươi, khi ấy tôi mới mười hai, nhưng điều lạ là chỗ tóc thưa ấy không hề lan rộng về phía trán. Tôi vẫn nhớ mỗi lần bà tôi đến thăm đều mang cho ông những gói thuốc cây cỏ khô quắn. Mẹ tôi sắc thuốc đặc quánh để nguội cho vào hũ đậy kín cho cha tôi xức lên da đầu mỗi ngày, nhưng cha tôi khi nhớ khi quên, và mẹ tôi rất đơn giản, chỉ làm theo lời mẹ chồng. Tôi không rõ có phải vì bà tôi không biết bày tỏ nỗi niềm thương mến đứa con trai duy nhất của mình bằng cách nào khác hơn, nhất là khi cha tôi đã có đủ thứ, kể cả hạnh phúc gia đình. Cha tôi không phải là một người đàn ông đỏm dáng nên chẳng mấy chú trọng đến hình dáng bên ngoài với chải chuốt quần áo. Rõ là thói quen cách sống giản dị của ông vô cùng thích hợp với mẹ tôi.

Vóc người gầy ốm xương xẩu, có một lúc cha tôi đẫy người đôi chút rồi trở lại gầy gò khô cằn. Thừa hưởng chiều cao của cha, lại giống mẹ ở chỗ tròn trĩnh nên hai anh em tôi to người lớn lứa. Cha tôi có chiều cao hơn trung bình, năm bộ mười. Ông không cho mình là cao so với những người đàn ông á châu khác. Có lẽ nhờ vậy mà khi đi đứng ông không khòm lưng như những người cao quá khổ thường mắc phải.

Cha tôi có dáng xấu khi ngồi ăn. Ôâng cúi khom người, hai cùi chỏ dựa trên mặt bàn, mỗi lần đưa thức ăn vào miệng, đầu ông gần như cúi gằm xuống dĩa chén thức ăn. Hình như đó là điều duy nhất mẹ tôi phê bình trước mặt con cái nhưng ông thản nhiên không bận tâm sửa đổi. Và càng chú ý đến thái độ cử chỉ khi ăn của cha tôi bây giờ, tôi càng nhớ rõ nhiều hơn lúc bà cố gắng sửa chồng. Đấy là một chuyện thật ra cũng không mấy quan trọng đối với bà. Nhưng, tôi có cảm tưởng đấy là cố gắng tột cùng của mẹ tôi, lấy một chuyện chẳng ra gì để phản đối thể như tự nhìn nhận vai trò chỗ đứng của mình hơn một bóng mờ rất nhiều. Tất nhiên là điều này thỉnh thoảng mới xảy ra vì mẹ tôi là một hình ảnh có nhiều khía cạnh trái ngược với quan niệm nữ quyền. Nhưng, tôi vẫn nghĩ, nếu mẹ tôi an lành hạnh phúc, đấy chẳng phải là trách nhiệm của tôi lôi kéo bà ra khỏi vai trò đã nhận lãnh. Nếu tôi không chấp nhận vai trò ấy, thì đấy chỉ là tôi trong đời sống của chính tôi.

Cha tôi ăn nhanh, có vẻ thích thú trong lúc ăn, chú ý đến món đang ăn, thận trọng vén khéo từng hạt cơm. Trong lúc ăn, ông ít nói chuyện. Tôi ăn chậm theo dõi ông nhưng cha tôi ít khi nào nhìn lên, đầy gằm xuống gần như gục hẳn vào chén đang cầm nơi tay. Ăn xong, ông cẩn thận sắp xếp chén đũa dễ dàng cho việc dọn dẹp rồi rời bàn ăn, cầm theo cây tăm ra vườn sau mang theo tách trà nóng. Sau đó có một lúc lâu tôi vừa dọn dẹp nhà bếp vừa theo dõi cha tôi ngồi trong im lặng nơi vườn sau. Ông ngồi rất im, không rõ mắt nhìn nơi nào nhưng đầu hơi cúi, thỉnh thoảng chúm miệng thổi nhẹ rồi hớp một ngụm trà. Có lúc ông thở khì sau khi nuốt ngụm trà, hai vai hơi nhô lên rồi hạ thấp xuống như vừa trút được một điều gì nặng nề. Tôi tưởng như mình có thể nghe được tiếng thở dài ấy từ nơi đứng, sau cửa sổ nhà bếp.

Tôi mở truyền hình cho cháu xem rồi ra ngồi cạnh cha tôi. Mọi khi tôi là người nói nhiều, không hiểu sao lúc ấy miệng lại khô cứng và đầu lại trống rỗng đến độ lo ngại. Dường như cái cử chỉ từ tốn cất hình và nét mặt im lìm không trả lời câu đùa, là những hình ảnh ồn ào đến độ ngỡ ngàng từ một người cha tôi vẫn biết. Hay tưởng rằng vẫn biết. Cha tôi vẫn giữ im lặng một cách bất thường khi tôi ngồi xuống bên cạnh. Có lúc đầu ông hơi ngước lên xoay nhẹ về phía tôi rồi lại cúi xuống lặng lẽ. Tiếng ông húp soạt chút nước trà sót nơi tách là tiếng động duy nhất tôi nghe ra và nhớ mãi khi đã về đến nhà, khuya hôm đó.

Nhưng rồi, tôi lại là người quên bẵng đi việc bắt gặp ông cất hình vào ngăn tủ vài tuần sau đó. Không dễ gì đánh tan ấn tượng bằng phẳng không lồi lõm của một người cha quen thuộc đến độ trong suốt nơi trí tưởng. Trong suốt đến nỗi những khi hồi tưởng, tôi thật sự không làm sao hình dung được cá tính nào nổi bật nhất của ông. Những lần tôi đến nhà sau đó, cha tôi vui vẻ bình thường. Tôi ít thấy ông ngồi một mình nơi bàn trong phòng riêng mà hay ra sau vườn. Có lẽ vì đã vào hè, khi oi bức ông nằm võng sân sau đọc sách nhưng sẵn sàng nhường cho cháu khi lũ con nít bắt đầu chán những trò chơi khác muốn chồng chất hai ba đứa lên võng lộn mèo lăn nhào trên cỏ. Tôi không muốn cha tôi nằm chiếc võng căng cứng dễ lập úp vì sợ ông té. Để trấn an tôi, ông thường nằm với một chân thòng chấm đất.

Có lẽ, sự lặp đi lặp lại của đời sống qui cũ khiến tôi dễ dàng nhanh chóng quên chuyện cất ảnh một cách không ngờ.

Tôi hoàn toàn quên hẳn chuyện tấm hình cho đến một dịp khác. Cuộc ăn uống vui vẻ nơi sân sau, ngày lễ cuối cùng đánh dấu mùa hè chấm dứt trước khi lũ con nít nhập học niên khoá mới. Lấy ra hai chai bia vùi sâu trong thùng nước đá, anh tôi đưa một cho Ben rồi hỏi.

“Chọn nghề cứu hoả hả? Hừm, sao lại là cứu hoả?”

“Sao không?”

“Nguy hiểm!”

“Đó cũng là một lý do”

“Lý do đó có vẻ dữ dằn”

Anh tôi cười sau câu nói.

“Tôi thích thử thách khó khăn”

Tôi cụng chai bia nơi tay Ben, đùa.

“Thử thách khó khăn? Cứ lái xe trên xa lộ giờ cao điểm là có ngay thử thách. Bảo đảm tăng áp huyết”.

Ben cười. Tôi đùa tiếp.

“Có lẽ Ben thích làm người hùng”.

Ben vội lắc đầu.

“Không. Không. Đây là một nghề nguy hiểm. Và nó đòi hỏi sự chú ý thận trọng cũng như lương tâm nghề nghiệp rất cao”.

Tôi cười vỗ nhẹ vai Ben.

“Em chỉ đùa”.

“Anh biết”.

Miệng Ben nói thế nhưng nhìn mắt Ben, tôi hiểu mình đã lỡ lời nên lặp lại lần nữa.

“Xin lỗi. Lỡ lời”.

Ben lắc đầu.

“Chẳng làm sao cả. Quên đi”.

Anh tôi không rõ chuyện gì bỗng dưng cả hai cùng nhỏ giọng thì thầm. Anh nhìn tôi cười mỉm rồi nói tiếp với Ben.

“Điều kiện sức khoẻ thì sao?”.

“Tương đối khá cao...”.

Tôi đưa chai bia lên mồm hớp một ngụm. Bia lạnh đến độ đầu tôi choáng rộn nhưng vẫn tiếp tục hớp thêm ngụm nữa. Giữa hai ngụm bia, bất chợt mắt tôi nhìn qua cửa sổ phòng cha tôi.

Ông ngồi lưng thẳng, như một que củi khô cứng ngắc, một tay đưa xa, hình như cùi chỏ tựa cạnh bàn. Cuối cánh tay ấy, giữa những ngón khô đét, tuy không thấy rõ, tôi bỗng đoan chắc là một tấm hình. Cha tôi ngồi bất động, rất lâu. Không rõ ông có chớp mắt. Không rõ ông có thở. Tôi lạc mất câu chuyện giữa anh tôi với Ben, và ngụm bia được nuốt xuống một cách bực dọc miễn cưỡng.

Lúc chúng tôi còn bé, cha tôi bày tỏ tình cảm bằng những cái hôn, bẹo má, xoa trán, vuốt tóc. Tôi biết cha tôi không phải là một người khô khan không biết tỏ bày tình cảm với con cái hay không biết hưởng thụ hạnh phúc gia đình. Tôi nghĩ rằng ông có hạnh phúc, vẫn hạnh phúc với gia đình, và có nhận thức chắc chắn. Tôi nghĩ cha tôi là một người cha chu đáo thương con yêu vợ như một số bình thường ngoài kia. Tôi đã không lầm về hình ảnh một người cha một người chồng hoàn hảo nơi cha tôi, nhưng hình như tôi đã lầm về hình ảnh một người đàn ông bình thường nơi ông. Đã lầm. Về một con người khác ẩn tàng. Nhưng nếu đã hoàn toàn hạnh phúc thì cha tôi không hề thiếu thốn để phải đi tìm, để phải giấu diếm một điều gì. Nghĩ rằng cha tôi còn có một người đàn bà nào khác để yêu thương là một điều không tưởng tượng nổi.

Mẹ tôi không phải là một người đàn bà hoàn toàn tuyệt diệu nhưng ít ra bà tuyệt diệu trong mắt tôi, trong gia đình tôi. Tuy nhiên, nếu cho rằng vì mẹ tôi kém cỏi ở một phương diện nào đó khiến cha tôi tìm kiếm sự bù đắp nơi người khác, là không công bằng. Cho cả hai. Cũng có thể, cho cả ba, kể cả người mà cha tôi tìm kiếm sự bù đắp. Bởi vì không ai cho cha tôi cái quyền đó cả. Đó chỉ là ngụy biện. Nhưng tôi cũng hiểu rằng con người có nhiều khả năng, kể cả khả năng yêu thương, đôi khi, dăm ba người, cùng lúc. Đó là bi kịch của con người. Tình cảm không mực độ lẫn dụng cụ đo lường. Tình cảm đối nghịch với lý trí. Nhưng, với cha tôi, tôi không khỏi bất công thiên kiến, khi cho rằng ông sáng suốt trong tình cảm. Hay nói một cách khác, tôi đã tưởng rằng, lý trí chi phối tình cảm nơi ông một cách sòng phẳng bình dị. Nên, không thể có chuyện cha tôi hành động vì tình cảm. Tất nhiên.

Ý tưởng của một đứa con gái về cha mình, rất thiên vị. Tôi đã tự động cho rằng cha tôi không có tình cảm riêng tư cuả một người đàn ông, mà chỉ có tình cảm tất nhiên của một người chồng, một người cha, một đứa con trong gia đình. Tôi đã, rất bất công, cho rằng cha tôi không thể có, không có khả năng có, bất cứ tình cảm nào khác ngoại trừ thứ tình cảm tất nhiên vừa kể trên. Vô tình, tôi đã bất công khi nghĩ về cha mình. Tôi đã không cho phép ông được là một người bình thường, nói gì đến, là một người đàn ông bình thường. Tôi cũng thừa biết, cố ý nhiều hơn vô tình, tôi đã không nghĩ đến khía cạnh tình dục. Nhất là khía cạnh tình dục của cha mẹ mình, là một điều tương đối khó và không thể nói đến trong một gia đình Á châu.

Ben đứng sát vai tôi, nhìn theo hướng tôi nhìn, hỏi.

“Nhìn gì vậy?”.

Tôi hơi giật mình.

“Không. Không có gì”.

“Thấy nhìn chăm chú...”.

Tôi day sang Ben.

“Không có gì”.

Sực nhận ra giọng mình hơi xẵng, tôi dịu xuống rồi nói thật. Gần như thật.

“Không biết ông già làm gì trong phòng một mình?”.

Anh tôi thoáng nhìn về phía cửa sổ, trả lời.

“Hồi nãy ba than nắng nhức đầu”.

Tôi à một tiếng rồi nhìn đi nơi khác. Anh tôi thản nhiên tiếp.

“Mấy hôm nay ông già than mệt, chắc phải đi khám tổng quát xem sao”.

Khi tôi nhìn lên cửa sổ phòng cha tôi lần nữa, ông vẫn ngồi yên nơi vị trí cũ, và lần này thì tôi chắc chắn, một cách giận dữ buộc tội, ông đang nhìn một tấm ảnh mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy.

Lúc tôi còn nhỏ, thỉnh thoảng khi có việc cần phải vào sở cuối tuần, cha tôi có lúc cho đi theo. Thường thì ông bật máy vi tính tìm trò chơi trên mạng cho tôi rồi đi làm việc của mình. Và nếu tôi nhớ không lầm, tấm ảnh hai anh em tôi đứng ở một bãi biển nào đó là tấm ảnh duy nhất đặt nơi bàn làm việc của ông. Về sau cha tôi để nó trên bàn ngủ cạnh giường. Tuy ông chụp chúng tôi nhiều hình nhưng có lẽ đấy là tấm ảnh cha tôi thích nhất. Tôi bỗng nhớ lại lúc giúp ông dọn đồ từ một thùng nhỏ chứa những món lặt vặt cá nhân ở văn phòng làm việc khi về hưu ông mang về nhà. Đến lúc tôi lôi mớ giấy gần đáy thùng ra định lật giở từng tờ thì cha tôi nhẹ nhàng bảo để đó cho ông. Chỉ có thế. Ông rất nhẹ nhàng từ tốn nhưng bây giờ nhớ lại, tôi đâm ra ngờ vực, biết đâu, trong đó còn lẫn nhiều thứ mà cha tôi khoá kín nơi ngăn kéo, bây giờ.

Những ngày sau mỗi khi có chuyện đến nhà anh, tôi im lìm quan sát cha tôi, gần như tò mò soi mói. Ông càng lúc càng ít ra khỏi phòng. Nhưng, cửa phòng ông chỉ khép hờ, và nếu như ông có ngồi nơi bàn viết, tôi không hề thấy ông xem hình. Tựa như lần vô tình tôi bắt gặp và lần nhìn thấy qua cửa sổ, đã là quá mức. Tất nhiên là tôi bức rứt khó chịu. Việc gì ông phải khoá kín ngăn tủ? Và việc gì ông phải xem hình một cách vụng trộm lén lút?

Đến một hôm khác, sau bữa ăn trưa, cha tôi đột ngột bất tỉnh. Sau nhiều giờ chầu chực chờ đợi ở bệnh viện lo lắng, tôi về nhà, nhưng chưa được lâu thì anh tôi gọi.

“Ông già không sao, nằm lại tối nay để làm thêm mấy thử nghiệm khác về tim. Mày chịu khó ghé ngang nhà lấy mấy món đồ Jenny sắp sẵn mang vào đây”.

Chị dâu tôi không thể bỏ mấy cháu bé ở nhà để xách vài thứ cần thiết vào bệnh viện cho cha tôi. Vừa mở cửa cho tôi Jenny vừa nói.

“Cô xem lại có khi chị lấy nhầm”.

Tôi soát tới soát lui bao đồ nhỏ. Jenny sực nhớ.

“Cô lên lấy vài tấm ảnh mang vào bày quanh cho ông già đỡ buồn”.

Tôi chần chừ.

“Chỉ có một đêm, mai đã về rồi...”.

Nghĩ đến điều tôi không hề, không muốn, nghĩ đến, Jenny lắc đầu.

“Đâu biết được. Có khi vài ngày lại kéo thành vài tuần đấy”.

Nhưng tôi không cãi Jenny vì cha chị vừa mới qua đời không lâu, kinh nghiệm nuôi bệnh người già vẫn còn mới nguyên trong chị với những thay đổi bất ngờ không kịp trở tay. Không muốn Jenny nói thêm, tôi bỏ lên lầu vào phòng ông già.

Không hiểu sao tôi lại nhón lấy tấm hình hai anh em đứng ngoài biển, rồi tần ngần do dự trước những tấm còn lại. Tôi sực nhận ra phòng ngủ cha tôi có lắm hình. Hình chụp chung nhiều người, đủ kiểu, nhiều dịp. Những tấm ảnh này phần lớn chắc phải do Jenny vào khung để trên bàn chứ tôi biết cha tôi chỉ giữ mỗi tấm hình hai anh em đứng ngoài biển và một tấm khác, mẹ tôi ngồi bên ông, cả hai ông bà cứng ngắc bên nhau, một tiệc cưới nào đó.

Đang nhìn loanh quanh lựa chọn, mắt tôi bỗng dừng nơi chiếc khoá chơ vơ ở kệ trên. Mọi ý nghĩ trong tôi khựng lại và hành động chợt bùng lên như thể đó là hành động duy nhất đáng làm và phải làm, ngay lập tức. Tôi cầm chìa lập cập mở ngăn tủ bên dưới, kéo ra. Nằm úp trên mấy cây bút chì, viết máy, kẹp giấy là một tấm hình khổ bốn sáu. Tôi lật ngửa hình mà không cầm lên như sợ để lại dấu vết không ra gì, phần tôi.

Khi tôi trở lại bệnh viện, cha tôi đã được dời ra phòng riêng. Ông có vẻ mệt mỏi im lìm không nói khi tôi bày mấy tấm ảnh lên bàn, chìa cho thấy đôi giép da ông vẫn mang trong nhà, rồi để xuống sàn cạnh giường. Hình như tôi tránh không nhìn thẳng mắt ông, vì mỗi lần nhìn là mỗi lần tôi nhớ đến tấm ảnh trong ngăn kéo. Cha tôi muốn nhìn, vẫn nhìn, người nào trong tấm ảnh ấy?

Về sau những lúc đưa đón cha tôi ra vào bệnh viện, phòng mạch bác sĩ chuyên môn, thường xuyên hơn trước, thay phiên với anh tôi, nụ cười của những người trong ảnh ám ảnh tôi, cũng thường xuyên chẳng kém. Tự tấm hình ấy không có gì khác thường để cha tôi phải giấu diếm.

Ảnh chụp một dịp Giáng sinh vì sau lưng người trong ảnh là cây thông với đèn đóm dây hoa. Cha tôi đứng tận bên trái. Ông có vẻ lớ ngớ ngượng nghịu. Người đàn ông duy nhất chụp chung với bốn người đàn bà kề sát nhau cười rất tươi. Bốn người đàn bà mặc quần áo dạ tiệc. Hai người Á châu, một da trắng và một người có nét Nam Mỹ. Cả bốn có chiều cao tương đối không chênh lệch gì nhiều, và tất nhiên là thấp hơn cha tôi. Người đàn bà nét Nam Mỹ mặc áo cổ hở hơi sâu phơi cặp vú lớn và cũng là người có nụ cười tươi nhất với hàm răng to khoẻ. Người đàn bà Á châu đứng kế mặc áo đen dài có quai vai nhỏ, tóc cúp ngang tai, cũng có nụ cười đẹp nhưng vì cười nên mắt híp lại. Người kế nữa cũng Á châu, tóc thật ngắn, mặc vét đen, cổ áo trong bẻ lật ra ngoài, không biết váy ngắn dài vì ảnh chụp ngang đùi trở lên, nụ cười thoải mái. Người đứng sau cùng tóc màu hung đỏ cũng cắt thật ngắn, mang kính. Cả bốn người đều đẹp. Ở nụ cười tươi và nét mặt rạng rỡ. Nhưng cha tôi thì không đẹp chút nào. Nụ cười của ông sượng cứng như đã lỡ đứng không nhằm chỗ. Thế đứng cứng ngắc và cách xa người bên cạnh một khoảng nhỏ làm như, lẽ ra chỉ có bốn người đàn bà chụp chung với nhau, và cha tôi đứng vào đấy như bị lôi kéo bất thần vào phút cuối trước khi người chụp bấm máy. Hơn nữa, bốn nụ cười thật đẹp của bốn phụ nữ, tôi nghĩ, trẻ hơn cha tôi, quá sức tương phản với nụ cười sượng cứng của ông. Chỗ đứng của cha tôi không tuỳ thuộc trong tấm ảnh đó. Nhìn mặt ông, tôi có thể đoán được ảnh chụp vào khoảng thời gian nào, nhưng điều này không cần thiết, hàng số màu vàng cuối chân ảnh cho biết ngày tháng cuối năm, tất nhiên là đã lâu.

Đôi khi tôi giả sử, với Ben.

“Ông già yêu một trong bốn người đó”.

Ben chưa bao giờ được nhìn ảnh, chỉ nghe tôi tả nhưng đủ để đùa cợt.

“Nói vậy thì ai cũng nói được".

Tôi quả quyết.

“Một trong hai người đàn bà Á châu”.

Ben nheo mắt cười cười.

“Vấn đề chủng tộc?”.

Tôi ngượng.

“Linh cảm!”.

“Bắt nguồn từ kỳ thị chủng tộc?”.

“Không. Nhưng có lẽ ông già chuộng Á châu hơn”.

“Lại đoán già đoán non!”.

“Người đàn bà da trắng này chắc chắn không hợp gu ông già”.

“Gu ông già?”.

Tôi ấm ức vì nhận ra đối với Ben, chuyện tấm ảnh chỉ là một chuyện đùa.

“Ông già không sinh trưởng xứ này và mang nặng đầu óc Á châu, ưa thích những cái gì Á châu nói chung. Ông thích đàn bà dịu dàng chịu đựng. Dáng đứng, nụ cười và mái tóc thật ngắn của người đàn bà da trắng này hoàn toàn ngược lại những gì ông già ưa chuộng nơi một người đàn bà!”.

“Thế thì người đàn bà Á châu kia, tóc cũng ngắn chẳng kém, thì sao?”.

Tôi ngắc ngứ chưa trả lời thì Ben đã tiếp.

“Như vậy đưa đến kết luận ông già yêu người đàn bà Á châu còn lại. Rồi xong. Đấy. Dễ ợt”.

“Không thể kết luận dễ dàng thế được”.

“Ủa, chính em vừa giới hạn chỉ một trong hai người đàn bà Á châu rồi giờ lại nói không thể kết luận? Mình giải quyết vấn đề bằng cách loại bỏ từ từ. Ông già không thích đàn bà tóc ngắn, loại ngay hai người. Cô Nam Mỹ tóc ngắn dài? À, em tả mặc áo hở ngực. Ông già không thích đàn bà ăn mặc hở hang. Loại cô ấy ra. Thì cũng còn một người duy nhất”.

Tôi khổ sở.

“Cô ấy quá trẻ”.

“À. Lại thêm vấn đề tuổi tác. Ông già không thích đàn bà quá trẻ?”.

“Ben. Thôi đừng đùa nữa!”.

Ben cố nén cười.

“Được rồi, được rồi, chịu thua. Không ai nói xấu ông già cả. Rồi, loại bỏ người đàn bà da trắng với cô Nam Mỹ, còn hai người Á châu. Một xấp một ngửa, thảy đồng tiền xem thử cô nào là người tình của ông già”.

Cứ thế. Mỗi lần tôi đem chuyện tấm ảnh ra nói với Ben, cứ thế, đều biến thành một chuyện hài hước cười đùa và tôi giận dỗi bỏ đi nơi khác. Tôi thừa hiểu ý Ben. Ben không hề cười đùa cha tôi. Ben chỉ đùa để tôi bỏ ý tưởng thắc mắc đời tư người khác, cho dù đó là cha tôi, là người tôi rất mực gần gủi yêu mến nên vô tình, tự cho mình có quyền soi mói đến một mực độ nào đó. Tôi đã không nghĩ ra là tôi đang soi mói đời tư của một người, bỏ qua mọi hình thức quan hệ. Theo Ben, tôi không có quyền thắc mắc những người đàn bà ấy là ai, nhất là khi cha tôi đã cố tình cất kỹ tấm ảnh. Giả sử mẹ tôi còn sống, chỉ có bà mới có quyền hỏi cha tôi câu đó. Mà cũng chưa chắc, Ben lập luận, nếu tôi đừng lẽo mép với bà. Tất nhiên tôi không đồng ý với Ben nên tiếp tục thêu dệt.

Giả như có một chuyện tình nào đó xảy ra giữa cha tôi và một trong bốn người đàn bà cười tươi trong hình, đó tất phải là mối tình một chiều. Có khi tôi cảm thấy khổ sở tựa như đã vô lễ đánh giá cha tôi hơi thấp, nhưng tôi không thấy ông xứng đôi với bất cứ người nào trong hình. Và thái độ âm thầm giữ kín tấm ảnh, rõ là thái độ của người ôm giữ một mối tình tuyệt vọng. Nhưng Ben bác ngay ý nghĩ của tôi.

“Rõ là đầu óc văn sĩ nửa mùa nên vẽ vời trăm chuyện. Biết đâu ông già có kỷ niệm đẹp gì đó về một bữa tiệc cuối năm trong ba mươi năm làm việc gương mẫu của mình nên thích nhìn đến ảnh, phải không? Những người này em chưa bao giờ thấy mặt, mà bạn bè của ông bà già tất nhiên em đã biết đã gặp, thì đây chỉ có thể là người làm chung sở với ông già mà thôi. Tính tình của ông già đứng đắn đạo mạo thì không có chuyện lăng nhăng trong sở. Huống gì ông già cũng không thuộc loại đẹp trai hào hoa...”.

Tôi đồng ý rằng có khi tôi vẽ vời quá đáng nhưng làm sao tôi có thể quên được nét ân cần lúc cầm tấm ảnh trong tay của cha tôi. Một kỷ niệm bình thường không hề khiến một người đàn ông ngây người một lúc lâu. Đây phải là một thứ gì không bình thường nơi một người bình thường giản dị như cha tôi. Một người không có bóng tối. Đời tư của ông là đời chung gia đình với chúng tôi.

“Đừng cho ông già điểm quá cao rồi giật mình".

Ben nghĩ vậy. Ben cho rằng vì tôi đặt cha mình lên một bục cao nên tôi muốn trấn an mình rằng cái pho tượng trên bục cao ấy vẫn là người cha hy sinh tất cả mọi thứ cho gia đình, rằng người cha ấy không hề yêu thương ai hết ngoại trừ mẹ tôi ra. Nhưng, nếu gọi là để trấn an thì tôi phải suy ra sự thật. Suy, chứ tôi không mặt mũi nào hỏi thẳng cha tôi. Sự kiện tôi mở ngăn tủ riêng của ông đủ để tôi xấu hổ nói gì đến chuyện hỏi một vấn đề riêng tư tế nhị.

Đến lúc cha tôi về nhà đợi chết, ý định táo bạo mới chớm trong tôi. Hôm ấy vắng người, không hiểu anh chị tôi đi đâu, các cháu đi học, cô y tá chưa đến phiên, tôi ngồi với ông. Có khi ông mở mắt he hé nhưng lại ngủ, có khi ông nhắm mắt nhưng mở thật nhanh khi có tiếng động khẽ. Thỉnh thoảng mắt ông theo dõi tôi đi lại trong phòng rồi khép lại như ngủ. Tôi nhìn bàn tay xương xẩu da mỏng tanh vàng úa úp nơi chăn nhớ bốn nụ cười thật tươi trong hình. Tôi nhìn mấy sợi tóc bạc lơ thơ nhớ bốn người đàn bà đẹp đứng sát nhau như đẩy cha tôi ra ngoài lạc loài. Tôi nhìn cặp môi khô héo của cha tôi mỗi khi gắng gượng nhắp nước lại nhớ đến bốn cặp môi tô son thật tươi vẽ ra bốn nụ cười tuyệt đẹp của người trong hình. Tôi nhìn ánh mắt có lúc như dại không thấy gì hết của cha tôi nhớ lại lúc ông ngây người một tay giữ ảnh. Bốn nụ cười rất ồn ào nơi trí nhớ của tôi mỗi khi nhìn đến cha tôi im lìm lặng lẽ. Có lúc tôi bỗng bực dọc. Tựa như sự vô tình phơi bày rất rõ ở cách đứng, ở kiểu cười của những người trong ảnh. Có người nào biết được, nghĩ đến cha tôi, giờ phút này? Có người nào, vẫn giữ liên lạc với cha tôi, giờ phút này? Có người nào, sẵn sàng đến, nếu biết cha tôi đang bệnh nặng, giờ phút này? Hay là không, không có ai hết. Tấm ảnh không kể hết câu chuyện. Cha tôi tất không kể đoạn đầu. Tôi không biết đoạn cuối, trong khi tấm ảnh là khoảng giữa lửng lơ.

Biết đâu, đã có lúc cha tôi muốn được nhìn lại tấm ảnh cất trong ngăn kéo. Biết đâu, một ý muốn ông không thể nói ra. Biết đâu. Biết đâu. Biết đâu đấy.

Tôi loay hoay suy nghĩ chập lâu rồi lại bàn tìm chiếc khoá ở kệ trên. Tôi hồi hộp thỉnh thoảng liếc về phía cha tôi. Tiếng khoá mở nhẹ, tôi kéo ngăn kéo từ tốn. Tấm ảnh vẫn nằm ngửa y nguyên vị trí cũ lần đầu tôi mở trộm ngăn kéo. Điều này chứng tỏ từ lúc bệnh trở nặng, cha tôi không có dịp mở tủ. Tôi cầm ảnh lên nhìn thật gần một lần nữa. Nụ cười tươi của bốn người đàn bà vẫn đẹp. Tôi đắng cay khi nhận ra tôi vẫn nghĩ cha tôi không xứng với bất cứ người nào trong hình. Tôi thừa thãi thì giờ để ngắm nghía lâu hơn. Cả bốn người đều trẻ hơn cha tôi quá nhiều và có vẻ biết ăn mặc thời trang. Đàng nào, họ cũng hơn hẳn mẹ tôi, ở khoảng thời gian ấy, nơi bề ngoài.

Tôi lay nhẹ vai cha tôi rồi mang kính cho ông, tay kia tôi giữ tấm ảnh trước mặt. Mắt ông thoáng lướt ngang. Tôi để ý chờ đợi phản ứng. Nét mặt cha tôi im lìm. Không phản ứng. Không cả chớp mắt. Không cả thở mạnh. Cha tôi không nhìn ảnh. Ông nhìn tôi. Cha tôi nhìn tôi. Không nhìn ảnh. Rồi ông từ từ gỡ kính đưa tôi, khép mắt lại .
149

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2005

Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Đâu



Em đừng hỏi giờ này tôi đang làm gì và đang ở đâu. Lúc này đây, khi viết những giòng chữ này cho em, tôi đang ngồi trong tòa soạn của một tạp chí nằm trên con đường Phạm Ngũ Lão. Con đường ấy, khá nhiều nhà in, nhà báo, nhà phát hành, chắc em đã biết, là một con đường nhỏ, đầy bụi và nhiều xe. Trên bàn làm việc của tôi hiện có một lá thư của "nhà-làm-kịch-không-bao-giờ-dựng-kịch" gửi cho tôi, nhưng tôi không hiểu gì cả. Có lẽ ông ta lầm tôi với một người nào khác có một cái tên tương tự. Những cái tên tương tự! Có bao nhiêu cái tên tương tự như tên của tôi, và tên của em trong cõi đời này. Và em, Vy của tôi, tên em phải viết i ngắn hay y dài? Và tại sao phải là y dài mà không là i ngắn?



Lúc viết những giòng này cho em, những người thợ sắp chữ vừa vỗ bản in truyện ngắn của tác gia? Rừng Mắm đặt trên bàn tôi, cây quạt trần đang xoay theo một tốc độ chậm nhất, và mưa rơi ngoài kia. Mưa ào ạt như tiếng kêu thất thanh của một người bị săn đuổi, chờ chết.Tại sao lúc nào tôi cũng thích nhìn những trận mưa thúi trời thúi đất. Mưa điên cuồng, man dại; mưa ập xuống như cái thúng chụp không thương tiếc ngậm ngùi...



Thế còn em, nơi em ở hiện giờ trời đang có mưa không? Những trận mưa đầu mùa nắng là những dòng nước được đợi chờ. Mưa luôn luôn làm tôi nhớ em. Nhớ những hôm nào em ngồi sau chiếc xe lambretta màu bạc của tôi. Hơi thở tình yêu của em đã thổi ấm xuyên suốt lưng tôi, hâm nóng một trái tim tưởng chừng đã nguội lạnh, thổi bay đi những đám mây buồn bã từ bấy lâu nay vẫn ám mãi xuống đời tôi. Ôi những trận mưa hân hoan tầm tã; mưa biển mưa rừng, mưa cao nguyên, mưa đồng bằng. Mưa chảy trong tôi tình yêu muộn màng, mưa xối trong em tình yêu vừa mới lớn. Những giọt nước mưa hy vọng đang ướt sũng cuộc đời chúng ta.



Bữa qua có tin từ mặt trận về cho hay chiến trường miền Trung đang hồi ác liệt, một bạn tôi vừa mất xác. Sáng nay trên cao nguyên báo xuống, một người bạn khác nữa của tôi mới vừa tử trận. Những tin tức ấy đã làm tôi chảy nước mắt. Bao nhiêu người ở tuổi tôi đang đối mặt với cái chết, tại sao tôi vẫn ngồi đây yên ổn. Và tại sao tình yêu của chúng ta? Có phải tôi là một người may mắn bất hạnh. May mắn mà sống sót, nhưng bất hạnh thay chưa sống đủ kiếp người.



Có phải là một điều nhảm nhí không khi ta nói đến tình yêu trong một thời đại mà người ta chỉ đề cập đến sự chết. Tôi vẫn nghĩ rằng con người càng đến gần với tình yêu chính là tiến gần đến cái chết. Yêu là chết. Và trước cái chết, người ta bao giờ cũng ham muốn sự sống. Và sự sống là gì nếu không là tình yêu? Ngụy biện quá, phải không?



Vy yêu, cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào mường tượng ra nổi nơi ăn chốn ở của em. Thành phố trên cao ấy đã một thời nhìn thấy tôi lớn lên, đã nghe tôi thở, đã thấy tôi yêu, đã chứng kiến những trận đòn thù trên Đồi Cù, đã dí tôi trong quán cà phê Huyền nửa đêm về sáng. Và giờ đây những dấu chân em in trên con đường đất đỏ dưới những cơn mưa tầm tã đang làm tôi thương nhớ em. Cánh cửa sổ từ căn phòng em ở mỗi sáng mở ra có thể nhìn thấy chăng đỉnh núi Langbiang? Quyển sách nào em đang đọc? Và tờ thư nào em đang viết dở cho tôỉ ... Tôi đang nghĩ đến em, đến hơi thở em, khuôn mặt thần thánh em... Sẽ buồn biết bao nếu trí tưởng tôi không còn cái khả năng tưởng tượng ấy nữa, cái khả năng khiến cho đời sống tình cảm chúng ta giàu có hơn, màu sắc hơn...



Em có còn nhớ những quán nước quán ăn mà chúng ta đã đến: một chỗ sang trọng, một nơi tồi tàn; những cuốn phim ta đã cùng xem: đam mê, hung bạo, hay dịu dàng và thơ mộng; những khúc nhạc mà chúng ta đã từng nghe chung với nhau trong một tối nào: quyến rũ và lôi cuốn. Và hơi thở em tràn ngập trong lồng ngực tôi. Thân thể em trong vòng tay cuồng dại tôi.



Ừ, nhiều khi tôi ước phải chi chúng ta là cỏ cây hay loài vật, chúng ta sẽ yêu nhau như loài thú hoang giữa đất trời mà không sợ bóng dáng của Thần Tuyệt Vọng. Như loài thú, chúng ta rong chơi trong rừng, nằm dưới bóng mát của những tàn cây và ngủ an nhiên trên xác lá khô. Như cỏ cây ta không thèm mọc vội vàng. Ta lớn theo gió, và nắng và mưa sẽ làm ta rắn chắc hơn. Cái vòng tròn vàng óng buổi sáng sẽ đánh thức ta dậy, mặt trời đỏ hực buổi chiều sẽ gọi ta về, và trăng sao trên cao sẽ soi thấu tình yêu của chúng ta.



Vy yêu, bây giờ là mười giờ. Buổi sáng trong một tòa soạn báo. Tiếng máy chạy ì ầm. Những bản vỗ ướt mực và ướt nước. Cơn mưa đã dứt. Trời trong suốt và nắng đang thổi luồn những hơi thở nóng hổi trên thành phố tôi đang ở. Có lẽ những con đường rợp bóng cây mà chúng ta đã đi sau trận mưa lớn đã ngập nước, vòm cong của những tàn me cụm đầu dài đến cổng trường Saint-Paul còn óng ánh chút nước mưa đã rơi trên đầu chúng ta theo từng cơn gió nhẹ. Giờ đây, tôi không biết mình đang đốt đến điếu thuốc thứ mấy trong ngày nhưng tôi biết là tôi đang nghĩ đến em.



Vy yêu, em có còn nhớ cái lối quảng cáo của người Nhật về những sản phẩm đặc chế của họ. Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Đâu Cũng Chỉ Có Hai Ta. Ừ, cũng chỉ có hai ta.



Ngày mai, tôi sẽ phải vào bệnh viện trở lại. Những dấu hiệu tái phát của căn bệnh cũ đang bắt đầu lộ diện và đang hành hạ tôi. Bạn tôi bảo: "Mày chưa chết đâu. Đừng sợ..Sống thì khó chứ chết thì ai mà chẳng có phần."



Buổi sáng hôm nay, sau cơn mưa mặt đường trước tòa soạn sạch trơn. Nhưng sao mà lòng tôi vẫn còn đầy chật hình bóng em. Nhớ em, nhớ những sợi tóc dài buộc chết đời tôi, nhớ hai con mắt màu nâu thầm lặng, nhớ cái mũi hếch kiêu căng, nhớ giọng nói sao mà ngọt ngào kỳ lạ. Nhớ nụ cười em tràn ngập cơn mê tôi, nhớ đôi chân dài quấn quýt, nhớ bờ ngực nặng, nhớ hơi thở nóng, nhớ hai bàn tay hốt hoảng của em,... Nhưng sao tôi vẫn có cảm tưởng như rồi ra chẳng bao giờ chúng ta còn có cơ hội gặp lại nhau nữa. Bởi vì, giữa tôi và em, chúng ta có bao nhiêu là sông núi, bao nhiêu là hố thẳm, bao nhiêu thung lũng, bao nhiêu biển trời. Có cả sương mù và sấm sét. Có đêm và ngày. Có cả "Khổng tử" và gia phong. Và...



Thư từ làm cái gì, chữ nghĩa cũng sẽ chỉ là điều vô ích, một khi người ta không còn muốn đọc nhau nữa.



Phải không?

189

Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2005

Bà Xoa



Madame . . . Francoise .

Năm 1955 bước qua 1956, hai anh em con nhà cô nhà cậu cuả tôi, cùng về quê ăn tết . . Người về từ Sàigòn! Rất hách.
Bấy giờ đường giao thông giữa các tỉnh miền Trung với Sàigòn chỉ mới được nối liền sau nhiều năm gián đoạn vì chiến tranh tiêu thổ (1945 - 1954) .
Biết chừng đâu bạn bè, người thân sẽ túm tụm lại mà hỏi cho biết chuyện từ xa về. Vốn là học trò nhà quê, lại nghèo, non một năm ăn học ở Sàigòn, chỉ ngốc nghếch thêm ra mà thôi. Hai đứa lo lắng ra mặt.
Sự thay đổi quá nhanh ở cái thị trấn (mới được Quốc gia tiếp thu), như tỉnh lỵ QN này, quả tình khiến anh em tôi sửng sốt. Ở đâu, mình cũng thành lạc hậu.

--- Tụi bây lạc hậu . . .rõ .
Đó là lời khiển trách cuả một anh bạn lớn tuổi, đang làm việc cho phòng Thông tin Hoa kỳ, tại đây.
Anh nói cho tụi tôi biết nhiều chuyện . . . Mới nghe đã điếng hồn.
" Hai con nhỏ (con nhà lành ) . . . mà tụi bây hỏi thăm, thì đã là (rách mêm). . . ở cái khách sạn . . . này này.
"Bà chủ khách sạn là bạn cuả ba me tụi nó. Ba tụi nó là công chức hồi thời Tây. Giờ đã mất rồi. Mẹ tụi nó, khuê các kiểu này, lấy tiền đâu nuôi con. Tụi nó năm nay trỗ mả, trông mát mắt lắm, chứ không phải như hồi còn tản cư đâu"

Hoặc anh lại nói:
"Tụi bây muốn biết, tao dẫn xuống xóm chợ, coi chơi cho biết. Một bà . . . mẹ chiến sĩ mới hồi cư. Vậy mà bọn Đại uý, Trung uý, Thiếu uý, từng ở trong Nam ra ngoài Bắc, đánh trận Điện Biên phủ, nay trở về, một xưng o, hai xưng mệ đối với bà, ráo trọi."
Anh ăn nói ngang phè, bừa phứa:
--- Cụ Hồ, Cụ Ngô . . . Hai cụ ngồi trên vách, muốn biết sự đời. . . phải rử chân, bò xuống đất. Phải kiếm tao . . . Muốn đi chơi đâu, tao dẫn tao chỉ cho mà đi."
Cái lối nói cuả anh, nghe sao mà nó ráo hoảnh.

Mười năm sau đó, tôi lại về đây làm anh thầy giáo.
Mấy đứa hỉ mũi chưa sạch, mới đó mà đã là Tú tài, Cử nhơn, Kỷ sư, Bác sĩ.
Những anh Thiếu uý, Trung uý ngày trước giờ thành ông Trung tá, Đại tá. Làm lớn cả.
Mấy ông thầy giáo quèn quèn, có khi đã thành Dân biểu, Thượng nghị sĩ.

Một tối nọ, tôi theo vợ ra phố. Mụ thả tôi ngồi ở nhà hầu chuyện bà má vợ để đi gội đầu, chải tóc.
Một bà khách hàng, hay nguời quen thuộc, cũng đến nhà, rồi ngồi ăn trầu, nói chuyện với bà má vợ tôi.
Bà má quay sang chỗ tôi ngồi làm rễ, mà hỏi:
--- Thằng L , con có biết Mệ . . . đây là ai không?
--- Dạ thưa má, xin lỗi . . . Con chưa được biết . . .
Bà khách ấy liền nói:
--- Anh ni là chồng cuả con M. của chị phải không? Anh là giáo sư, anh dạy mấy thằng con tôi mà . . . Tui là Mụ Xoa đây.
--- Con . . . chào Mệ.

Tôi tỏ ra biết cung kính đối với một người lớn tuổi, và là người thuộc hoàng phái.
--- Mệ với Ôn . . . cái con khỉ mốc. Mụ Xoa thì là Mụ Xoa.
Tôi đã thấy dễ dàng hơn và thích thú khi được dịp tiếp chuyện với bà.
--- Mấy năm . . . hồi đó, vì sao mà Mệ vào chi cái đất . . . QN này cho nó cực . . .
--- Hồi nớ tui lấy chồng Tây. Nó là Quan ba (bây chừ là . .. Đại uý) Lấy chồng thì đi theo chồng . . .Cái anh ni khéo hỏi.
Rồi bà cười toe toét.
--- Nó về bên Tây . . . hồi mô, hồi tê rồi . . . Nó có vợ bên Tây mà . . .
--- Chắc mệ có tên . . . như lâu nay ai cũng gọi thế, đó là tên Tây, tên Đầm?
--- Mô . . .? Con gái tôi tên là Francoise. Gọi theo tên con . . . Con mệ Xoa này mà đầm với điếc chi . . . Tội tôi quá anh ơi.
Bà má vợ tôi, xen vào:
--- Thằng L . mày mà gặp Mệ Xoa, mặc sức mà mày hỏi chuyện . . .
--- Nhiều anh thầy giáo (lập) nghiêm lắm. Họ đâu thèm nói chuyện với con mụ này . . Ba cuả thằng Bò thằng Nghé, hồi nớ cũng lập nghiêm . . .
Bà cười toe toét. Tôi chưa hiểu.
--- Nó là học trò anh đó. Nó đi học Sài gòn, Sài ghiếc gì rồi. Tui đâu có thèm biết . . . Nó học mà không ra chi, tôi chửi cha nó. Tui cực khổ như ri lâu nay là tại hai cái thằng nớ.
Rồi mệ xoay qua nói chuyện hàng chuyện hoá gì đó với bà má vợ tôi:
--- Bà P. L này, bữa truớc tôi có đem cho con mệ Khán một chuỗi ngọc, với mấy cái hột, đẹp nước lắm. Nó coi qua rồi chê ỉ chê ôi. Tui tức cái mình. Trước đó tui đưa cho con vợ thằng Hoá mấy món đồ dỏm. . . Bà biết không, con vợ thằng Hoá đem vào, con mệ Khán nhắm mắt trả tiền. Mụ Khán lại đem khoe với tôi. Tôi chửi vào mặt:
--- Chị dại cuả . . . lắm. Con vợ thằng Hoá mà đem c. . . cho chị, thì chị tin là vàng. Mấy món nớ là đồ dỏm. Tôi đưa cho hắn, nhờ hắn bán cho mấy con mẹ Dân biểu, Dân biếc . . trong Sài gòn. Ai ngờ hắn bán cho chị . . .
--- Thằng chồng chị bây chừ là Đại tá, bấy lâu nay "bỏ mạng chiến trường" là để cho chị ở nhà cho con vợ thằng Hoá, chừ là bà Dân biểu. Con vợ cuả Dân biểu Hoá, thằng nớ hắn núp vô chuà trốn lính. Chừ vợ nó phỉnh chị . . . Sao mà chị dại cuả quá sá, rứa . . .tề !

Tôi nảy giờ vờ đi pha thêm nước trà, như không nghe đến chuyện buôn vàng bán ngọc. Bà Xoa cũng vờ như là giữa trời đốt đống rơm, chứ cũng chẳng phải để cho tôi, anh thầy giáo nghèo nghe đến chuyện ngọc đá, vàng thau . . .

--- Con nghe chưa đó L. Mệ Xoa . . . nói, có mầy nghe . . .thì là vưa.
--- Dạ Thưa . . . , con có nghe . . . Mệ nói chuyện với má . . .

Rồi cứ thế, có khi mỗi tối, có khi cuối tuần, tôi lại tìm cách ra phố mà hầu chuyện Mệ Xoa.
--- Anh biết không. Hồi thằng Tôn thất Khanh lên làm tỉnh trưởng, nó cho tài xế xuống nhà chở Mụ O nó là tui vào trong nớ. Nó tửởng đâu tôi lạ lùng chi vời cái . . . tư thất cuả hắn.
--- Ông Đại tá này là người hoàng phái. Nghe người ta nói ông bình dân lắm.
Tôi thưa.
--- Bình dân với chả bình dân, Hắn làm quan với ai chứ hắn làm quan với tôi mà được à.
--- Mệ ở trong Quảng từ hồi mô chừ. Răng ông Đại tá sinh ra ngoài nớ, biết Mệ . . ở đây mà tìm.
Tôi nhại lối nói người hoàng phái bao giờ cũng chả hay.
--- Cái anh ni khéo hỏi. Hắn là con là cháu, hắn phải tìm tôi chứ. Hắn không biết thì có thằng cha hắn biết . . . Cha hắn chưa chừng hồi xưa cũng là lính cuả bố con Xoa . . . Tui mô có biết hắn là thằng nào . . . ra thằng nào.
Bà cười rõ lớn. Tôi cười theo như thướng một tiếng trống chầu.
--- Anh biết không. Hắn hỏi tôi làm nghề chi mà sống. Tui bảo tui đi bán Quân trang, quân dụng, hàng quân tiếp Liệu. Tui buôn bán áo quần củ cuả Nhà binh. Có gì tôi bán nấy. Hắn nghe rứa hắn sợ . . . chết mồ tổ cha hắn . . .
Tôi cười ầm lên:
---- Rồi răng nữa Mệ?
--- Hắn bảo hắn muốn giúp đỡ tôi. Hắn không muốn tôi buôn bán như rứa cực khổ . . .
--- Ông Đại tá mà muốn giúp bà Mụ O, thì đâu có khó . . .
--- Anh nói nghe mà hay nhỉ. Hắn bảo . . .
Tôi chờ mệ nói tiếp, đầy vẻ kiên tri`:
--- Ít bữa nữa đây . . . hắn sẽ giải toả khu nhà dưới chợ , gần Sư đoàn . . . Hắn bảo sẽ cấp cho tôi mấy lô đất ở Bến Xe Ngưạ . . . Tôi cất phố buôn bán , đừng bán hàng lậu , hàng nhà binh . . .
--- Như vậy là cơ hội tốt . . . quá.
--- Thôi đi anh ơi . Đừng có nghe . Hắn phỉnh tôi đấy .
Tôi bảo cho hắn biết . . ." Anh đừng có phỉnh tôi .Anh đem cuả làng làm ơn ông xã . Anh có lòng tốt , anh giúp tôi tiền . Tôi sang cái lều trong chợ . Anh giúp tôi tiền tôi mua vô bán ra . Tôi trả dần dần cho vợ con anh mỗi tháng . Chừ anh lấy đất công mà cho tôi , tự dưng tôi có mấy lô đất khống lộng , chúng chửi cho trốc mồ cha mả ông nhà anh . . . Sao anh không giúp cho tôi khi mà anh chưa làm Đại tá tỉnh trưởng . . . Thằng chó nào nó vẽ cho anh như vậy là nó " bỏ thuốc (độc) " cho anh uống . Chớ có mà dại . . .Làm quan ,không dễ chi mô ."

Một hôm khác , như một thói quen , tôi lại chạy về nhà vợ để hầu chuyện mệ Xoa . Vừa thấy mặt tôi , Mệ bảo :
--- Cái anh thầy giáo này răng không ở nhà mà chấm bài chấm vở , không ở nhà mà . . . ngủ với vợ .
--- O ơi ! Mệ ơi ! Con ngủ cả ngày nay rồi .Nghe Mệ kể chuyện xưa tích củ , chả sướng sao !
Dần dần , bà đã thây tôi thân quen hơn . Tôi cũng thấy vậy . Nhiều khi không phải giữ gìn như là ông thầy giáo cuả các con bà .Tôi cũng xưng là con ,xưng là cháu, gọi bà bằng o cho nó tự nhiên hơn .
--- Anh biết thằng Bò thằng Nghé tôi rồi chứ .
--- Dạ , cháu có nghe N , vợ cháu nói .
--- Rứa đó . . . Chừ nó lớn , nó biểu gì tôi nghe nấy . Mạ thương con , mạ phải hy sinh . . .
Tôi giật mình . Không khéo bà lại nghĩ rằng chuyện gì giữa bà và mấy đứa thằng Bò ,thằng Nghé mà vợ tôi có biết lại thóc mách cho tôi hay chăng .
---Hình như mấy em đó có sinh hoạt trong Gia đình Phật tử , ngành Thiếu . . .
--- Tui mô có biết. Nó ưng đi tu , cũng kệ cha nó . . .
--- Hồi xưa , nghe má cháu nói thì Mệ có học Đồng Khánh . . .
--- Tui nói dóc đó mà. " À beau mentir qui vient de loin " , Nói dóc cho vui .
--- Thời có Ông Quan ba ở đây , chắc Mệ sống an nhàn . . .
--- Suốt ngày , đánh tứ sắc . . . chả có phải mần ăn cực khổ như vợ con các anh bây chừ . . .
--- Hồi đó thì mấy ông Tây bà Đầm cũng biết đánh tứ sắc sao ?
--- Mô . . .? Mấy mụ Phán trong Toà sứ , mấy mụ vợ cuả các ông làm ở Sở Lục lộ , Sở Mật thám . . .
--- Đánh tứ sắc , mất thì giờ , không sát phạt . . . mà sao mấy bà ham như thế ?
--- Nó ghiền hơn là ghiền đàn ông đó anh ơi . Mấy con mẹ Phán . . . thường thì đem tiền tới cúng cho con mẹ Phó sở mật thám . . . Đánh cũng lớn lắm . Có khi thua bạc trăm . . . Bạc hồi nớ .
--- Hồi nớ , , , tôi nhớ có một lần . . . tôi cho con mẹ Bùi Trọng Lệ một chiếc guốc lên đầu . . .
--- O mà cũng dữ thế à ?
---. . .mô ? Gặp bữa bài cuả mụ nó xấu ,hoặc mụ ưng tới lớn , mụ xuống rác , ăn gian . . . Mụ ăn quen , tôi bắt được . . . tôi dạy cho mụ . . . biết khôn mà chừa cái thói . . . ăn gian , ăn hiếp người ta .
--- Thế o không sợ Ông Mật thám sao ?
--- Nó không sợ tôi thì thôi chứ mắc mớ gì tôi sợ nó .
Tôi chợt nhớ ra rằng Mệ là người hoàng phái , và là vợ một ông Quan Ba người Pháp .

Hình như vào những năm có Đại chiến Thế giới , và khi Hiến binh Nhật vào Đông dương thì một số binh lính , Sĩ quan Pháp phải về nước hay đi trấn thủ ở một nước thuộc điạ nào khác .
Cô Francoise , con gái cuả ông Quan Ba tây , cũng về bên ấy . Lấy chồng , và ở luôn bên Tây chăng .
Bà Xoa , trong những năm sau 1945 đã bị kẹt lại QN . Rồi bà tái giá , và sinh ra hai thằng Bò thằng Nghé . Gia đình đi tản cư , sống ở một vùng quê , hay vùng có phố chợ nhỏ . sống qua ngày trong một nếp sống không quen thuộc . Ăn dần mòn hết vốn liếng , vòng vàng .
Sau hiệp định Genève , bà trở về tỉnh lỵ . Bà quen thuộc với đời sống thị thành . Bà bắt kịp cái nhịp sông xô bồ . Bà khai thác nó .
Nơi này,lại trở thành một trung tâm Hành chánh và Quân sự .Nơi này có ánh đèn điện sáng trưng . Có công ăn việc làm nhiều nhặn hơn . Kiếm đồng tiền có khi cũng không phải đổ mồ hôi , dầm mưa dãi nắng như hồi còn chiến tranh .Hơn ai hết , bà biết rõ những nhu cầu giải trí cuả mấy ông nhà binh , vừa ngớt chiến chinh . . . Tiền nhà binh , tình nhà thổ .

Vào những năm có hiệp nghi Ba lê , bà dã có một ước vọng nhỏ : dẫn hai đứa con trai về ngoài nớ cho nó biết họ biết hàng .
" Họ nội nhà nó cũng làm quan làm gia đã bao nhiêu đời . Tụi nó học xong , ra trường lại đi dạy học . Cái nghề nhà cuả ông nội, ông cố cuả nó .
Nhưng chả có thằng chó nào muốn về miền Trung . Ngoài mình mưa gió lụt lội . Nó biên thư bảo sẽ xin đi dạy bất cứ tỉnh nào trong Sài gòn .Thì cũng được chứ có răng mô . Chừng nớ , tui sẽ đi theo tụi nó . Lo cho nó miếng cơm miếng nước ."
Hàng Quân tiếp vụ , quần áo giày giép , mùng màn cuả nhà binh mỗi ngày một hiếm . Bà xoay qua hàng phế liệu cuả Mỹ .
" Không biết ở mô ra mà " tụi nó " hằng ngày vẫn có hàng cho con mụ Xoa này chạy mối bán, kiếm tiền cò . Cọc sắt , kẻm gai , đồ inoxidable . . . dụng cụ y tế nhà thương , đồ sành sứ . . . nhật bổn . Hết thùng nọ đến thùng kia .Ngoài Đà nẵng , ngoài Chu lai ? Cả đời bán mãi cũng không hết . . "
Bà cứ nói . Tôi cứ nghe . Rồi tôi thưa :
--- Thôi , con chào o , con về kẻo giới nghiêm . . .
--- Thì anh cứ về đi . Còn lâu mới tới giờ giới nghiêm cuả tôi .
Tôi hơi ngạc nhiên về câu nói đó . Nhưn g hôm sau , mệ giải thích :
--- Giới nghiêm . . . . thì là giới nghiêm với ai kià . . . Chứ với tôi , thì khỏi đi .
Mấy đứa nhỏ phòng vệ dân sự trong cái Thị xã này nửa đêm gà gáy, mà còn gặp tôi , nó mừng còn hơn bà nội nó chết đi sống lại .Tui cho tụi nó bánh mì , thuốc điếu , tụi nó xách dùm hàng hoá cho tôi .Mình có cơm . nó có cháo .

Ngay trong mấy tháng ba , tháng tư, năm 1975 , đám nhóc học sinh trung học , từng là " phòng vệ dân sự" , đã có nhiều em tham gia phong trào giải phóng , nhiều em lại di tản đi mọi phương trời .
Dần dần , tôi gặp lại tụi nó ở Sài gòn . Nhờ đó mà tôi hỏi thăm được tin tức về tình hình sinh hoạt ở ngoài quê . Tin tức về những nhân vật ngày trước , những nhân vật bây giờ .

--- Thầy biết Bà Xoa không ?
--- Có . Tôi có biết . Có nghe nói đến tên bà ấy thì đúng hơn . . .
--- Tụi em cho rằng bà đó là số dách . . .
--- Có gì lạ , nói . . . nghe chơi . . .
--- Thầy biết không , hồi xưa . . . Có lần ông Đại tá Khán . . . phải chắp tai mà lạy bà .
" Bữa đó ông lên lon . làm tiệc rửa lon . Bà Xoa đi ngang , thấy ông đang cười nói hớn hở với mấy ông lớn , nó gai con mắt , bà bước vào .
--- A . . . chào Mệ , Hôm nay có Mệ . . . đến . Con lên Đại tá , Mệ mừng cho con . . .
--- Đại tá là cái thứ chi rứa ? Bộ anh mà đánh giặc đánh giả , lên lon ? . . .Anh mang Lon mô cũng uổng cho cái lon . Đại Tá Lôn . . ? Anh phải là Đại tá Lôn mới xứng . . .
--- Con lạy Mệ . Mệ tha cho con bữa nay.Để khi khi mô , khi tê . . . Mệ muốn gọi con là ri , là rứa là răng . . . cũng được . . .
--- Rứa tôi về đã nghe . . .
Lính cuả Ông Khán phải dưa nà về bằng chiếx xe , nệm ghế phủ vải trắng tinh "
--- Đó là chuyện hồi xưa , nhắc làm gì .Mới đây , có chuyện chi nữa. . . không ?

--- Nhiều , nhiều lắm thầy ơi . Hôm đó . . . Cách mang tập trung đồng bào lại . Họ lên lớp đã đời .Cuối cùng là màn phát giác , tố cáo tội ác cuả Nguỵ .
Cả một hồi lâu , chả có ai đứng lên . Cán bộ đang lúng túng , nổi giận , thì bà xoa từ trong một xó tối , bỗng đứng lên , dõng dạc :
--- Thưa . . . Cách mạng .
Nhận ra giọng bà Xoa , ai nấy cũng đứng tim một vài dây .Vì chưa biết bà sắp mừng công báo công hay kể khổ ra làm sao . Nhưng lại mừng vì , ít ra là có người phát biểu y kiến , kẽo Cách Mạng tức giận .
--- . . . Ồ . . . có Bà Xoa . . . rồi . ( Một ai đó thốt lên như vậy , và lại có tiếng vỗ tay).
Tiếng vỗ tay ban đầu thưa thớt , nhưng sau đó vang ầm như không ngớt
--- Thưa Cách Mạng . . . tui là Mụ Xoa. Ai ở đây cũng biết con mụ Xoa này ( vỗ tay ). Tui sống . . . hết hồi Tây , hồi " Dật / Nhật " ,. . . ( vỗ tay ). Tụi nó áp bức dân tộc ta , trong đó có tui . Tụi nó bóc lột dân tộc ta , trong đó có tui ( bà sụt sùi . vỗ tay 2 lần ).
--- Thưa Các mạng , . . . nhưng con mụ Xoa này chưa hề biết sợ thằng Tây , thằng " Dật " , thằng mô cả . ( vỗ tay 3 lân ).
--- . . . thôi đủ rồi Mệ ơi ! ( có một ai đó thốt lên như vậy , ngờ vực , khinh bỉ )
Chủ toạ buổi mit ting hôm nay là người miền Bắc mới về . Ông đứng dậy trấn áp quần chúng :
--- . . . Hãy để cho cụ ấy . . .triển- khai - tố -cáo - tội- ác -đế- quốc- phản động . Đồng bào giữ gìn trật tự . . .
--- Thưa cách mạng , chín năm kháng chiến chống Tây ,các anh em Cách mạng ta hồi nớ gian khổ biết chừng mô , tui khỏi nhắc ra đây .
Tới cái hồi các anh em Cách mạng đi Tập kết , tập kiết , vợ con các anh em Cách mạng ở lại miền nam ruột thịt này, khổ sở biết dường nào .
Cách mạng có biết chăng . . .! Khổ lắm . cực lắm . đói , khát lắm . Tội nghiệp ơi là tội nghiệp ( bà sụt sùi )
Vậy mà tụi Mỹ , tụi Nguỵ dâu có để cho yên . Đêm chúng hãm , ngày chúng hiếp . Chúng nó biến miền nam thành ổ điếm . ( vỗ tay không ngớt )
--- Đả đảo ! Đả đảo ! ( không hiểu quần chúng đả đảo ai , bà Xoa hay Mỹ Nguỵ . . .)
--- Đồng bào giữ trật tự cho cụ . . . tiếp tục . . . ( vỗ tay không ngớt )

Mấy thằng nhóc học trò cũ của tôi tiếp tục kể . Đứa thì giả dọng bà Xoa , đứa thì giả dọng Cách mạng . Không sai một ly một tí .
--- Tụi bây . . . phiạ . Bà ấy mà dám . . . ?
--- Thiệt đấy thầy . Bà Xoa . . . số dách mà thầy . . .
--- Bữa nào có hôi họp mit ting , tụi em đi thông báo cho bà . . . Có bà , là có tụi em . . .
Tôi vờ tỏ ý ngờ vực . Có đứa nói :
--- Mấy chả ( cách mạng) cũng thích nghe . . . bà Xoa . . . chứ bộ .
Lũ học trò quỷ quái cuối cùng cuả đời dạy học cuả tôi tường thuật tiếp :
--- Thầy biết không , sau khi nói . . . " chúng biến miền Nam thành ổ điếm' " một cách ngọt xợt , bà Xoa bồi thêm .
--- . . . vợ con các anh , ngày nhớ đêm thương các anh , mà các anh em cách mạng đâu có thấu . . .
---Còn vợ con cuả tụi Mỹ Nguỵ thì là . . . chỉ biết ăn hại đái nát . Hết son tô phấn diểm , thì nằm ngửa chờ chồng . . . Ngày bạc tối bài , hết xuống ngựa thì lên xe . . . ( có tiếng cười rúc rích)
---. . . vợ con các anh , mẹ cuả các anh , chị của các anh ,ối chao ôi ! Phải vào tận rừng sâu núi thẳm mà thăm chồng . . . Phải lặn ngòi ngoi nước mà nuôi con . Chưa hết đâu ! Các mẹ , các chi em nằm vùng bám trụ còn phải chịu biết bao nhiêu hòn tên mủi đạn , . . . ! Các mẹ , các chị em . . . bí mật đặc công . . .phải ăn sương uống gió , phải bán miệng nuôi trôn . . .( có tiếng cười . và tiếng vỗ tay không ngớt )
--- Thầy biết không ? Mấy cha nón cối cứ vểnh tai lên mà nghe kể khổ .Đâu có hiểu con mẹ gì . .Các đồng chí . . . đứng lên , vỗ tay tới tấp . . .

--- Thầy biết không . . . ? Còn . . .một bữa nọ . . .
--- Sao ? . . .
--- giữa buổi họp Tổ Phụ nữ , bà Xoa . . . phát biểu . . . xanh dờn .
--- xanh dờn ? Là sao . . .?
--- . . . bây giờ giải phóng . . .về , tui thấy cách mạng như vầy, sao mà sướng quá . . . Tự nhiên mà nhà cao cửa rông . Tự nhiên mà vàng thoi , bạc bó .
" Đây , như cái bà Chủ tịch phường ta đây này . . . Đây, như cái bà . . . Phó chủ tịch mặt trận tỉnh nhà . . . đây này . . . Đây , như bà Chín Sõi đây này . . .Hồi Mỹ nguỵ ra sao , bây giờ ra sao . Có nhắm đuôi con mắt lại cũng thấy . Khác quá , khác quá .
Đứa nào nói gian , trời không dung , đất không tha nó . Tui không nói gian đâu . Tui mà nói gian thì Cách mạng chém tui , giết tui . Cách mạng mà chém giết chi cái thứ con mẹ Xoa này . . . Mà dẫu có chém tui , tui cũng phải nói . Sợ gì mà không nói . Có mồm mà không cho nói , thì trời sinh cái mồm ra để làm chi ?
--- Thầy biết sao không . Tư nhiên bữa đó điện tắt hết cả thành phố. Cuộc họp giải tán.Khỏi sợ ai thấy ai ,các bà họp dân phố trên đường về tha hồ mà kháo chuyện Bà Xoa . . . chết chém . . .
--- Thầy biết không , một bữa . . .

* * *
*
--- Thôi . Tao lạy tụi bây . Tụi bây coi chừng . Không chết bà Xoa khỏi lửa , mà chết tụi bay , có ngày . Tao lạy tụi bây . . .
Bây chịu khó làm cháu ngoan , có ngày tao còn nhờ . . . Chứ cách này . . có ngày họ không để yên tụi bây . Còn như bà Xoa , bả thành tinh từ lâu rồi .
Chừng nào tụi bây thành tinh ,như bà Xoa thì . . .tụi bây mới không phải sợ . Có ngày . . . mất mạng.
--- . . . trước sau gì thì ai mà chẳng chết . . . Khỏi sợ đi , thầy ơi !
--- Cha chả ! triết lý dữ a . . .!
" Tụi bây biết không . . . Phận cuả tụi tao bây giờ " quê hương ruồng bỏ , giống nòi khinh khi " , " móng đâu xuống đất , cánh đâu lên trời" . . .
Tôi nói chưa dứt lời , đã có một thằng ghé vào tai nói nhỏ:
--- Bữa nào em học xong khoá Sĩ Quan Công an Biên phòng này , em ghé lại nhà thầy .Em dẫn thầy về ngoài đó với em . . .Thầy muốn , em gởi thầy đi . . . Dễ ợt .
--- Có đứa nào . . . cùng đi không ?
--- Đi làm chi thầy . Tụi em phải ở lại chớ thầy . . .
--- Sao bây biểu tao đi . . . Bây lại ở lại . . . ?
--- Lớp mấy thầy, già cả rồi . Nói ra hoá vô phép , hết thời rồi . Tụi em ở lại , sau này gặp thời làm lớn , làm người lớn , " Huậy Cho Đã " . . . chớ thầy .
*
* *
Viết tới đây , tôi bỗng thương nhớ mông lung .

. . . Nhớ đến cái điện Trường Bà ( ở Trà Bồng ) .
Mệ Xoa chắc chắn đã thành Tinh .
Chắc bà đã nhập vào cái điện thờ này .
Cái Bà Chằng ( Madame Francoise ). . sẽ ra chiêu thức nào , đố ai dám biết trước .
. . . Nhớ đến cái miếu Ông Quan Chiếu ( ở Tư Nghiã ) .
Nơi đó có Một Tảng Đá và Một Cây Chiêm Chiêm .
Cây Chiêm Chiêm sợ Trời Sụp , muốn chống cho Trời khỏi sụp .
Cái Hòn Đá , biết Trời Rách , muốn vá cho Trời lành lại .
Tranh hơn tranh thua . Chạy đua lên trời.
Dù muốn cứu ông Trời, ông Trời vẫn phạt .
Đến lúc nào đây thì đất đá cùng cỏ cây , cùng đứng lên mà cứu trời giúp người .
. . . Thương cái thế hệ trẻ nhỏ sinh sau mình. Ở Sàigòn, ở Huế, ở Hà nội, ở Nước ngoài? Ở đâu? Và nhớ đến cái Bà Xoa. Madame Francoise .
110

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2005

"Có Yêu Anh Không" Thời @ Vòng



Thế là từ hai ngày nay, em không có tin tức gì của gã trong cái thế giới ảo của em nữa. Chung quy chỉ vì em bực gã cái câu gã cứ hay lẩn thẩn hỏi đi hỏi lại « Có yêu anh không ? » và để rồi « Nếu có thì em viết ra cho anh đi » !

Giời ạ, bây giờ là thế kỷ 21 rồi và ở thời đại « lướt mạng, trượt Web » này vẫn có một gã lạc hậu đến thế sao ? Gã cứ nghĩ rằng em khi viết chữ « yêu » gã là em phải « sống thác với tình » như cái thời Tự Lực Văn Ðoàn ngày xưa hay sao ấy các cụ ạ ! Em bèn phùa luôn cho gã một quả « Không, tôi không còn yêu anh nữa, anh ơi ! » Thế là gã làm mặt ngầu và cuốn gói đi mất từ 48 giờ qua.

Em quen gã là hoàn toàn tình cờ. Số là em có con nhỏ bạn thuộc loại « Chằng ăn, Trăn quấn » ở Phú Nhuận. Nó làm công việc giản đơn, đơn giản là coi tiệm Bi Da cho một thằng chủ sói đầu. Cả ngày ngồi đồng từ sáng đến chiều, tối ngó ông đi qua, bà đi lại thì sách vở, báo chí giải sầu nào mua cho nổi ? Ở cái thới buổi Kinh Tế Thị Trường này, giá sách báo cứ tăng ào ào đến chóng mặt thì cái cảnh ngồi buồn đọc ngấu nghiến sách báo đã lui vào dĩ vãng êm đềm ngày xưa.

Với thời đại Internet « A Đê Ết Sờ En Lờ » ồ ạt đổ vào VN như một giòng thác Cách Mạng (mà trong đó, ngọn cờ Khoa Học Kỹ thuật là Then Chốt – các cụ thấy đó, em vẫn thuộc làu làu bài học Chính Trị năm xưa mà), nhỏ bạn có ý kiến kinh dị là đi khuân 1 máy vi tính « xê cần hen » về rồi cầy cục mua thẻ nối mạng.

Từ đó, nó bắt kịp « trào lưu đang lên của thế giới » bằng cách giao lưu với các anh giai khắp thế giới có « nhu cầu » làm quen với các em gái hậu phương ở cái đất Sè Gòong hoa lệ này.

Con này cũng quái quỉ lắm các cụ ạ. Nói là « giao lưu » thôi chứ thật ra là nó cứ nhắm các anh giai Vịt kìu yêu quái bên Cali để làm quen thôi hà. « Làm quen với các anh giai ở các xứ nghèo khác thi chắc chỉ có ngày bốc cám mà ăn.! »- nhỏ vẫn hay triết lý như vậy.Qua cái Web Phun Phiếc gì đó, nhỏ làm quen và « giao lưu » hàng ngày cả chục kép « khát Tình, đói Yêu » trên cái mạng ảo quỉ quái của nó.

Nam có, Nữ có, xồn xồn có, gia đình có, ly dị có, ly thân cũng có…. Nói chung là có đủ mặt bá quan văn võ týp « xa quê hương, nhớ em hiền ».

Con nhỏ bạn em này, nó với em cũng một mẫu số chung. Hai đứa đều có một đứa con để hủ hỉ tuổi già nhưng hai thằng chồng phải gió của nó và em thì đã bị gió cuốn đi từ đời thuở nào đó. Con nhỏ này thì qua việc đó, rất « hận kẻ bạc tình » rồi từ đó, nó đi đến cái việc « hận lũ đàn ông háo sắc» là lẽ đương nhiên.

Thấy con nhạn là đà nào bay qua mà lại ăn hay, nói ngọt, là nó đùa cợt chán chê, mê mỏi rồi mới sang tay cho em gọi là « chia nhau chung hưởng chút lộc trời ». Chứ em di làm đầu tắt, mặt tối cả ngày thì làm gì mà có thời giờ làm quen, nói tào lao về Nhân Sinh Quan thế giới với mấy kép Hải Ngoại được ?

Nghe nó kể về cái thế giới ảo của nó, em thấy ngán ngẩm, ê chề cả người. Từ những Chí Phèo thời @ còng đến các nàng Kiều tân thời đăng bảng « mộ phu » (phu ở đây là Phu quân, nôm na là Ðăng bảng Kiếm Chồng), cho đến các nàng, các chàng « ô mô » rồi đi qua các bậc trưởng thượng Bốn bó, Năm bó… Kép nào cũng hăm hở lên mạng kiếm bồ nhí… Cứ gọi là loạn cào cào trên cái chợ Tình ảo này .

Dịch vụ Internet ở SèGoòng nhờ vậy, nở rộ khắp nơi. Ði tà tà ra đường Trần Quang Khải, q1, các cụ sẽ thấy việc kinh doanh này phát triển ra sao. Giờ nào cũng có ngưới ngồi chat. Sáng có, Trưa có, Chiều có, Tối có…Chat thâu đêm suốt sáng. Nam phụ lão ấu đủ mặt. Ai cũng lờ đờ dán mắt đỏ sọc vào cái màn hình …

Mà kể cũng hay thiệt nghe, kép nào ế độ ngồi phát miêng ra cái trò Internet này thì em xin đề nghị ghi tên kép này vào sổ vàng thế giới. Chẳng làm gì cả, cứ ngồi ỳ một chỗ mà tiếp xúc đủ nam thanh, nữ tú bốn biển, năm châu. Nhiều nhất là các kép Vịt Kìu ở Huê Kỳ.

Chuyện dài Internet với các phòng VIP này, em bất tất phải dông dài vì em chăc chắn là các cụ đã đọc chán chê mê mỏi về các phóng sự loại này rồi.

Từ hồi ông Tổng Biu ký Hiệp định giao lưu với Việt Nam rồi sau đó về đuổi gà cho vợ thì các kép Vịt Kìu này như sút chuồng, ồ ạt đổ xô về Sàigòn kiếm bồ nhí cho bỏ những năm dài mốc meo nơi xứ người. Cứ như cái thời đại đổ xô đi tìm vàng vậy !

Về Sài Gòn thì ngộ lắm các cụ ơi, cũng là da vàng mũi tẹt nhưng các kép này đi ngoài đường xá mà cái mặt cứ hếch lên trời. May là các kép đang « dạo phố mùa Xuân, bên người yêu nhẹ nhàng nhỏ bé » ở Sè Gềnh chứ kép mà đi dạo phố ở Pa-ri như vậy là có chầu đạp cứt chó trên vĩa hè của « Pa Ri có gì lạ không em » mệt nghỉ rồi. Chung quy chỉ vì khi về quê hương đau khổ, thiếu đô la, dư tình này, các kép cứ tưởng các kép là ….Mỹ thiệt ! Khổ là ở cái chỗ đó !

Về đến Mỹ là các kép bị các anh Mỹ da trắng mũi lõ thiệt sai bảo, kỳ thị tơi bời hoa lá. Ai mà chẳng biết là chính những vị da trắng gào la Nhân quyến to tiếng nhất thì cũng chính là những vị nhảy lên chà đạp nó nhiều nhất ?

Các cụ không tin em thì các cụ cứ làm một chuyến du hành kiểu « Thăm dân cho biết sự tình » thì các cụ sẽ thấy thôi. Em miễn bàn vì đi vào vần đề này, nó nhiêu khê, rách việc và đụng chạm dữ lắm. Em chả dại bàn luận trống canh dông dài mấy cái chuyện này đâu.

Như để trả thù đời, hễ về VN du lịch là các kép này cứ ra điều ta đây là « đại công dân của Mỹ quốc» hạ cố đến xứ này. Nói chuyện vài câu thì chém chết là các kép phải phun ra vài câu tiếng Mỹ ăn đoong cho thiên hạ sợ. Cho thiên hạ biết là các kép là Vịt kìu Mỹ chứ nếu không, chẳng ai nể sợ cả.

Em cũng có gặp một mợ, con Bảy bán nước mía ở xóm em chứ đâu ? Sau vài năm vắng bóng để theo chồng về dinh bên…Ca-li thì « một buổi sáng mùa Xuân, chợt cả xóm thức dậy », cả xóm em hãi hùng khi thấy Mợ tay xác nách mang, tay đeo vòng vàng, chân vòng kiềng…cứ thế đổ bộ về xóm cũ.

Hỏi thăm thì mợ cũng thật lòng cho hay là qua đó, công việc của mợ chỉ là ở nhà trông con cho chàng quần quật đi bán sức lao động ở phi trường ở một thành phố nổi tiếng, quê hương của phim « Cuốn Theo Chiều Gió ».

Ấy vậy mà khi mợ đi đâu, mợ cũng ra điều là ta đây là Mỹ văn miêng. Cái đáng nói ở đây là tuy chỉ để nói chuyện với bà con làng xóm, mợ cứ mở miệng xin lỗi lia chia. Vì mợ quên tiếng Việt nên mợ phải khạc tiếng Mỹ !

Em chỉ tóm tắt lại là ai mà nghe giọng mợ nói tiếng Anh là con nít ban đêm sẽ nín khóc và các mợ nào hay đi tiểu rắt sẽ hết bệnh tức thì. Kinh dị là như vậy đó.

Mấy kép Mỹ Việt đề huề này nổ bạo dễ sợ. Em có biết một kép, đi qua đó mười năm rồi về vung xích chó ra « Anh về đi nghỉ hè thiệt nhưng sáng nào ở đây, anh cũng phảI lên mạng để coi nhân viên báo cáo và anh phải cho chỉ thị để tụi nó làm »…

Báo hại em ngày nào cũng ì ạch chở cái khối thịt nhung nhúc mỡ đó ra tiệm dịch vụ gần nhà. Lúc đó, em phục người Việt Nam mình lắm và em chỉ nguyện một điều thôi. Đó là làm sao được « Nâng Khăn, Sửa Túi » cho kép Việt Kiều nào đó. Cho nó vẻ vang !

Chứ ai đời mấy giống dân Mễ, Đen, Xì, Cu Ba, Cu con… qua bên Mỹ cả mấy thế hệ mà cũng chẳng xi nhê gì hết. Cứ chỉ đi sửa nhà sửa cửa, làm cu li, cu leo hết. Ấy thế mấy kép Việt Nam cần cù, dũng cảm, biến « Sỏi Đá thành Cơm » vừa qua đó có mấy năm mà đã leo lên làm cha thiên hạ hết rồi. Kép nào kép nấy đều tốt nghiệp kỹ sư cả. Nhà cao, cửa rộng. Xe hơi bóng nhẫy ê hề đậu trước cửa..Mùa Hè có Mễ đến cắt cỏ, mùa Đông về VN nhát ma thiên hạ….

Bí mật của kép chỉ bị « bật mí » khi tình cờ thằng em em cũng vào ngồi ngay cáI máy mà kép này vừa ngồi. Nó thấy những trang web mà kép này vừa lướt xong thì nói chung chỉ là những trang web nhảm nhí và trang web theo dõi việc mua bán cổ phần…. Từ đó, em trở nên « miễn nhiễm » với những gì kép nói.

Ý quên, em lại đi lạc đề mất rồi. Em đang nói điều gì nhỉ ? Ừ, nhờ con nhỏ bạn của em, em cũng quen được vài kép ở Cali (Ngày dời Ca-li, em đã để quên con tim). Mây kép em này, chàng nào cũng « gắn bó » với em lắm. Ban ngày thức dậy là đã có « meo » thăm hỏi sức khoẻ . Ban đêm vừa đi làm về thì các kép đã ơi ới hối thúc trên Gia Hu để vấn an.

Em chẳng biét nhạc sĩ họ Vũ có khóc lóc quá đáng không khi viết « đời con gái chỉ cần dĩ vãng mà em tôi, chỉ còn tương lai » chứ em thì được các kép đối xử hậu hỷ. Cứ như em là người con gái Việt Nam thuỳ mị cuối cùng trên cái hoang đảo Internet này.

Tuy vậy, em cứ phải « kính nhi viển chi » chỉ vì con bạn em đã « cảnh báo » em rồi. Cậu nào ở bên đó cũng ế độ, kiếm bạn giải khuây trên… mạng mà thôi. Một khi đặt cái bàn chân lông lá xuống Tân Sơn Nhất rồi thì mười cậu, hết chín…rưỡi như chim xổ lồng vậy. Tung tăng, vô tư đi kiếm « cỏ non » chứ cỡ tuồi em, gần đã bốn bó rồi, đâu có lọt vào tầm ngắm của mấy cậu nữa ? Có khi mấy kép của em đi chơi đã đời ở Sè Goòng rồi và về đến Huê Kỳ thì các kép mới…sực nhớ đến em thì đau lòng em lắm các cụ ơi ! Em chẳng dại gì mà tiếp cận các kép này để lòng em tan nát thêm.

Thời đại mới, các kép cũng biết các đào bên này cũng mơ ước có ngày đặt chân đến đất tiền, đất bạc, áo đội, mũ đóng, vinh quy bái tổ nên các kép này cũng tỏ ra chọn lọc, khó khăn lắm. Ðể làm quen thì tiêu chuẩn phải là trẻ, đẹp. Trẻ thì cái thời « nữ hơn hai, trai hơn một » qua rồi. Phải sửa lại là « Nữ thua trai, hai con Giáp » mới đúng. Không tin em thì các cụ cứ làm một vòng lướt mạng, đọc pờ rồ phai các mợ đi sẽ thấy. Các mợ bi giờ chấp nhận dễ dàng tuổi của các kép là hơn từ chục tuổi trở lên. Chẳng cần « môn đăng hộ đối » mà cũng chẳng cần đến việc đẹp trai, chai mặt nữa. Đi làm thì có đi đổ bô cho Mỹ bên kia thì cũng chẳng sao. Chuyện nhỏ. Chỉ với điều kiện bé tí ti thôi : « có đời sống ổ định ở ngoại quốc ». Ðây là điều kiện Ắt Có và Ðủ để « võng nàng theo sau » về … Mỹ ! Còn chuyện sau này mấy nàng « nín thở qua sông » rồi ly dị kép hay không thì đó là chuyện sau này nữa. Em chẳng hơi sức nào để ý đến chuyện tương lai đó.

Từ ngày các kép hải ngoại bay vào mạng quậy các mợ thì các kép quôc nội buồn thê thảm. Vì quá ế ẩm. Còn đâu cái thời « Chồng chúa vợ tôi » ? Ôi thấm thía thay cái cảnh « Ba đồng một mớ đàn ông, đem về mà bỏ vào lồng cho kiến nó tha » ! Thời bây giờ là thời của những Vịt Kiều iêu quái ! Vừa quen trên mạng thì vừa qua câu xã giao hỏi đại loại «Chẵng hay tên họ là chi ? » thì các mợ đã ua úa hỏi « Anh ở đâu vậy ?». Các anh giai quốc nội xin chớ coi thường câu hỏi này. Em cho đó là câu hỏi chọn lọc mấy anh đó. Chỉ cần nói đại khái « anh ở Sái gòn », « anh ở Ngã Ba Chú Ía », « ở Ngã năm chuồng chó », v.v… … » là các mợ cho các kép quốc nội gài số de thê thảm !

Triệu chứng :
Anh giai vừa xác nhận là ở Sài Gòn thì tự nhiên người đối thoại ở đầu kia làm như tan biến vào cõi hư vô !

Phải ơi ới gào lên « anh đang ở Cali », « anh ở Mỹ… » thi mới hy vọng được các mợ ban cho đặc ân « được » tiếp tục hầu chuyện các mợ.

Sau này, có vài kép quôc nội láu cá tôm cua, thời webcam chưa xuất hiện nhiều, vừa lên mạng là móc mặt nạ Vịt kiều ra đeo. Nhờ chút hiểu biết về thủ đô tỵ nạn do mấy thằng bạn nối khố bên đó nói nên dần dà, với cái mác Vịt Kìu Mỹ, các kép trả lới ngon ơ các câu hỏi của các thôn nữ muốn biết về cái xã hội tư bản đang đành đạch giãy chết ra sao. Dần dà, các kép thừa thắng xông lên chiếm ngon ơ được quả tim vàng của các nàng trinh nữ tên Thi này.

Ðến ngày gặp mặt, mấy nàng té ngửa ra khi biết chàng Đa Ni Trần, chàng Tom Nguyễn… cũng chỉ từ những xóm Giếng ngày xưa bò ra thôi chứ chẳng phải từ Oét-Minx-Tơ Minx-Teo nào cả ! Thôi thì cũng ngậm đáng nuốt cay trao duyên tướng cướp cho rồi. Kết thúc « một chuyện tình mười lăm giờ về chat » về trước.

Nói vậy thôi chứ bi giờ, các công tử Ðỏ xuất hiện nhiều lắm rồi. Cộng thêm các công tử của những đại gia làm ăn phát tài, phát tướng thì chưa chắc các kép Chiều Phi Trường bên Mỹ đã có thể bóp kèn pin pin qua mặt các công tử quốc nội về mặt phá của gia đình ! Các công tử này cũng đi xuất ngoại đánh bài đều đều chứ không phải quanh năm bò trong miệng chén đâu. Đừng xem thường nha.

Chỉ phiền là cặp với mấy kép này chưa bao lâu thì cứ dở báo «CAND » , « SGGP », « TN », « LĐ »… ra thì thấy hình và bài vở về các ông bà bô của mấy kép chình ình trên trang nhất. Đại loại như các cụ « đang bị ngưng công tác», « có biểu hiện tiêu cực », « đình chỉ để điều tra », « viết bản kiểm điểm », « đang viết tờ trình… » hơi nhiều. Thế là Tình chưa Kết đã vội Tan !

Nói thì nói vậy chứ, em ngu gì mà không quan hệ tư duy với các kép hải ngoại này ? Biết đâu, có ngày nào, các kép chôm chĩa mánh mung gì được bên đó, mấy kép làm oai « cho em chút tiền để đi uống cà phề » thì cũng đỡ vã lắm chứ ? Chưa kể là biết đâu, có ngày có kép nào xuất thần, chịu lấy em làm « hiền thê » ? Nếu không thì lại biết đâu, mấy kép Năm Bó, Sáu Bó chẳng có ngày xuất tiền nuôi em làm Bồ Nhí ?

Bây giờ, ở đây thiếu gì Lão Nông lắm tiền, nhiều của…bạc tình với đồng ruộng ? Lão nông nào bán đất xong cũng cao bay xa chạy lên thành phố để làm quen với ánh đèn màu, giọng hát Ka Ra Ô Kê và chạy theo mấy em tre trẻ. Em thì em hãi các cụ này lắm . Ngồi gần càc cụ, thấy các cụ ngồi rút chân lên ghế như lúc đi thăm ruộng buổi chiều thì « cuộc tình đã chết một đêm nao, lúc trăng hãy còn thơ ấu » liền.

Mấy kép hảI ngoại bấy giờ cũng biết làm tiền ghê gớm lắm các cụ ạ. Biết tẩy các mợ là « lấy chồng ngoại », các mợ sẽ xuất ngoại, « đổi đời » trong nháy mắt nên các kép treo giá ngọc (hành) dữ tợn lắm.

Có nhỏ bạn em phải chi đẹp 15 000 euros để được qua Pa Ri nhìn cái tua Ép-phen và chi thêm 2 000 euros để làm thủ tục ly dị nữa. Ðỉnh cao là các kép và các mợ bên Úc Ðại Lợi. Lợi dụng luật pháp Úc cho phép lập gia đình 3 lần và khí hậu bên đó dễ chịu, lắm người thèm muốn, các cậu, mợ (có cả nữ về VN để lấy chồng mang qua nữa chứ việc lấy vợ mang đi hết là độc quyền của mấy kép rồi) làm đẹp 2 « phi vụ » để có chút tiền tiêu xài, le lói với mấy bông hoa quốc nội.

Có kép làm phi vụ « thiệt » nhưng cũng không ít kép làm các phi vụ « giả » hay làm những động tác giả. Hoặc có khi là những phi vụ « nửa nạc nửa mỡ » hay còn gọi là phi vụ « Nữa chừng Xuân » đại loại « chúng ta chỉ chơi trò vợ chồng thôi nha em nhưng gia đình em phải đưa thêm tiền cho anh. Nếu không, anh sẽ bỏ ngang thì lúc đó, chưa đủ số năm ấn định bởi INS, em sẽ bị trục xuất »…. Vào vấn kế luật sư thì luật sư nào cũng câu giờ , nhận đô la đủ rồi « không làm cách gì hơn ». Ắn năn thì đã muộn. Tiền mất, tật mang.

Chuyện dài gạt gẫm về những hôn thú giả, tiền thiệt này nở rộ chẳng thua gì chuyện tham nhũng ngày nay. Các cụ nào không tin em thì chẳng cần đi đâu xa, cứ lên những trang Web tiếng Việt sẽ dó dịp thấy nhan nhãn những chuyện « vân cẩu » tang thương như vậy.

Như bức tranh vân cẩu này chưa đủ « đô » tang thương hay sao đó, mấy chú Ba Ðài Loan đến các trự Ðại Hàn, Xinh, Mã… lại thi nhau nhảy vào Việt nam tuyển lựa gái quê để mang về làm…nô lệ bên đó. Em đọc báo thấy có lần viết về một ông Ðài, lương khiêm nhường chỉ có hơn một ngàn đô mà về tuyển lựa dzợ tương lai trên một ngàn nàng trinh nữ đồng quê Việt Nam !

Ðọc đến đây, em cứ phải dụi mắt và cấu, véo, cào, xé da thịt em để em biết là em đang sống trong cái thời đại ta bà này chứ không phải là đang nằm mơ thấy ác mộng ! Có mợ Xẩm còn chơi cái trò thẩy tiền ra cho bằng số Ký Lô của « hố nì » để mua mang mang về phục vụ…

Về mấy chàng Tây Ba Lô thì em cũng có con nhỏ bạn. Con này cũng Ðiêu Thuyền, Ðổng Trác lắm các cụ à. Ai chơi với nó mà « mậu lúi » hay dở trò « tiết kiệm » là nó

đề nghị liền« anh về nhà anh, cởi áo để muỗi đốt để cha mẹ anh ngủ yên như trong truyện Nhị Thập Tứ Hiếu chứ đi với em làm gì cho tốn tiền ? » .

Ðược cái là nhỏ chơi với em rất tốt. Nó cũng trang nghiêm cảnh báo em về mấy anh chàng mắt xanh, da trắng này. Nhỏ từng quen một cậu Tây cũng trên mạng. Tên cậu là Zô Zê, Zô Ziếc gì đó. Cậu Zô liến thoắng lắm. Cậu nói chuyện hay, trên cả sự tuyệt vời luôn. Cậu huyên thuyên. Cậu líu lo khi gặp nhỏ. Nhỏ chỉ ghét là cái cặp mắt của cậu gian giảo quá . Mắt cậu cứ láo liên khi thầy các nàng kiều nữ tóc bay trong gió, váy ngắn củn cỡn đi ngang. Nhưng được cái là cậu hứa hẹn với nhỏ bạn em đủ điều.

Ngày cậu đến đầu tiên « Việt Nam, quê hương tôi », cậu mua tặng nhỏ đủ thứ quà. Từ những chai nưóc hoa đến cái điện thoại. Nhỏ đâm ra mê mẩn với cái ý nghĩ có ngày bước lên xe huê, mũ áo xênh xang leo lên máy bay ra xứ người đổi đời. Vì vậy, nhỏ cũng chẳng tiếc thân, ra sức chiều chuộng cậu Tây này.

Ngày nhỏ té từ trên cao xuống là cái ngày nhỏ được Lễ tân của khách sạn bỏ nhỏ vào tai là trong khi nhỏ về nhà ông bà bô để đóng kịch « con hiền, cháu ngoan, đi thưa về trình » hay khi nhỏ kẹt ở sở làm thì cậu Tây này cũng « phỏng vấn », theo lời Lễ tân, « có đến cả chục cô », « cứ như là sắp hàng lấy số vậy »…..

Như vậy, nhỏ chợt hiểu ra là nhỏ cũng chỉ là một cái tên nằm trong bản danh sách của cậu Casanova này thôi . Nhỏ bèn tức tốc hỏi cậu Tây thì cậu Tây lấp liếm « anh cần phải tìm hiểu nhiều người thêm trước khi quyết định chung sống với ai », « «em dễ dàng quá nên anh sợ là em không qua nổi …thử thách này…. ». Hoá ra thì khi cậu đăng cái bờ rờ phai của cậu là « kỹ sư vi tính », « có nhà cửa, việc làm ổn định », « thân hình lực sĩ », vân vân thì không phải chỉ có nhỏ là đà đi vào chuồng cu của cậu !

Thế là nhỏ lên cơn tam bành, liệng cái điện thoại vào mặt người tình trăm năm và hát bài « Tình nghĩa đôi ta chỉ có thế thôi ». Nhỏ sụt sùi nóI với em « Em biết nó ngay từ đầu mà. Mắt nó gian lắm cơ nhưng em cứ tưởng nó biết người, biết của,cưới em thiệt nên em tin nó. Dè đâu…» !

Thời buổi @ Còng này, thời buổi thiên hạ cứ nhìn đâu cũng chỉ thấy ông … Hoa Thịnh Ðốn khắp nơi thì dở báo ra, em chỉ đọc thấy những vụ lường tình, quỵt tiền, lợi dụng chức vụ …nhan nhãn như lá mùa Thu vậy. Thiệt em chán ngán cái thời buổi này quá xá. Biết làm sao hơn bi giờ hả các cụ ? Ngay cả thằng em trai của em, cứ vừa đi làm về là ra cái điều « gác bỏ mọi chuyện thị phi ngoài đời », gõ mõ tụng kinh mà cũng thỏ thẻ nói vớI em « Quen rồi, ngày nào, dở báo ra mà không thấy những tin xe bắt chó, chó bắt xe, tình, tiền, tù tội…. thì em ăn cơm mất ngon ! »

Xí quên, cứ dài dòng mãi lạc đề câu chuyện, làm các cụ điên đầu thì em xin quay trở lại câu chuyện tình ảo với gã kép chuyên trị « Có yêu anh không » của em nha các cụ.

Thế rồi gã từ đâu đến và phom phom đi vào đời em.Từ đó có anh đi nhẹ vào đời !. Gã này khác người lắm các cụ ạ. Chẳng bao giờ thấy gã mang những chuyện vui, chuyện vẻ vang xứ người ra nói. Gã cứ tỉ tê về những phút cơ cực ở nơi gã « sống nhờ » ra để nói. Gã khuyên em nên đi học nghề « vì ai cũng phải đi làm, tự nuôi bản thân ». Gã leo lẻo nói em về chữ « cố gắng » bản thân tối ngày sáng đêm. Gã tâm đắc với cái triết thuyết « Tay làm hàm nhai » lắm.

Em thì em cũng có lúc em cảm động về « mối tình chân » của gã đấy nhưng nói thật với các cụ, em thực tế lắm. Dầu gì đi nữa, cái sự chân thành, cái con đường thẳng của gã, em chẳng mài ra để uống được mà theo nó thì chỉ em chỉ thấy tương lai em áo rách, bị gậy thôi. Gần bốn bó rồi, còn gì nữa để làm lại từ đầu ? Đời con gái mà các cụ ?

Em quyết định rồi các cụ ạ. Em sống lương thiện thôi chứ cái việc lao động thì theo quan niệm của em, thì đó là việc của …thằngchồng em ! « Đã là bậc nam nhi thì phải lo chu đáo cho vợ con ». Em không thích đi làm, ai cưòi em thì họ cứ hở mười cái răng ra thôi. Em không có ke đâu. Cái gì chứ cái này, em sẵn sàng ngồi xổm lên dư luận.

Em chịu thua việc đi làm nhưng đừng có ai bảo em là lười nghe các cụ ? Tuy lưng em dài, chân em trường túc bất chi lao thất đấy nhưng em chả làm biếng tí ti ông cụ nào. Em sẽ ở nhà cao, cửa rộng. Và em cũng sẽ phải chỉ tay năm ngón (bàn tay năm ngón kiêu sa) cho mấy người làm dọn dẹp chứ ? Em có ngồi không bao giờ đâu ?

Ðó là chưa kể là em sẽ nói người chồng tương lai của em mua cho em một căn nhà ở cái thành phố này. Ðể em có dịp lao động nữa chứ ? Các cụ cứ tưởng có nhiều phòng cho thuê rồi là em chỉ ngồi đếm tiền và õng ẹo lượn qua, lượn lại thôi sao ? Cuộc đời đâu có dễ dàng vậy các cu ? Kiếm được và chục tờ giấy 500 000 polymer Bác-Cười-Hoan-Hỷ thì em cũng đổ mồ hôi hột đấy các cụ ạ !

Em quyết định rồi. Số tiền em chạy mánh đuợc bấy lâu nay cộng vớI số tiền má em vừa bán được ruộng chia cho các anh chị của em để « mẹ hy vọng mỗi đứa có điều kiện đi học một cái nghề gì để sau này tự nuôi sống bản thân », thì em sẽ đi qua Thái Lan để …tân trang nhan sắc lại. Như vậy, đờI sẽ biết tay em.

Để kết thúc bài này, xin các cụ cho em gởi một tin nhắn ở dưói nhé, em xin cám ơn các cụ.

Nhắn tin :
« Các anh vịt kiều ơi, đọc đến hàng chữ này, các anh cứ chuẩn bị tinh thần và túi tiền đi nha, tân trang nhan sắc xong, em sẽ quay lại nóI chuyện phải quấy với các anh. Còn cái anh « Có yêu anh không » gì gì đó thì nhân tiện đây, em cũng xin trả lời anh luôn. Ngắn gọn là như thế này : « Anh cứ nằm mơ đi anh » !

Sau cùng, em cũng xin thưa với các anh là, những gì em viết ở trên, chỉ là do một lúc sầu đời, em ngồi tưởng tượng ra thôi. Mọi việc trùng hợp nếu có, chỉ là ngoài ý muốn của em. Cuộc đời tuy không là màu hồng nhưng cũng đâu có đen tối như vậy ?
118

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2005

Ẩm ướt những cơn mưa



Vô tình tôi đi qua quán sách cũ buổi chiều hôm ấy. Sau cơn bão vừa tạt qua thành phố mấy bữa trước, trời đang lặng yên, bỗng còn nuối tiếc, đổ xuống một trận ào ào. Tốt hơn cả là chạy vào quán sách, vừa nhân thể chào cô bạn chủ quán vừa tìm một cuốn gì về đọc cuối tuần. Thời tiết xấu và sau những ngày lễ tết cuối năm, túi tiền vơi hẳn lại thêm thuế má đuổi bắt sau lưng, mọi người như sợ la cà phố quán.

Cô bạn đang lui hui xếp lại mớ sách trải đầy trên sàn gỗ, nghe tiếng tôi gọi sung sướng cười. Hoá ra nàng đang ế khách, có người nói chuyện hẳn thích đó thôi. Thường thường giờ này, đủ hạng người, già trẻ lớn bé, nhất là học trò sinh viên chen nhau trong cái phòng không được bốn chục mét vuông. Sách trên kệ, dưới sàn, trên bàn và cả những bực thang gỗ dẫn lên căn gác, nơi uống trà đọc sách của khách nhàn hạ.

Nhưng tôi nhầm, cô ta chẳng chút buồn tình, còn đang mừng có dịp xếp dọn mớ hàng hoá vô cùng bừa bộn sau những ngày tết mà thiên hạ đổ đến mua sách cũ làm quà. Trước đây, tôi không tưởng được người ta có thể gói lại trong giấy bóng một cuốn sách, nếu chẳng đến nỗi cũ mèm thì cũng cong góc hay nhạt màu bìa để đem tặng ai đó. Sau này, đôi lần phải một quyển đã tuyệt bản mới thấy thế nào là quí.

Nụ cười rạng rỡ khác hẳn ngày cô ngồi gọn lỏn trong chiếc ghế bành với hai đứa con nhỏ, đứa ôm cổ đứa kéo tay. Một mình sau đám tang người chồng, nàng loay hoay tìm cách sống. Lắc mái tóc buộc gọn sau vai :

- Tao bán nhà, lấy tiền mở tiệm sách.

Tự nhiên tôi bật cười :

- Sách gì, khoa học, văn chương ? Mày biết chi mà buôn với bán.

Cô ta ngửng lên, đôi mắt mở to thất vọng, đáp thõng :

- Sách cũ.

Tôi ngỡ ngàng nhận ra câu nói vô duyên của mình. Lâu rồi tôi nhìn cô qua hình ảnh một bà nội trợ có chồng chức phận, ở nhà nuôi con và quản lý cả trang trại lớn. Tôi quên bẵng bạn mình vốn có kiến thức trên xa mức trung bình. Lòng bỗng rộn ràng với khung cảnh một cửa hàng sách, nhất là sách cũ, với mùi giấy của thời gian không giới hạn và nét vàng khắc chạm trên bià nổi, dấu ấn một quá khứ.

Hai chúng tôi rủ nhau lên gác, tâm sự đủ chuyện. Tôi mới hay, cô bạn vừa mở thêm một phòng triển lãm tranh trên con phố gần đây. Trời dứt cơn mưa, chỉ còn vài giọt lất phất, ngoài kia gió đã ngừng. Tôi đẩy cửa ra về, cô bạn nhắn theo : - Nhớ ghé qua xem tranh, chắc chắn mày sẽ thích. Kèm theo nụ cười dụ dỗ khác thường.

Phòng tranh nằm sát con đường phố cổ chật hẹp, không được bốn thước chiều ngang. Một chiếc xe chạy qua là đủ nghẽn, cũng chẳng có vỉa hè. Những ngôi nhà hai bên trầm ngâm màu gạch cũ, không rong rêu nhưng đượm nét u hoài với các ô cửa kính cong cong và mái ngói sậm màu. Tôi đứng ngoài một ít lâu. Tật vẫn thế, thích có cái nhìn bao quát trước khi vào một phòng tranh nhỏ. Chừng hơn chục tấm xếp đặt mỹ thuật trên ba bức tường không thẳng góc. Cô bạn cho biết trước, đây là một hoạ sĩ mới trong vùng.

Người đàn ông ấy đang đứng xem tranh phiá trái, tóc dài chấm vai. Ánh lá mạ của chiếc áo pull sáng trước nền xanh mãnh liệt đan những vạch trắng và đốm nâu của bức tranh trườu tượng. Anh ta có vẻ chăm chú, lại gần rồi lùi xa. Nơi chiếc bàn góc phải, cô tiếp tân đang chúi đầu vào một cuốn truyện. Tất cả yên ắng, trầm tư. Ðã đặt tay trên nắm cửa nhưng tôi bỗng ngại ngần không dám mở ra, sợ làm rộn người khách đang xem. Buông tay quay lưng định đi, quả nắm kêu lên tiếng động nhỏ. Người đàn ông quay lại hơi nhíu mày, nhưng liền sau đó, bắt gặp sự lúng túng của tôi, anh ta mỉm cười. Thoáng đôi mắt xanh như mặt hồ thật dịu. Ðã lỡ, tôi quyết định không vào. Chút ánh sáng cuối ngày vừa biến đi trên con đường nhỏ. Trời lại sắp đổ mưa.

***

Chẳng ngờ, tôi gặp lại người đàn ông tóc dài ấy ba bốn tháng sau, nơi một quán ăn gần biển. Cũng cô bạn hàng sách bầy têu, nhân ngày sinh nhật. Chẳng hiểu tiền định thế nào, cô và tôi sinh cùng ngày và tháng. Lần này cô gọi :

- Ðừng ngồi nhà, sửa soạn theo tao đến chỗ này. Giọng cô reo lên đầy hứa hẹn điều thú vị.

Từ biển quay vào thành phố, nối tiếp làng mạc là những cánh đồng thẳng tắp. Vào mùa hạ những hoa gai dệt vải xanh lung linh, bềnh bồng lan khắp chân trời. Lúc này cuối đông đầu xuân biển thường hay động, từng bày hải âu oang oác rủ nhau vào đất liền, theo chiều gió. Xe qua vài con đường nhỏ viền hai hàng bạch dương, chúng tôi dừng trước ngõ dẫn vào một quán ăn khuất lấp sau lùm cây nguyệt quế. Vừa bước xuống xe, tôi ngạc nhiên bật cười, một tấm biển nhỏ dựng cạnh bụi cây, kẻ chữ hồng : Chiếc vali tham ăn.

Lối đi trải đầy sỏi trắng đưa đến căn nhà tường phủ sọc gỗ nâu, tiêu biểu của vùng tôi ở. Hôm ấy trời đầy mây u ám. Có ngọn gió đông bắc lùa về căm căm nhắc nhở câu ngạn ngữ kỳ lạ của xứ sở này : Vào tháng tư không được rời một sợi vải. Dù ban ngày, sau cửa kính thấp thoáng ánh đèn ấm áp. Không chờ cô bạn đang khóa xe, tôi hấp tấp đẩy cửa như bị cuốn hút bởi không khí ấm bên trong. Nhưng tôi đã khựng lại ở ngưỡng cửa một phòng ăn có những chiếc bàn phủ khăn hồng nhạt, nổi bật đĩa ăn màu rượu chát. Ánh pha lê từ các cái ly cao cổ long lanh. Cành hoa trắng trong chiếc bình thấp đặt ở mỗi bàn mang vẻ cô độc đầy thanh lịch. Trên hai bức tường đá vôi là hai bức tranh sơn dầu khổ lớn. Ngoài ra chẳng còn gì khác. Tôi chưa nói đâu về những tấm tranh này, vì điều đã khiến tôi không thể bước thêm bước nào chính là người đàn ông đứng gần nơi quầy rượu. Anh ta đó, chàng tóc dài xem tranh chiều mưa nọ.

Tiếng chân cô bạn đến đằng sau, anh chàng nở nụ cười tươi, cặp mắt rất dịu lần trước sáng hẳn lên chào cô bạn đang nghịch ngợm nghiêng đầu. Trưa ấy trong tuần, vắng khách, người bồi phụ trách hai bàn xa hơn. Chúng tôi được chính chủ quán tiếp món ăn. Cô bạn giới thiệu đây là bạn thân của người họa sĩ triển lãm hôm nọ. Tôi đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Bạn rất thân mà sao anh ta đến xem tranh với phong cách của khách thưởng lãm không quen. Kỳ lạ thật.

Chàng tóc dài hôm nay vẻ ngoài thay đổi, một bộ complet cắt khéo, trịnh trọng ông chủ nhà hàng, nhưng chẳng che đi màu tím nhạt của chiếc sơ-mi cũng nhẹ nhàng như màu áo lá mạ bữa ở phòng tranh. Anh rất hoạt bát, nói đủ thứ chuyện một cách dễ dàng. Vừa nghe tôi vừa đảo mắt nhìn quanh. Tất cả nơi đây toát ra không khí ấm cúng và lịch sự. Ðối diện lối vào có hai khung cửa mở ra khu vườn, những nhánh phong đã bắt đầu trổ lá. Cây hoa đào rủ cành, hồng thắm góc sân. Bức tường sau quầy rượu treo tấm tranh vẽ một ngôi nhà cổ cheo leo bên triền núi. Có một thứ nắng trời rực rỡ chiếu sáng các bờ đá và những cành cây mọc nghiêng trong không. Nhưng khi mắt dừng lại trên tấm tranh thứ hai thì tôi bị một luồng điện mạnh rút qua. Những mảng màu đập vào nhau, bắn ra như máu, như nước, như lửa cùng một lúc. Nó làm hồn tôi bấn loạn. Cô bạn chừng nhìn thấy, đưa mắt hỏi anh chàng tóc dài :

- Hắn đâu ?

- Dưới bếp, để gọi lên.

Vài phút sau, hắn đó. Một dáng người to cao vững vàng, chiếc áo ca-rô xanh hài hoà với màu quần xám, bên ngoài còn khoác cái tạp dề đầu bếp. Người mới đến ôm hôn cô bạn túi bụi, rồi quay lại chìa tay cho tôi, bàn tay ấm nhưng mềm mại. Bạn tôi giới thiệu :

- G., đầu bếp tham ăn, họa sĩ cuồng !

G. cười hiền lành. Tôi vẫn có tật hay nhìn người đối diện vào đôi mắt, và mắt anh ta lại thản nhiên lạ lùng

Cô bạn cùng hai người đàn ông nói chuyện vui vẻ, thân thiện quá, tôi đóng vai thính giả ngồi nghe im lặng. G. ít nói nhưng rất ý nhị. Chàng tóc dài hài hước vui tếu hơn. Có lúc anh ta đặt một tay lên đùi, tay kia choàng qua vai G. kéo lại gần. Họ nhìn nhau, ánh mắt trao đổi vuốt dài. Tôi ngẩn người trong giây phút, đến nỗi cô bạn tinh ý đá chân dưới gầm bàn, cười tủm tỉm.

Chúng tôi ngồi rất lâu sau bữa cơm. Khi bước ra khỏi chiếc vali thì trời đã tối. Một mùi hương bay lượn trong không, hình như là mùi thủy tiên dưới những gốc cây lẫn với mùi biển. Tôi kéo cao cổ áo, ngửng đầu nhìn trời. Mảnh trăng trên cao lẻ loi trong vắt. Hơi lạnh ngấm người, và chẳng hiểu vì sao, tôi bỗng ngoái nhìn. Sau cửa kính, hai người đàn ông quàng sát vai nhau vẫn đứng đấy, đưa tay vẫy chào. Màu đèn sau lưng họ vô cùng ấm áp.

***

Từ đó, tôi trở thành bạn. Cô hàng sách và hai người chủ chiếc vali tham ăn thường tụ họp gặp nhau vào những ngày nghỉ, tôi được mời cùng đến. Tôi cũng thường ghé qua quán ăn mỗi lần ra biển, có khi thêm ai đó, lúc một mình. Tôi gọi họ là tóc dài và họa sĩ. Hình như với thế giới bên ngoài G. vẫn luôn ít nói, dường như lời nói của anh đã là màu phá ra từ sơn cọ, là mùi thơm bốc trên những món ăn bày biện mỹ thuật. Còn với không gian sâu kín hơn, anh dành để nói với tóc dài bằng những cái nhìn thấm lắng. Tôi dần quen với cử chỉ thân mật đôi khi táo bạo có phần lộ liễu của họ. Trong tôi không còn hình ảnh những chàng gay mặc áo màu yểu điệu với hai bàn tay thích xoè từng ngón, vung vẩy trong mỗi bước đi.

Chàng tóc dài kể, G. sinh trưởng tại miền biển này. Ngay tuổi thiếu niên đang lớn G. sẵn đẹp mạnh mẽ rắn rỏi và tâm hồn bồng bềnh nghệ sĩ, nhưng G. hờ hững với tất cả những cô gái cố tình. Chàng bỏ nhà ra đi về thành phố lớn khi không còn chịu đựng nổi tiếng thở dài của mẹ, cặp mắt vừa dò hỏi vừa đau xót của cha. G. bắt đầu vào làm bồi bàn rồi học thêm phụ bếp cho một hiệu ăn nổi tiếng. Tự nhiên khám phá thêm năng khiếu nấu ăn đặc biệt. Riêng tóc dài là con nhà giàu, học hành rất giỏi, làm việc trong ngành ngoại giao khi vừa hai mươi sáu tuổi. Hai người họ gặp nhau ở hiệu ăn G. làm. Một người vẫn tiếp tục nấu ăn và vẽ, người kia di chuyển nơi này nơi khác. Những chuyến đi như thế của tóc dài chẳng thú vị gì, lắm lúc là một khổ hình khi bắt buộc che giấu phần đời thực. Anh kể, có lần, một nhà ngoại giao nhật bản đãi bữa tiệc có những nàng geisha chuyên nghiệp. Saké chuốc từ đầu buổi đến tàn đêm. Các cô lơi lả, ông nhật say mèm sốt ruột. Nhưng anh là khách và vẫn ngồi yên tự tại, mặc cho các nàng có ý giục giã. Nhà ngoại giao Nhật khổ sở chịu trận, cuối cùng mất kiên nhẫn đành nói thẳng :

- Nếu ông không thích các cô gái kiểu này, chúng tôi có thể mời mấy cô tân thời điệu nghệ khác.

Tôi gọi vào cho ông chọn nhé.

Tóc dài chẳng có cách nào hơn là vội vã đứng dậy chắp tay :

- Thưa ngài, xin miễn cho, chả là…hôm nay kỷ niệm đám cưới vợ chồng tôi, và…tôi rất yêu nàng.

Ông Nhật cười ha hả :

- Không ngờ, không ngờ ! tây phương các ông lại có người lịch sự với vợ đến thế ! Bái phục !

G. đã chán ngán thành phố lớn ồn ào, thèm muốn trở về với biển. Khách đến quán vali tham ăn, nếu chẳng biết gì thì vì khẩu vị các món ăn và nơi chốn thơ mộng. Còn không, họ ghé lần đầu với sự tò mò. Số còn lại trở thành khách quen cởi mở, đồng tình. Nhiều người mua tranh G. và cũng không ít các bà các cô mê mệt phong cách lịch lãm, duyên dáng trong lời ăn tiếng nói của tóc dài.

Một lần, tôi hỏi G. tại sao anh thích nấu bếp. G. trả lời : - Tôi thích mọi thứ nghệ thuật. Nấu ăn là một, có phần đặc biệt hơn, nó giúp tôi giữ được thăng bằng trong con người. Nhờ nó, tôi trấn tĩnh, kìm hãm những sôi sục đảo điên thường đẩy tôi đến bờ vực. Tâm tôi vốn chẳng mấy bình an, tranh vẽ hiếm khi thanh thản. Trước khung bố, tôi không bao giờ biết trước rồi bức tranh sẽ ra sao, vì không thể kìm giữ được trạng thái tâm hồn mình, nhiều khi tôi trút cả bức xúc, ẩn ức, giận dữ vào đó. Thứ xúc động cao điểm ấy là một trong những cá tính của bọn người như chúng tôi. Người che giấu được, người càng đậy điệm càng bùng nổ. Còn nấu ăn là một nghệ thuật có qui tắc. Người làm bếp không thể tùy tiện, dù óc sáng tạo cũng là điều vô cùng cần thiết, chẳng kém gì các ngành nghệ thuật khác. Khi nấu ăn, phải điềm tĩnh, canh chừng. Trần nhánh rau thế nào cho xanh, cho cọng nui mềm vừa phải. Quậy món sốt cần mạnh tay lúc đầu nhẹ tay phút cuối…

Tôi cũng đem thắc mắc về buổi gặp gỡ đầu tiên nơi phòng tranh hỏi tóc dài. Chàng cười bảo : - G. vẽ và tôi mê tranh, nhưng không bao giờ tôi nhìn hắn vẽ. Giản dị, chỉ vì tôi biết mình sẽ can thiệp vào việc làm của G. Tôi xem hắn như một...người vợ và có thói xấu là luôn luôn thích bảo vệ phái yếu. Tôi tỏ vẻ thông hiểu nhưng vẫn thấy có gì ngược đời. Hai người này đã chẳng bình thường, càng nghịch lý hơn khi G. vạm vỡ to con lại được che chở bởi anh chàng mảnh dẻ thư sinh mang đôi mắt dịu hồ trong suốt.

Quen họ một thời gian chẳng biết bao lâu và không có gì ngăn cản tôi yêu thích sự có mặt ấy trong cuộc sống của mình. Ðôi lần họ tổ chức họp mặt giữa những người đồng cảnh, mời tôi đến chơi. Tôi hăng hái nhận lời. Nhưng lần đầu tiên, đã ngồi trên xe, lúc mở máy tự nhiên tôi ngẫm nghĩ : - Khùng quá chăng, khi mình đàn bà lạc vào đám đàn ông đồng tình luyến ái? Aùi ngại lo âu, rồi buổi họp sẽ đi đến đâu, làm sao chuồn về nếu họ quá đà sau đó? Nhưng lỡ nhận lời. Thôi, đi. Cuối cùng, nơi nhà riêng của họ tối hôm ấy, ngoài mấy cặp bạn trai còn có một đôi bạn gái. Mọi người đón tôi tự nhiên cởi mở, tôi mỉm cười chế nhạo đầu óc tưởng tượng phong phú của mình trước khi đến đây.

Một trong hai cô gái mang tên Lise mà tôi rất thích. Dáng người cô cao và cân đối, một cô gái đẹp. Người bạn Lise mập mạp hơn, bộ ngực núng nẩy, mặt tròn nhưng nét cười thiên thần, hàm răng trắng bóng. Lise và cô bạn khi ngồi gần cầm tay, lúc ngồi xa chụm vài chiếc hôn gió. Cho mãi đến khuya, tôi đứng dậy cáo lỗi ra về thì sự cố mới xảy ra. Ðang từ biệt G. cùng tóc dài ở thềm cửa, tôi nghe hai cô gái to tiếng với nhau. Lise trách cô kia điều chi đó, rồi cô bạn ngúng ngẩy quay đi. Lise ào tới vật cô ta ngã dài - chẳng ngờ Lise mạnh đến thế - ôm chầm lấy, cào cấu dữ dội. Mặt nàng đầm đìa nước mắt. Dường như cô bạn tròn động lòng nên quàng ôm Lise, rồi họ hôn nhau mê mải. Tôi bước ra khỏi cửa. Thêm một lần, tâm hồn mất hẳn bình an.

Trên con đường đêm, ngồi trong xe qua những cánh đồng rạ tối, tôi nghĩ về tôi, về G. và chàng tóc dài, rồi về hai cô gái. Hình ảnh Lise chúi mặt vào khuôn ngực dầy của cô kia hệt như một đứa trẻ tìm vú mẹ. Nếu tôi là nhà tâm lý, sẽ kết luận ngay đấy là hậu quả của thứ tuổi thơ thiếu tình mẹ. Không thể nào che giấu, sự vuốt ve trao đổi giữa hai cô gái làm tôi vương vương khó chịu. Khác hẳn những lần tôi thản nhiên trước cử chỉ âu yếm của cặp vợ chồng chiếc vali, như thể một chuyện bình thường. Tại sao trong tôi có sự phân biệt giữa hai cặp tình nhân ấy? Vì sao tôi chấp nhận phái này mà không là phái kia? Do hai người đàn ông vốn bạn thân quen, còn hai cô ấy là người lạ mặt?

Ðường đêm hun hút, thỉnh thoảng vài con thỏ hoang băng ngang dưới đèn xe rồi biến vào bên kia bờ ruộng tối. Lúa cỏ cao rạt từng làn theo gió. Con đường này có những khúc quành khá nguy hiểm, nhưng tôi không rời được suy nghĩ miên man. Cứ mỗi lần đôi môi Lise trơn ướt, cặp mắt nàng lóng lánh nhìn cô gái nọ hiện ra là tôi rờn rợn thịt da. Cuối cùng về đến nhà, tắt máy xuống xe, tôi tự nhủ : - Chẳng có chi lạ, mình là loại đàn bà mang xúc cảm định sẵn, nên không chấp nhận hình ảnh hai cô gái kia vì ngỡ tưởng một người đàn bà khác đang làm những động tác ấy trên chính mình, nên sờ sợ, thế thôi.

***

Tôi không có dịp gặp lại Lise sau đó. Cô hàng sách ngày càng bận bịu, mở thêm gian hàng mới, giao thiệp với họa sĩ, điêu khắc đến từ các nơi. Hơn nữa có gương mặt mới xuất hiện bên đời cô, thân thiết, nên dù vẫn vào mua sách, tôi ít dịp hàn huyên tâm sự. Tôi hay ghé phòng tranh những chiều cuối tuần, một mình hay với tóc dài, trong khi G. sửa soạn các món ăn. G. vẫn vẽ, nhưng có điều gì nơi G. làm tôi lo âu. Mỗi lần xem một bức tranh vừa hoàn tất của anh ta là hồn tôi nếu không hỗn loạn thì trĩu xuống. Tranh G. càng ngày càng táo bạo. Có khi, một con đường sâu hun hút với một hình nhân trần truồng nửa chạy nửa bay, rất thơ nhưng rất lạnh. Lúc toang đổ những tảng màu như máu, không hình không thể mà thường tôi chẳng thể chịu đựng lâu hơn. Tôi sợ và nói ra điều ấy với tóc dài. Tiếng thở ngưng lại trên khuôn mặt anh đăm chiêu, đọng buồn.

Một thời gian sau, tôi nằm bệnh viện. Tóc dài vào thăm buổi chiều hôm ấy. Trời mưa. Tôi với anh ta cùng những cơn mưa ướt át như thể có duyên hội ngộ. Sau các thăm hỏi bệnh tình, anh kiếm chiếc ghế nơi góc phòng, mệt mỏi buông người. Thời gian chừng dừng lại. Cả tôi và anh cùng im lặng nhìn ra ngoài trời. Những dòng nước đan mờ không gian xám. Lúc lâu, chẳng thể đợi nữa, tôi gọi nhỏ tên anh. Tóc dài quay mặt nhìn, tôi không tả nổi màu mắt đùng đục nhờ nhờ buồn thảm. Anh thở ra :

- Có lẽ bọn này đóng cửa chiếc vali.

Chẳng chờ tôi phản ứng, anh tiếp luôn một tràng giận dữ, vỡ bờ đập nước :

- G. nó điên rồi. Không thể nào chịu nổi ! Hắn nấu nướng bậy bạ, cháy khét vô chừng, trong khi khách hàng càng lúc càng đông. Bảo kiếm đầu bếp, hắn không chịu. Tranh chiếc thì cọ quẹt tưng bừng loạn đảo, chẳng cái gì ra cái gì. Tôi sẽ điên mất.

Tóc dài ấm ức kể thêm những sự việc xảy ra trong đời sống họ sau này, những bất mãn của khách hàng, cãi cọ đạp đổ hằng ngày của G. Cơn giận làm tóc dài nhổm lên ngồi xuống, khua tay vò đầu. Tôi không còn thấy đâu hình ảnh người đàn ông lịch lãm từ tốn, bông đùa quen thuộc. Cuối cùng thấm mệt, chàng ngồi lại, hai bàn tay không ngừng vuốt mái tóc rất mềm, vàng óng ả. Lại im lặng. Rồi tôi cũng phải nói một câu gì. Chẳng đơn giản là một câu nói bởi tôi linh cảm anh ta chưa kể hết sự thực, một sự thực đã dấy lên nỗi bức xúc điên cuồng. Nhẹ nhàng tôi hỏi :

- Còn gì nữa không ?

Tóc dài lặng thinh nhưng hai vai rung nhè nhẹ. Tôi với áo khoác, bước ra khỏi giường, đến gần đặt tay lên mái tóc anh ta. Một lúc sau, anh buông thõng :

- G. nó trốn tôi, nhất định không cho tôi đụng đến người hắn nữa !

Tôi có cảm tưởng cả mớ ruột anh ta đã trút hết ra ngoài. Tấm thân người rũ rượi trên ghế kia hoàn toàn trống rỗng. Tôi im lìm nhìn những chiếc lá trĩu xuống dưới làn mưa. Chúng quằn quại hớn hở đón cơn mưa móc sau nhiều ngày hạ nắng. Tình dục trong thế giới G. và tóc dài không đơn giản là một nhu cầu thỏa mãn sinh lý, mà hơn thế, đó là phương cách biểu lộ và xác định sự hiện hữu khác người của mình với cuộc đời chung quanh. Nơi vốn xem chuyện tình yêu đồng phái là một chứng bệnh hoặc thứ gien khó chữa trị, hay một hội chứng tâm lý bất bình thường, phản xã hội. Họ phải chống đối ý tưởng bị xem là một sự vật biến thái, đưa đến thái độ công khai bộc lộ giới tính trước thế gian như thách thức.

Chẳng bao lâu sau, một ngày cuối hè, tôi đi xa về, đẩy cửa vào nhà chưa kịp đặt hành lý, chuông điện thoại reo. Cô hàng sách báo tin G. vừa mất. Hai hôm trước, sau khi đập nát một lô bát đĩa trong hiệu ăn, G. bỏ ra vườn, ngồi đấy rất lâu, rồi đứng dậy lái xe đi. Tóc dài không có đó. G. đi dọc bờ biển lên phiá bắc, vùng này có những vực sâu. Xe G. đã lao xuống một bờ cao và dốc đứng.

Tôi không còn nhớ gì, hay trí óc đã từ chối ghi nhận những điều xảy ra sau đó.

Thời gian qua đi lâu lắm, tôi không hề ra biển, mãi đến một lần có khách phương xa. Lúc quay về, chẳng đừng được nữa, tôi rẽ xe vào con đường có hai hàng bạch dương. Bụi nguyệt quế ở cổng mọc um tùm che gần lấp đường vào. Tấm bảng kẻ chữ hồng đã bong sơn nhưng vẫn còn đó. Lối sỏi mọc rêu và màu nâu của những thanh gỗ bọc tường đã bạc đi trong mưa và gió biển. Cửa đóng chối từ. Nhưng lạ lùng chưa, hạ qua lâu rồi mà còn lấm tấm vài bông hoa đào cuối góc vườn kia. Lá rụng nhiều mùa rã ra với mưa nắng, phủ dầy các lối đi. Nhớ còn người bạn ngồi đợi trong xe, đành trở ra. Nửa chừng không ngăn nổi, tôi ngoái lại. Mấy cánh cửa đang từ từ mở rộng, có ánh đèn vừa thắp lên trong ấy. Và sau ô kính, hai người đàn ông âu yếm sát bên nhau đưa tay vẫy vẫy.

Tóc dài đã bặt tin từ độ ấy. Quán ăn không bán lại cho ai, đóng cửa bỏ hoang chẳng biết đến bao giờ. Tôi sững sờ nhận ra, một quãng đời hằn dấu ấn của mình vừa chấm dứt. Sao G. bỏ thế gian này, bỏ những bức tranh vô hình vô thể toang bao nhát màu làm khủng hoảng hồn tôi. Còn tóc dài đang ở nơi đâu ? Anh ta có lượm lại được mớ ruột của mình để nhào nặn nó thành một sự sống khác hay chăng? Tại sao họ đã đến đây, đem thứ tình yêu ngoại khổ làm hỗn loạn, phá vỡ cái trật tự bình thường trong tâm hồn tôi, rồi vội vã bỏ đi.

***

....Chắc M. nghĩ tôi đã chết ở một bờ bụi nào rồi, nếu không cũng nằm trong một viện tâm thần đâu đó. Chẳng thể nào kể hết cho M. những gì tôi đã sống, đã làm trong quãng thời gian qua.

Những ngày tháng đầu, tôi tự hiểu phải rũ tất cả ra đi. Ði khắp nơi như hồi tôi ở trong ngoại giao nhưng không cùng mục đích và công việc. Tôi tìm đến nơi tụ tập của những kẻ như tôi, như G. Một xã hội nhỏ nhoi trong cái xã hội mênh mông của loài người. Vì chỉ ở nơi ấy, tôi mới tìm ra cho mình câu trả lời về những ngày tháng cuối cùng của G. Ngày nào chưa hiểu nguyên nhân nỗi đau mà trước nó tôi đã bó tay, chẳng làm được gì cho G., thì tôi không thể tiếp tục sống bình yên. Tôi nghĩ mình đã tìm ra M. ạ. Ðơn giản thôi, chỉ do một thái độ chấp nhận hay không. Tôi chấp nhận con người tôi, nên tôi yêu cuộc đời này. G. thì bị dằng co, mặc cảm. Nhất là từ ngày trở về vùng biển tuổi thơ ấy. Có lần chúng tôi đi qua ngôi nhà xưa của G. nay thuộc về chủ khác. Cha mẹ G. đã dọn về L. sau khi G. bỏ nhà đi. Tôi cao hứng nhìn vào khu vườn im vắng giữa nắng trưa, hỏi han G. đôi điều về quá khứ. Nhưng G. cáu kỉnh giục tôi lăn bánh. Tôi đã vô tâm, chẳng nhận ra kịp thời những chối từ vướng vất, dằn vặt, thêm thái độ sống bông lông đùa cợt của tôi chẳng đem lại chia sẻ nào cho G. cả.

Tôi lang thang đó đây, thay đổi cảnh, thay đổi người tình để lắng dịu những ngọn lửa bừng bừng mà tôi đã bắt buộc ủ đi từ ngày G. chẳng tha thiết gì với cuộc sống chung. Tất cả mọi điều phải có cái thời của nó, và cũng chỉ có một thời mà thôi. Muốn rút ngắn con đường cũng không được nào. Muốn đổi thay, làm một cuộc cách mạng cũng phải chờ cái thời này đi qua, thời kia mới đến.

Tấm thiệp kèm đây, M. đủ hiểu tôi đang ở xa thành phố M, nơi G. say ngủ, cả ngàn vạn dặm. Nhưng tôi đã ra khỏi buổi chiều vào bệnh viện thăm M. Chẳng phải tôi đang sung sướng, chỉ là một sự bình lặng của mặt nước hồ sau cơn giông. M. sẽ ngạc nhiên nếu biết tôi đang sống chung với Lise trong cùng một căn nhà. Trên con đường tìm kiếm, tôi đã gặp lại Lise, nàng cũng lang thang mất hướng. Cô bạn Lise đã thay người tình khác. Riêng tôi, sau những trận tình vội vã từ các hộp đêm, những buổi tiệc xô bồ, tôi bắt đầu mỏi mệt. Tôi cần một người bạn cuối ngày, một tâm hồn nhạy cảm, như Lise. Có đôi lần tôi nghĩ, chả lẽ mình chẳng thể xúc động trước một người đàn bà đẹp như Lise? Chúng tôi đã trao nhau một lần thử nghiệm. Kết quả không là thiên đường, nhưng một giao hòa yên thắm.

Lise đã trải qua một thời làm vợ bị tên chồng hành xác. Nàng đi tìm một người nữ biết dịu dàng với thể xác nàng hơn. Cùng một phái, hiểu tận tường ngõ ngách cơ thể và cách truyền giao cảm xúc, dễ cùng nhau đi đến vùng trời mà ở đấy con người không còn đau đớn nữa. Tôi và Lise cho nhau chẳng được nhiều. Mọi thứ tự nó có giới hạn. Nhưng chúng tôi nhìn nhau an tâm.. Hiện thời Lise làm việc trong một nhà giữ trẻ. Còn tôi, cả đời chưa từng mó tay vào bếp thì lúc này đang xoay nồi xoay chảo, linh tinh kiểu bánh này món thịt nọ.

M. hiểu rồi phải không. Chúng tôi sẽ về, mở lại chiếc vali. Làm sao đóng nó một đời trong ẩm ướt của những cơn mưa và hơi biển mặn. Nhất là, tôi đã đem về ấp ủ trong đó tất cả những tấm tranh mà M. vẫn bảo cuồng điên, trước lúc ra đi...
127

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2005

Bản Tuyên Ngôn Của Tôi Về Sự Tự Tin



Trích trong "Chicken Soup for the Soul"

Bài văn sau đây là của một cô bé 15 tuổi viết để trả lời câu hỏi, "Tôi phải làm thế nào để chuẩn bị cho một đời sống đầy đủ?"

Tôi là tôi.

Trên cả thế giới, không ai hoàn toàn giống như tôi. Có những người giống tôi một phần nào đó nhưng không một ai có thể chính xác giống như tôi được. Vì thế, mọi thứ đến từ tôi là của tôi mà thôi tại vì một mình tôi đã chọn nó.

Tôi sở hữu tất cả mọi thứ thuộc về tôi - thân thể, bao gồm mọi thứ mà nó làm; suy nghĩ, bao gồm mọi ý tưởng và ý kiến; đôi mắt, bao gồm mọi hình ảnh nó nhìn thấy; cảm giác của tôi, tất cả mọi thứ - giận dữ, vui vẻ, sự thất vọng, tình yêu thương, nỗi chán ngán, sự phấn chấn; môi miệng tôi và những từ ngữ của nó - lời lịch sự, ngọt ngào và nghiêm khắc, đúng và sai, âm thanh, to và nhỏ; mọi hành động của tôi, cho người khác hay cho chính tôi.

Tôi sở hữu sự mơ mộng, giấc mơ, ước vọng, và sự sợ hãi của tôi.

Tôi sở hữu tất cả sự chiến thắng, và thành công, và sự thất bại và lỗi lầm của tôi.

Bởi vì tôi sở hữu mọi thứ về tôi, tôi trở thành quen biết nhất với chính tôi. Cũng chính vì thế, tôi có thể yêu chính tôi và thân thiết với mọi phần của tôi. Tôi có thể khiến cho những phần của tôi làm việc cho sự tốt đẹp nhất của tôi mà thôi.

Tôi biết có những khía cạnh về chính tôi là một bài toán đố cho riêng tôi, và những khía cạnh khác mà tôi còn không biết. Nhưng khi tôi thân thiết và yêu chính bản thân tôi, tôi có thể can đảm và hy vọng tìm kiếm cách giải bài toán đố hay những cách khác để có thể hiểu thêm về tôi.

Tuy nhiên, tôi nhìn và phát âm, những gì tôi nói và làm, những gì tôi nghĩ và cảm giác được ngay giờ phút này chính là tôi. Đó là nguyên bản của tôi và đại diện cho tôi vào giờ phút đó.

Khi tôi xem xét lại tôi đã nhìn và phát âm, đã nóivà đã làm như thế nào, và tôi đã nghĩ và cảm giác như thế nào, một số phần có thể tỏ ra không thích ứng. Tôi có thể xoá bỏ những phần không thích ứng, và giữ lại những phần thích ứng, và sáng tạo một cái mới cho những phần mà tôi từ bỏ.

Tôi có thể thấy, nghe, cảm nhận, nghĩ, nói, và làm. Tôi có những dụng cụ cần thiết để tồn tại, để gần gũi người khác, để hữu ích, để làm mọi thứ và mọi người trở nên có ý nghĩa và có thứ tự.

Tôi sở hữu tôi và vì thế tôi có thể xây dựng tôi.

Tôi là tôi và như thế thì rất tốt.
180

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2005

Ban Mai Bình Yên



Buổi sáng Kim ngủ dậy muộn. Mấy người anh đang tán lại giấc mơ đêm qua để đánh đề. Kim cười lơ mơ. Các ông anh trí thức hẳn hoi, ông nào cũng ôm từ một cái bằng đại học trở lên. ấy vậy mà còn mê tín.

Thằng cu Ðiệp chạy vào giường lay Kim:

- Cô út! Dậy ba hỏi kìa! Ðêm qua cô út mơ thấy gì? - Ðêm qua cô út mơ thấy cháy nhà - Tiếng anh Minh.

- Tra bảng thử cháy nhà ra con gì? - Tiếng chị Sáu.

- Cháy nhà ra mặt chuột! - Tiếng ai đó Kim không nhận ra.

Tất cả cười ầm.

Kim xuống nhà dưới giúp mẹ dệt nốt chiếc chiếu. Vùng về, cô làm hỏng một mảng lớn. Mẹ mắng Kim đuểnh đoảng. Buồn. Kim bỏ lên nằm đọc sách.

Ðô hẹn sáng nay lên đưa Kim đi Mỹ Sơn. Hơn tám giờ, nắng lên, chắc là Ðô không đến. Kim tặc lưỡi. Ðô bao giờ cũng sai hẹn. Ban đầu Kim còn hờn dỗi, sau quen dần, Kim xem chuyện ấy là bình thường. Có một điều Kim thường sợ thót tim là Ðô hay uống rượu. Ðôi khi Kim phải đi tìm. Kim lo Ðô quá chén, phóng xe xảy ra tai nạn thì nguy. Ðô không biết là Kim luôn lo lắng cho mình.

Chị Sáu thường mắng Kim:

- Bỏ quách nó đi cho rồi. Em không gặp được thằng nào tử tế hơn sao? Ðàn ông gì rượu chè tối ngày. Thỉnh thoảng lại bỏ nhà đi hoang ở cái tuổi chẳng trẻ trung gì.

Anh Minh thì nói không nể nang:

- Hắn có cái gì mà mê hoặc được đứa cực kỳ khó tính như mày. Tao thì chỉ thấy hắn vừa già vừa xấu.

Kim thở dài. Chẳng ai lý giải được tình yêu. Kim hiểu Kim yêu Ðô đau đớn như thế nào. Ðô không hiểu vậy. Kim biết Ðô không yêu mình. Ðô lừa dối Kim. Ðô cặp bộ với Kim và nói với bạn bè anh ta muốn làm cảnh. Kim đã thử bứt mình ra khỏi Ðô. Một lần, hai lần, ba lần.... mười lần và Kim không đủ sức. Ðô thì nghiêm túc một cách chơi chơi. Mà chơi thật. Lúc đầu Kim còn khổ sở. Sau Kim thả lỏng luôn.

Kim nghĩ đến người đàn bà Ðô yêu hơn mười năm nay và rủa thầm: "Ðồ rắn độc!". Kim không biết Ðô còn nô lệ quá khứ đến bao giờ? Ðô hay hát "Em giờ đã hai con rồi đó!" Kim nhức nhối. Hai con rồi. Ðô vẫn chờ bà ta quay về. Vẫn chờ gia đình kia nát bét ra để minh chứng tình yêu và lòng hào hiệp.

Kim nhớ về những ngày bỏ Huế ra đi. Thịnh giờ chắc con bế con bồng! Hồi ấy Kim và Thịnh yêu nhau. Mối tình đầu chẳng để lại cho Kim chút kỷ niệm gì ngay cả nụ hôn. "Mình thế nào ấy!" - Kim tự nhủ thầm . "Mình luôn sống trong trạng thái mê sảng". Mỗi năm đến ngày sinh nhật Kim đi ngồi cà phê một mình. Kim dành riêng nỗi buồn cho mối tình với Thịnh. Ðúng ra là có một lần Kim tổ chức sinh nhật linh đình. ấy là năm Kim và Dũng quen biết nhau. Dũng yêu Kim. Bạn bè ai cũng ủng hộ họ. Kim cũng rất muốn yêu Dũng. "Anh ấy tốt!". Ðêm đêm đi chơi với Dũng về Kim vùi mặt vào trong chăn. Kim viết về Dũng. Kim tưởng tượng ra Dũng bên cạnh và nói với anh những lời yêu thương. Thế nhưng Kim và Dũng tự nhiên bật ra, chẳng đến đâu hết. Lý do một phần từ sự xuất hiện của Ðô. Khi gặp lại Dũng, Kim day dứt. Nhiều lần cô mạo hiểm đến ngôi nhà trọ của anh. Kim đứng rất lâu dưới chân cầu thang. Bên khung cửa sổ Dũng cắm cúi vẽ đồ án. Kim biết chỉ ngước lên là Dũng sẽ thấy cô. Dũng sẽ chạy ra đón. Mãi mãi trong Dũng, Kim là một tiên nữ mù loà.

Ðô viết cho Kim những dòng thư đầy ắp yêu thương. Ðọc nhật ký Ðô, Kim biết rằng những dòng ấy Ðô từng viết cho người yêu cũ. Từ ngày chị ta lấy chồng, Ðô không gởi những dòng ấy đi. Ðô sợ anh chồng đọc được những bức thư sẽ đánh vợ.

Sao Dũng không viết gì cho mình nhỉ? Kim tự hỏi. Rồi Dũng sẽ yêu người con gái khác. Cầu cho anh được hạnh phúc. Bao giờ với Dũng, Kim cũng thật dịu dàng. Nếu quá khứ hồi sinh, em sẽ yêu anh. Kim mơ màng.
Kim nghe tiếng thằng Ðiệp líu lo:

- Ðêm kia má nằm mơ có ông già cho má con số năm sáu. Ngủ dậy má biểu con đi mua cho má con năm sáu. Hồi đêm xổ số ra con sáu lăm.

- Mày vẽ!

Kim nghe tiếng anh Minh cự thằng Ðiệp.

Lại số đề. Ðêm qua Kim cũng nằm mơ. Giữa giấc ngủ nặng nề của Kim hắn đến. Hắn đưa Kim qua dãy sương mù. "Thần chết"! Kim sợ hãi. Kim đã từng tự tử. Chuyện này xảy ra đã mười năm. Lúc nào Kim cũng thèm chết. Trong mơ Kim lại thấy sợ vị thần nắm quyền sinh tử của con người. Kim đợi phép mầu đến với cô. Sự bất tử chỉ dành cho thiểu số có những quyền năng tối thượng. Thấu đáo tất cả không gian thời gian vô tận, vượt ra ngoài thế giới hữu hạn và tương đối này. Làm sao Kim có thể sống làm nên một việc gì thật kỳ diệu? Thế là Kim khao khát.

Ta không nên nhấm nháp nỗi buồn-muôn-thuở. Kim gọi tình yêu của mình bằng cái tên như vậy. Kim đã trải nghiệm những xót xa, niềm day dứt, thương đau, oan trái, hận sầu, cay đắng, thậm chí thù hận. Cuối cùng Kim thấy mình quá cô đơn. Rồi cô yêu sự cô đơn dù cô chưa biết tận dụng hoàn cảnh ấy để học những điều phi phàm. Quá nhiều thói quen mài mòn Kim.

Chuỗi ngày dài phiền muộn. Ðiệp khúc vấn nạn vang lên trong cả giấc ngủ. "Ði về đâu?". Kim bực bối: Tình yêu, học vấn, giáo điều , tiền bạc... như xiềng xích. Khi Kim mơ thần chết đưa Kim đến dòng sông. Bên kia là vườn Uyển lạc, lẽ ra Kim được nghỉ ngơi ở đó. Kim biết chốn ấy là nơi dành cho những người suốt đời làm điều thiện. Kim từng phạm nhiều sai lầm, nghiêm trọng và không nghiêm trọng. Có ý và vô ý. Kim đem lại đau khổ cho người và vật. Có sinh linh chết oan vì Kim. Vậy là Kim không được giải thoát hoàn toàn. Kim sám hối.

Kim lại mơ thấy địa ngục như thể cô thoát ra từ chốn ấy. Thần chết đã nói với Kim là cô không đáng bị giam cầm trong đó. Linh hồn và thể xác Kim cũng chưa quá hư hoại để tạo hoá phi công tạo tác lần nữa, điều cần thiết là trả Kim về trần gian, sống nốt kiếp con người. "Muốn liễu thoát sinh tử thì đừng bao giờ làm điều ác nữa". "Hãy sống với tính bản thiện!". Ðấy là những điều cuối cùng thần chết dặn. Kim thoát vòng luân hồi. Kim khỏi phải đầu thai kiếp sống mới.

"Tất cả như thật ấy! Hay là đêm qua mình kinh nghiệm sự chết. Dám lắm chứ". Kim trăn trở. Kinh Phật bảo con người ta có thể chết khi đang cố sống và ngược lại. Ba thì bảo: "Sống chết như trở bàn tay".

Kim bắt đầu hình dung về đôi mắt bí ẩn, nhiều năm nay đôi mắt ấy dõi theo Kim. Ban đầu cô không để ý. Rồi cô thấy nó ở mọi nơi mọi lúc. Cô giam mình trong phòng kín để sống riêng với đôi mắt ấy, cô soi bóng vào đôi mắt và thấy mình từ chân tơ đến kẽ tóc. Rất nhiều khi đôi mắt chiếu vào Kim tia sáng lạnh lùng nghiêm khắc. Nhất là khi Kim làm những việc Kim không thích mà cô cũng cứ làm. Còn thì cô luôn thấy đôi mắt nhìn cô bao dung từ ái.

Sáng nay Kim ôn lại toàn bộ giấc mơ với những băn khoăn. Kim lại thấy đôi mắt. Cô mỉm cười viết:

"Mắt người tình năm xưa.
Hằng đêm về xua tan cơn ám muội
Hằng đêm ta thầ
m hôn mắt sao trời..."

Cô nghe những giai điệu vang ngân giữa không gian bao la. Bầu trời xanh trong, gió lồng lộng. Những khúc nhạc huyền hoặc rót vào tai Kim. Ðô đến đưa Kim đi Mỹ Sơn cùng. Anh ta nhìn cô và buông một câu:

- Hôm nay trông em thật lạ lùng!

Kim không biết Ðô khen hay chê mình. Cô thấy mình lạnh nhạt với Ðô hẳn, Kim chìm trong những hợp âm từ cây đàn vô hình. Kim biết giữa đôi mắt và tiếng nhạc kia có sự đồng nhất với nhau.

Ðô lái xe đưa Kim qua những vùng quê quen thuộc. Anh ta đang công tác tại một phòng văn hoá. Sáng nay anh ta đưa Kim đi khảo sát để viết bài về những di sản văn hoá Chămpa ở miền Trung.

Kim quan sát quê hương. Những kỷ niệm thời thơ ấu ùa về. Kim nghe tiếng gọi của một nhân vật trong vở kịch từng để ấn tượng sâu sắc nhất suốt tuổi thơ cô:

"Thời gian ơi! Thời gian ơi! Thời gian ơi!".

Ðó là tiếng gọi của Thiên YA - Na, trong vở kịch "Tình sử thiên YA - NA". Người này đã từng là thần tượng thời thơ ấu của Kim.

- Thời gian ơi! - Kim hét vang.

Ðô dừng xe lại:

- Em làm sao vậy?

Kim im lặng.

Ðô đạp máy và buông một câu cục cằn: "Ðồ khùng!". Xe đến nhà thờ Trà Kiệu. Ðô muốn ghé. Kim cản. Ðô thôi. Kim lẩm bẩm:

- Có thể tiền kiếp ta đã sống buổi hoàng kim của kinh đô sư tử.

- Có thể! - Ðô phụ hoạ.

- Lúc này đây em đinh ninh mình là hậu thân của công chúa Chămpa. Em từng gặp Thiên YA - NA thánh mẫu, Người tạo dựng nên vương quốc Chămpa.

- Còn anh là thần vương Bhađresvana. Gốc rễ của vương quyền.

Ðô cũng sôi nổi góp chuyện.

- Không ngờ chúng ta tha hoá đến mức này - Kim vui vẻ - Có khi kiếp sau chúng ta thành khỉ.

- Coi chừng thành thật đấy cô bé, ai mà biết được xưa kia mình không từng đùa cợt kiếp sau mình làm lũ vô tích sự - Ðô trầm ngâm.

Xe vào Thánh địa Mỹ Sơn. Từ ngàn xưa nơi đây là địa điểm hành hương thiêng liêng của hàng chục triều đại và hàng triệu con người. Mỹ Sơn là nơi thờ phụng vị thần vua Bhađresvana. Tín ngưỡng chính của vương triều Chămpa là thờ tự thần - vua và các thần linh bảo hộ vương quốc cũng như vương quyền. Dân tộc Chămpa đã mất tên trên bản đồ thế giới, giờ đây chỉ còn rơi rớt lại các di tích mà Mỹ Sơn là điển hình.

Ðối diện với sự thịnh suy của Lịch sử. Mỗi nỗi trắc ẩn bóp chặt Kim. Cô đau thắt. Cô định nói một điều gì đó với Ðô thì bất chợt đôi mắt bí ẩn hiện ra cắt ngang.

- Em giống như một người ngoại tình vậy! - Ðô nhìn Kim ngờ vực. Kim ngắm đôi mắt ở vị trí trực diện nhất. Ðô thấy Kim không phản ứng gì trước câu nói của mình. Ðô bực tức, anh ta chọc cho Kim ghen:

- Anh nhớ Phượng ghê!

Kim im lặng. Phượng là tên người đàn bà tình địch. Ðô cười khẩy:

Em say đắm một thằng cha nào rồi phải không?

- Ðể tôi yên - Kim chau mày - Anh cứ đến chỗ người đàn bà kia mà ăn mày tình yêu....

Kim định nói thêm nhưng trong giây lát Kim dường như thấy đôi mắt kia ngoảnh đi hướng khác. Kim hoảng hốt. Cô suýt khóc. Ðô tưởng Kim buồn mình nên kéo cô vào lòng hôn khẽ. Kim lắc đầu. Tại sao Kim không nhận ra đôi mắt ấy sớm hơn nhỉ. Nó là hào quang của Thiên YA - NA. Toàn thân Kim chấn động khi khám phá ra điều ấy.

- Em không còn yêu anh nữa phải không? - Ðô hỏi Kim.

- Anh đủ nhạy cảm để nhận ra điều đó - Kim đáp.

- Ðừng bảo anh dọa- Ðô nóng nẩy - Anh sẽ giết chết em và giết cả thằng cha kia, em đợi đấy.

Kim thấy Ðô thật thảm hại. Anh ta đã mất cô thật sự. Khi anh ta nhận ra anh ta yêu Kim thì quá muộn rồi. Kim không thể tôn thờ Ðô. Kim tôn thờ con người bất tử ấy: Kim tin vào sự thần kỳ cảm ứng. Kim tin Thiên YA - NA sẽ tái sinh và Người đang ở đâu đó. Kim đi tìm người.
175