This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2009

Bà Bắc



Ở cái xóm ngã Bảy này, ít ai biết tên thật của bà và người ta thường chỉ gọi bà là "bà Bắc". Có lẽ người ta gọi tên bà như thế do bởi bà là người Bắc chính cống, với hàm răng đen, hơi vẩu và độc đáo với cái giọng chửi tục tuy thô lỗ nhưng đôi khi lại được kết vè, văn vẻ.
Khi mới tới xóm này, bà vui vẻ với mọi người, biết kính trên nhừơng dưới. Ra đừơng gặp người cao tuổi, bà chào hỏi thân tình và kết thân với nhiều người hàng xóm. Thế mà từ ngày làm ăn khấm khá, con cái đỗ đạt, bà coi thế giới này chỉ còn là một cái vuông chiếu nhỏ hẹp dưới con mắt bà. Thậm chí ngay như chồng bà cũng biến thành kẻ "chỉ đâu ngồi đó", trước lệnh của bà. Có một lần, ông chồng bà đang ngồi đánh chắn với những người khác thì bị bà tìm tới, la hét, mắng chửi rồi ôm chồm, bó gói ông mà quẳng ông ra đường. Cả xóm tới xem và khoái trí pha trò.
Chắn, một loại bài giống như tổ tôm, nhưng dễ chơi hơn nhiều. Bộ bài có 120 quân và thường phải có 5 người mới đủ bộ. Khi bài đã đủ 6 chắn thì thắng và ngườ ta gọi là "ù". Có nhiều loại ù khác nhau: Ù suông: chỉ cần 6 chắn là đù; Ù tôm: Khi ù, trên bài phải có 3 quân, tam sách, tam vạn, thất văn; Ù lèo: trên bài phải có 3 quân chi chi, cửu vạn, bát sách; Ù bạch định: Khi ù thì trên bài phải toàn là quân trắng; ù thập điều: khi ù, trên bài phải có chẵn 10 quân đỏ; ù thập điều lèo: Trên bài phải có 10 quân đỏ, trong đó phải có 3 quân cửu vạn, bát sách, chi chi.......
Ông Bắc rất hiền lành và nhút nhát trước vợ nên người ta gọi tên bà làm sao thì đặt tên cho ông theo chế độ mẫu hệ như thế. Không hiểu trứơc đây ra sao chứ bây giờ ông Bắc hiền qúa sức. Thậm chí có người bảo: "Ông ta hiền như chó thiến". Người ta rất ít khi thấy ông Bắc ra đừơng ngoài những khi bị vợ sai vật, phải đi đây đi đó. Hễ ông đang đứng trò chuyện với ai mà nghe giọng hắng của bà, hoặc thấy bóng dáng bà là ông cụp vòi đi thẳng.
Ấy vậy mà hàng xóm cứ nghe giọng bà Bắc tru tréo ông hoài. Nào là:"Dù sao thì mình cũng là bố của dược sĩ, bác sĩ mà sao ông lại cứ đi lại với nhãi ranh hoài!", nào là: "Nồi nào vung ấy! Ông phải biết danh gía mình mà lựa bạn chứ!".
"Nồi nào vung ấy" là câu mà bà Bắc thường ngỏ ra với những người muốn môi giới tình duyên cho cô con gái dược sĩ của bà. Hễ đám nào bà thấy không cân xứng thì thế nào câu cuối cùng của bà cũng: "Nồi nào vung ấy".
Bà chánh Tốn là chỗ khá quen biết với bà Bắc, thấy có cậu Tân là cháu của chồng mới học xong cán sự Phú Thọ, bà bèn nhanh nhẩu tới nhà bà Bắc ngỏ lời mai mối. Sau hồi chuyện vãn dông dài, bà chánh Tốn vào đề:
- Chẳng nói dấu gì bác, hôm nay em đến đây có mục đích là muốn ướm cô Trúc cho thằng cháu Tân.
- Ơ mà cậu Tân nào nhỉ? – Bà Bắc hỏi.
- Thưa bà! Thằng cháu Tân con nhà chú Tớm nhà tôi đấy!
- Ồ mà cậu ấy còn đang đi học mà?
- Dạ cháu nó mới vừa thi đỗ ra trường.
- Mà trường đại học nào vậy?
- Thưa bà trường cán sự Phú Thọ.
- Phú Thọ à? Cái trường mà người ta gọi nôm na là "kỹ sư thợ" có phải như thế không?
- Dạ thưa là cán sự Phú Thọ chứ ạ!
- Thì sự mới siếc gì! Học ở đó ra thì chỉ cao hơn mức thợ một tí.
Vừa nghe tới đây, bà chánh bỗng sa sầm nét mặt rầu buồn, còn bà Bắc thì nhâng nháo, vừa đưa tay quét vết trầu dính loe trên miệng, vừa nói tiếp:
- Thôi thì tôi chẳng nói dấu gì bà. Cháu Trúc đã có nhiều nơi ướm hỏi, toàn là bác sĩ, kỹ sư không à! Tôi cũng chưa biết chọn đám nào. Dù sao cũng phải "nồi nào vung ấy" cho xứng. Dược sĩ mà lại đi lấy anh thợ thì coi sao cho được.
Bà Bắc vừa nói xong, liền nhổm dậy, khiến bà chánh Tốn củng phải nhổm theo.
- Thế thì em xin phép bác bỏ qua, coi như em không đến đây để bàn chuyện này. Thôi em xin phép bác em về ạ!
Bà Bắc vừa vuốt vết trầu dính trên miệng, vừa nói:
- Thôi thì bỏ qua chuyện ấy, mình ở đây nói tiếp sang chuyện khác.
Mặc dầu bà Bắc nói thế nhưng bà chánh một mực kiếu từ ra về vì bả cảm thấy bị bà Bắc khinh rẻ qúa đáng. Vừa đi, bà vừa thầm thì :"Lại nhiều mối tối nằm không", "gìa kén, kẹn hom"..

Gia đình bà chánh Tốn trước đây rất khá gỉa, ông Tốn từng làm chánh tổng Phủ Lỗ, huyện Gia Lâm. Một huyện rất lớn và có nhiều làng nghề truyền thống. Ông chánh Tốn từng uy danh một cõi, trong khi gia đình bà Bắc thì nghèo khó và ông Bắc chỉ là một tên lính bảo an. Khi di cư vào nam thì làng của ông chánh Tốn và gia đình bà Bắc đã phải phiêu bạt và tản mác nhiều nơi. Người thì ở Tây Ninh, kẻ ở Cái Sắn, gia đình ông Chánh và bà Bắc thì ở Sài Gòn. Tuy không cùng một khu phố nhưng vì là người làng nên thỉnh thoảng họ tìm tới thăm nhau. Thuở ban đầu khi mới di cư vào nam thì ông bà Bắc hay tìm đến thăm gia đình ông chánh Tốn nhưng từ khi làm ăn khấm khá và con cái đỗ đạt thì ông bà Bắc hình như cắt đứt mọi quan hệ với dân làng. Thậm chí ông bà muốn cạo rửa tất cả những dính bám của làng cũ nơi mình. Ngay những ngày hội làng vào dịp kính lễ quan thày thánh Phê rô, bổn mạng của dân làng, được tổ chưa hằng năm vào cuối tuần lễ, cuối tháng sáu tại một xứ đạo đông dân làng cư ngụ ở Thủ Đức thì ông bà cũng kiếm cách kiếu từ.
Dân làng Hậu chọn thánh Phê Rô làm quan thày, làm bổn mạng cho dân làng vì khi theo đạo, cụ tiên chỉ của làng đề nghị rằng chúng ta sinh sống bằng nghề chài lưới nên chọn thánh Phê Rô là đúng nhất vì thánh Phê Rô xưa kia cũng là một ông thuyền chài, sống về nghề đánh cá. Khi nghe theo tiếng gọi của Chúa, ông Phê Rô đã quẳng chài, bỏ thuyền mà chạy theo. Thấy có lý, cả làng Hậu theo lời cụ tiên chỉ chọn thánh Phê Rô làm quan thày từ đấy.
Nhà bà Bắc rất sùng đạo, ít nhất là vẻ bề ngoài. Tối nào nhà bà cũng đọc kinh rất to, rất dài. Song song với tiếng kinh, lời hát, thỉnh thoảng hàng xóm, người qua đường lại nghe tiếng bà quát tháo. Khi thì quát tháo con, khi thì chồng, thậm chí có lúc cả con chó, con mèo hàng xóm lờn vởn trứơc cửa nhà bà. Bà đọc kinh như một cái máy thu âm sẵn được mở to ra.
Đạo đức vậy chứ hễ có ai lỡ đụng chạm tới bà thì cái miệng bà quác ra không thua cái gàu dai. Bà chửi ai là chửi có văn vẻ, sách vở đàng hoàng. Những lời bà chửi giống như những câu vè mà bà học thuộc lòng. Những người hàng xóm người miền nam thì chỉ biết bâu lại nghe để mà rộ cười vì nó mới lạ và khôi hài qúa. Trong khi những người gốc bắc nghe bà chửi thì chỉ biết than lên rằng: "chua qúa! Khiếp qúa!".
Mỗi khi bà chửi ai là bà lôi gốc gác, tông ti, họ hàng bao đời của nạn nhân ra mà chửi. Có một lần, một ông tài xế taxi ngang qua ngõ hẹp nhà bà, xe cộ khó tránh, ông ta chỉ than van một lời: "Cột xây chắn đường qúa!". Thế là từ bên trong nhà chạy ra, bà réo lên:
- Tiên sư bố cái lão tài mạt xác kia! bà có lấy xương, lấy cốt của bố, tổ nhà mày ra xây cột đâu mà mày lại tru tréo lên thế!
Bác tài định xúông xe phân giải phải trái nhưng thấy bà đang "nổi tam bành" ra như thế liền bấm còi inh vang một hồi cho đỡ tức, rồi phóng xe chạy thẳng.
Thật sự thì Trúc cũng đã có một vài nơi tới ngấm nghé nhưng chẳng đâu vào đâu vì hễ có ai đến là bà Bắc ra tiếp khách thay con. Nhìn ai là bà nhìn từ đâu tới chân, không khác gì mấy bà nái lợn. Hình như chẳng mấy ai lọt mắt bà. Cậu thì bà chê không đáng vì bằng cấp thấp, cậu thì bà chê không "môn đăng hộ đối"......Chính vì thế mà tuy ra trường đã hơn mười năm nay, dược sĩ Tâm Trúc vẫn cứ sáng khuya một mình, trong khi các bạn đồng môn, đồng lớp thì đa số đã tay bồng, tay bế, yên phận.
Trúc không xinh đẹp cho lắm, chính vì thế mà cô yên phận học hành. Tuy không đẹp nhưng cô rất hiền lành, bật thiệp khiến cũng có vài chàng trai để ý tới. Khốn nỗi Trúc không có trọn quyền lựa chọn người yêu cho mình mà hoàn toàn lệ thuộc vào bà mẹ. Đã có lần, Trúc nhận lời mời đi chơi cùng Toàn, một người bạn cùng lớp, nay là giáo viên tiểu học cùng phường.
Khi Toàn tới nơi bấm chuông, bà Bắc từ trong hé hẹp cánh cửa hỏi bằng một giọng rất ư là một mệnh phụ đài trang:
- Ai đó?
- Dạ thưa bác con là Toàn, bạn của Trúc ạ?
- Bạn của Trúc à? Thế mà sao tôi không biết nhỉ?
- Thưa bác chúng con từng học cùng trường, cùng lớp ạ!
- Thôi được vào đi!
Mặc dầu đã nghe tiếng nhưng lần đầu tiên nghe giọng khách sáo, kiêu kỳ và cái cung cách hết sức là thô lỗ của bà Bắc, khiến Toàn cảm thấy nhột nhạt, mất tự nhiên.
Trúc trong phòng nhìn Toàn có vẻ vụng về, khép nép, cô muốn nhảy bổ ra trấn an nhưng lại sợ mẹ không dám.
Toàn chưa kịp ngồi, bà Bắc đã mở lời hỏi:
- Thế cậu học ngành nào và ra trường lâu chưa?
- Thưa bác con học sư phạm.
- Ô nghề sư phạm thì cũng qúy, nhưng cậu dạy ở đâu?
- Dạ thưa con dạy trừơng phường ạ!
- Tốt nghiệp sư phạm mà lại dạy trừơng phường à? hay là........
Bà Bắc tính vào trong lấy nước mời khách thì Toàn trả lời ngay:
- Dạ thưa bác con tốt nghiệp sư phạm tiểu học à!
Nghe thế, bà Bắc qua phắt ra, bỏ ý định lấy nước đãi khách. Bà lại nhìn Toàn từ đầu xuống chân, rồi lại từ chân lên đầu. bà thầm thì: "cái đầu có hói nhưng là hói bệnh chứ không hói trí thức". Rồi bà nói thẳng vào mặt khách:
- Thật không may cho cậu! Con Trúc nhà tôi hôm nay lại phải đi trực bất ngờ. Sở mới gọi đến là cháu nó phải đi ngay. Thôi có gì xin cậu nhắn lại, cháu về tôi sẽ nói lại cháu.
Nghe đến đây, Trúc cảm thấy thân thể mình như mất quân bình, trọng lượng. Cô lả ra trên chiếc trường kỷ và mồ hôi trên thân thể cô chảy ra nhễ nhoại. Cô vịn vào thành trường kỷ, ôm chiếc gối đầu bằng gỗ của bố cô thút thít.
Toàn thì căm giận tới tột cùng vì cái hành động hống hách, chua ngoa và kẻ cả của bà Bắc. Toàn không nghĩ là Trúc đã thất hẹn như thế mà đoan chắc là bà Bắc đã diễn trò gỉa dối như vậy. Tuy tình yêu chưa tới tột đỉnh của yêu đương nhưng cả hai đã thư từ qua lại nhiều lần. Tuy dù chưa hẹn biển thề non nhưng cả hai đã nhiều lần nhớ nhung, thương nhớ và đã cùng nhau dạo bước bến yêu.
Tự ái, phần căm giận về thái độ giả dối, hống hách của bà Bắc. Toàn quay mặt bước đi, chỉ gửi lại lời chào qua loa, trống vắng.
Tiếng xe Honda của Toàn xa gần, thay vào đó là tiếng la thống thiết và gào thét của Trúc. Bà Bắc tuy hống hách, dữ tợn nhưng lại rất thương con. Bà thấy nước mắt, nước rãi của con đầm đìa và da mặt của con xanh mét. Bà chạy lung tung, lùng xục các ngăn kéo để tìm dầu cạo gío cho con. Trúc phất tay ngăn mẹ và cô như muốn lịm đi vì mất hồn, kiệt sức.
Bà Bắc la oái vì lo sợ, bà nhắc điện thoại gọi ông con bác sĩ về gấp. Từ bên kia đầu dây, bác sĩ Văn hỏi mẹ:
- Mà nguyên nhân ra sao, em Trúc lại bị như vậy!
- Mẹ đâu biết gì, tiếp khách vào phòng thì thấy em nó như thế!
- Để con về ngay.
Vừa về đến nhà, Văn chạy thẳng vào phòng em. Thấy anh về, Trúc chồm dậy ôm anh mà than khóc thảm thiết. Cô ú ớ khóc, kể đầu đuôi. Nghe xong, mặt mũi Văn tái xanh, nhợt nhạt rồi anh chạy thẳng ra phòng khách vừa qùy xúông, vừa lạy mẹ:
- Con van mẹ, xin mẹ để cho chúng con yên. Xin mẹ để cho chúng con sống cho ra người!
- Ơ cái anh này! Đã ăn phải bát, phải đũa của ai mà về đây nói năng như thế!
- Xin mẹ đừng can thiệp qúa nhiều vào cuộc sống của chúng con. Chúng con đã lớn, đã trưởng thành cả rồi!
- Anh này nói hay nhỉ! bây giờ bộ anh là bác sĩ rồi về đây dạy mẹ anh hay sao đây?
Bà vừa nói, vừa quác mỏ gọi chồng:
- Ơi ông Phong ơi là ông Phong! Thằng con ông nó đang đe, dạy tôi đây này! Ông cho chúng nó ăn học cho lắm vào để bây giờ nó lên mặt, chửi cha, mắng mẹ......
Thì ra tên ông Bắc là Phong. Ông Phong nghe vợ gọi, vứt vội cái cưa đang cưa, sửa đầu hồi, chạy ngay về phía vợ.
- Bà gọi gì tôi thế?
- Ông có nghe thằng con ông nó đang mắng, chửi tôi kìa?
- Con mình nào dám hỗn như thế?
- Ối giời ới đúng là cá mè một lứa. Chồng ngu mới đẻ con hư. Cha nào con ấy, rõ khổ thân tôi!
Thế là bà Bắc khóc rống lên ăn vạ. Văn và ông Phong vụt chạy đến lạy, van, săn sóc bà. Được thể, bà mắng bảo:
- Chúng mày cứ để tao chết đi! Ham gì mà sống!
- Con lạy mẹ! Xin mẹ hiểu thấu cho lòng chúng con! – Toàn van mẹ như thế.
Trúc thì gượng đứng dậy, cô định ra van, xin mẹ nhưng lại nhớ lại những hình ảnh lúc nãy, cô lại cảm thấy choáng váng, dựa lưng trường kỷ. Ông Phong thì dùng hết sức đễ nâng đỡ vợ dậy và dìu bà vào phòng trong.
Những tiếng la đã im bật, bà Bắc cảm thấy đau xót, chua chát cõi lòng. Bà cảm thấy bà đã hơi qúa đáng khi đối xử với chồng, con như vậy. Bà thoáng hối hận và suy nghĩ vu vơ. Bà bắt đầu rầu buồn khi tính ra thì Văn năm nay đã ngoài 40 và Trúc thì đã tuổi đời 3 con giáp. Vậy mà cả hai vẫn sống đời độc thân. Văn con trai thì không qúa lo nhưng Trúc thì đời con gái chỉ có thời. Thời qua đi thì hết đời. Bà cứ suy nghĩ vẩn vơ rồi bật khóc.
Bà cảm thấy hối hận khi chỉ cho con ăn học mà không cho con trưởng thành, độc lập vào đời. Thậm chí dù con cái đã khôn lớn, đỗ đạt nhưng tất cả mọi việc lớn, nhỏ trong gia đình bà đều độc quyền lo lắng. Ngay cả những đồ lót của cả hai con, bà cũng dành quyền mua sắm. Cũng có lúc bà cảm thấy đời sống con bà không giống ai nhưng cái bản tính kiêu căng, tự phụ đã khiến bà cách, ngăn với người ta, với xã hội bên ngoài như thế.
Bà lần lượt nghĩ lại những nơi đã đến cầu duyên con bà. Bây giờ bà suy lại và tỉnh táo thấy rằng có nhiều nơi rất xứng đáng nhưng chỉ vì kiêu căng, tự phụ mà đâm ra "sôi hỏng, bỏng không", giờ thì những đám đó đâu đã vào đấy, yên bề gia thất.
Bà nghĩ lại Toàn rồi bà thầm thì: "Cậu ấy được chứ! nết na, đạo hạnh". Bà biết Toàn từ ngày cậu ta còn bé, chung trường, chung lớp với con bà. Toàn học giỏi nhưng gia đình nghèo nên phải bỏ dở học hành để vào sư phạm. Nghĩ đến đây, tự nhiên bà ứa nứơc mắt thương con.
Tai bà vẫn nghe tiếng thút thít, hờn oan từ phòng Trúc phát ra. Lòng bà cay đắng đến tận cùng, bà cũng nức nở theo con. Bà định vào phòng con an ủi nhưng bà vẫn không dằn được cái cõi lòng hống hách tự đắc nên quay ra gọi chồng:
- Ông Phong ơi! Vào đây tôi bảo!
Biết vợ còn đang trong cơn hung hãn tận cùng, ông Phong bỏ dở công việc chạy ngay vào phía vợ
- Bà gọi gì tôi?
- Ông phải vào trong coi con trúc làm sao chứ?

Tiếng máy xe Honda quen thuộc nổ xa ngoài ngõ. Bà Bắc nghe giống giống như tiếng xe lúc nãy của cậu Toàn. Bà đoan chắc cậu ấy sẽ trở lại. Bà chạy tuột vô phòng con bà, vực Trúc dậy:
- Dậy đi con, cậu Toàn trở lại kia kìa!
- Trở lại để làm gì? Thôi mẹ để con yên!
- Dậy mà rửa mặt, sửa soạn đi con. Cậu ấy sắp tới kìa.
Tiếng xe mỗi lúc một gần hơn, lòng bà Bắc hớn hở vui mừng. Bà vừa chạy vào trong lấy khăn lau mặt cho con, vừa thầm nghĩ những câu ngọt ngào tiếp khách.
Trúc thì uất nghẹn và thổn thức mạnh hơn. Cô biết rõ không bào giờ Toàn trở lại, sau khi bị mẹ cô xỉ vả nặng lời như thế. Trong khi bà Bắc cứ qúat nháo lên: "Dậy đi con! Dậy đi con! Cậu ấy sắp tới kìa!".
Tiếng xe mỗi lúc một gần hơn, bà Bắc hớn hở vui mừng mở toang cửa rồi chạy vội vào trong lấy bình nước nóng để pha trà. Bà thoăn thoắt chạy qua, chạy lại, miệng bà thì cứ lẩm bẩm trong hân hoan, vui mừng: "cậu ấy đang tới kìa!"
Bà Bắc bỗng giật phắt mình trước tiếng thắng kít của chiếc xe Honda. Người lái xe chạy vội vô cửa hỏi to:
- Cô Nguyễn Thị Tâm Trúc có nhà không?
Bà Bắc nhìn ra, lòng bà trùng xuống, bà muốn té nhào vô thành cửa khi nhận ra người ấy không phải là cậu Toàn mà lại là ông lão phát thư, có lớp da khô cằn và đen thui như cột nhà cháy.
Bên trong tiếng thút thít của Trúc mỗi lúc một to, mạnh hơn, mang một nỗi sầu buồn, ảo não.
148

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2009

Trở Về



Bầu trời một thị trấn vùng cao nguyên sau cơn mưa đã mát dịu hẳn lại, trời trong xanh và ánh nắng chan hòa, thỉnh thoảng có vài cụm mây lãng đãng trôi ngang thị trấn và được những làn gío nhẹ đưa về cuối trời xa.
Chiếc xe đò liên tỉnh từ từ vào bến và đậu lại, trên xe mọi người đều nhốn nháo, người thì gọi nhau, kẻ thu dọn đồ đạc để mau chóng xuống xe, dưới đường cũng nhốn nháo không kém, tiếng mời chào cộng vào những âm thanh của đủ mọi tiếng động làm bến xe thêm huyên náo, duy chỉ trong một góc xe trên băng trước một người đàn ông trung niên vẫn bình thản ngồi đó nhìn khung cảnh náo nhiệt chung quanh mình bằng cặp mắt lơ đãng, nhìn vào đôi mắt ấy khiến người đối diện không hiểu ông đang nghĩ gì .- Đợi cho mọi người xuống hết và những tiếng ồn ào bớt hẳn đi, ông mới từ từ đứng dậy xách túi hành lý của mình rồi thong thả xuống xe, có vài tiếng chào của những người lái xe ôm nhưng ông chỉ mỉm cười cảm ơn rồi xách túi hành lý rảo bước ra khỏi cổng bến xe.
*
* *
Trên con đường sau cơn mưa vẫn còn những vũng nước mưa đọng lại, ông thong thả tránh và bước dọc theo con đường . Bao nhiêu năm rồi ông mới trở lại thị trấn này, thời gian trôi qua ông không còn nhớ nữa, quang cảnh cũng dã có nhiều đổi thay, thị trấn đổi thay và trong con người ông cũng có những sự đổi thay, ông vẫn bước đi với những bước chân thong thả, khi đi ngang qua một tủ bán thuốc lá chợt ông dừng lại; cô bé bán thuốc tuổi độ 12, 13 nhìn ông và vui vẻ mời chào :
- chào chú, chú cần gì ???
- cho tôi một gói thuốc 555, ông chậm rãi trả lời
Giọng cô bé còn trẻ con vội cất lên :
- chú ơi! tủ thuốc của cháu nhỏ quá không đủ một gói cho chú đâu!!! chú đợi cháu một lát cháu chạy sang bên kia lấy thêm nhé ...
Ông mỉm cười gật đầu và cô bé vội vàng chạy đi chỉ trong thoáng chốc đã quay về cùng với gói thuốc trên tay
- thưa chú đây
- bao nhiêu vậy cháu ???
- thưa chú 18.500 dồng ạ
Ông móc bóp rút ra 2 tời giấy 10.000 đồng trao cho cô bé và giọng ông trầm xuống
- cháu cứ cầm lấy hết khỏi thối lại
Cô bé cầm tiền vội ngước mắt nhìn ông
- chú !!!!
- cháu cầm ăn qùa, chú tặng cháu đấy
- cháu cảm ơn chú; tiếng cô bé run run
- à cháu nè, đường nào dẫn về đường này vây cháu ???
- ủa không phải chú ở thị trấn này sao ???
- ngày xưa chú có ở đây, nhưng lâu quá rồi, chú quên mất nhiều rồi cháu ạ
Cô bé cầm lấy mảnh giấy đọc lướt qua và giọng liếng thoắng chì
- chú đi hết con đường này qua ba cái ngã tư rồi quẹo phải là đến
- cảm ơn cháu
Ông xách túi hành lý lên lại thong thả bước đi, được vài bước bỗng nghe tiếng cô bé bán thuốc vọng ở sau lưng :
- chú ơi! sao chú không kêu xe đi cho nhanh ???
Ông dừng lại và quay đầu nhìn lại nhưng không nói gì chỉ mỉm cười và đưa tay lên vẫy như chào tạm biệt cô bé rồi tiếp tục rảo bước
*
* *
Ngang qua căn nhà bây giờ đã có nhiều thay đổi, bây giờ nó đã được mở thành một cửa hàng cho thuê internet, ông không dừng lại mà vẫn thong thả bước đi về cuối con đường rồi ghé vào một phòng trọ thuê một phòng ngủ, bỏ lại hành lý, khóa cửa xong ông lại lang thang trên những con đường của thị trấn cho đến đêm xuống thật khuya ông mới trở về phòng trọ
*
* *
7 giờ sáng trong một quán cà phê, bây giờ rất huyên náo tấp nập kẻ ra người vào, trong một góc nhỏ, người đàn ông bên ly cà phê đen, trên môi điếu thuốc tỏa khói, ông dõi mắt trông qua đường nhìn vào cửa hàng trước mặt ; Khoảng một tiếng sau hai cánh cửa được hé mở và một cô gái xuất hiện, đợi cho cô gái chuẩn bị xong, ông mới lững thững đi qua đường và bước vào cửa hàng, cô gái đang ngồi bên quầy tính tiền vội ngước lên nhìn ông
- thưa ông cần gì ???
- tôi có thể mướn một computer có internet được không ?
- dạ được, tiếng cô gái thật trong và thật hiền
- bao nhiêu một giờ ? ông vẫn chậm rãi hỏi
- thưa 4.000 đồng một giờ ông ạ
- cô cho tôi mướn 10 giờ, vừa nói ông vừa đưa cho cô gái bốn tờ giấy 10.000 đồng
- tôi có thể ngồi ở đâu ??
- thưa ông là khách đầu tiên, ông có quyền chọn lựa chỗ nào ông thích, thưa ông
Tiếng nói của cô gái vẫn vang lên, ông chỉ cúi đầu nói hai tiếng cảm ơn rồi đi đến một bàn máy trong một góc nhưng ở đó ông có thể nhìn được tất cả kể cả quầy tính tiền có cô gái đang ngồi - Thời gian trôi qua chầm chậm, cửa hàng bây giờ đã đông khách, cô gái lâu lâu lại rời quầy tính tiền đi tới đi lui, khi đến bên cạnh người đàn ông cô chợt thấy ông vẫn ngồi yên lặng bên máy và không làm gì cả, cô vội lên tiếng :
- thưa ông! máy có gì trục trặc sao ông không gọi ?
Ông ngước đầu nhìn lên hai mắt ông nhìn xoáy vào mặt cô gái và chậm rãi trả lời :
- không, máy không hư, nhưng tôi đang chờ
- ông đang chờ bạn ông ?
- không tôi đang chờ một người thân yêu nhất ...
vừa nói ông vẫn nhìn thẳng vào mặt cô gái và cô gái cũng thế cũng đăm đăm nhìn lại ông và bất chợt cô nhào đến ôm chầm lấy ông, trên mặt cô bây giờ ngập đầy nước mắt hòa trong tiếng nức nở :
- Trời Đại ca!!! anh đã về ...
Ông cũng đứng lên ôm lấy hai bờ vai cô gái
- phải Đại ca đã về ...
- Đại ca về hồi nào ? sao không cho Út hay ? Đại ca đang ở đâu ? Đại ca có khỏe không ? sao Đại ca không về đây liền ?????
Tiếng cô gái vẫn nức nở nhưng trong lời nói toát lên vẻ vui mừng và cô hỏi dồn dập
- từ từ mà Út, em hỏi vậy sao anh trả lời kịp
Bỗng cô gái buông người đàn ông ra và dùng hai tay đập liên hồi vào ngực ông
- Đại ca ác lắm! Đại ca bỏ đi mà không nói một lời
- Thì bây giờ Đại ca đã về rồi đây, giọng ông vẫn trầm buồn như thủa nào
Sau những phút xúc động khi gặp lại người thân, cô gái giờ đây bình tĩnh lại và ngồi xuống bên ông chậm rãi hỏi :
- bây giờ anh ở đâu ?
- anh đang ở nhà trọ cuối con đường này
- sao anh không lại đây ?
- Út hiểu tánh anh mà !!!
- Đại ca vẫn ngang bướng như ngày nào
Ông chỉ lặng thinh mỉm cười
- Bao nhiêu năm rồi Đại ca nhỉ ? từ ngày chị ấy ra đi, rồi Đại ca cũng biệt tăm luôn ....
- Út tưởng Đại ca đã chết ?
Ánh mắt ông vẫn hiền từ nhìn cô gái nhưng trong đó ánh lên một sự tinh nghịch
- Út không nghĩ như vậy đâu, tiếng co gái nũng nịu
- Út đóng cửa tiệm đưa Đại ca đi chơi nhe ?
- không Út, cứ làm việc đi, Đại ca ngồi đây nói chuyện với Út cũng được rồi
*
* *
Ánh nắng trải dài trên nh%E
1117

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2009

Bến Đợi



Nhà máy nơi Tuyền làm việc kề bên một con sông nước lúc nàocũng ngầu đỏ và chảy dốc. Mấy đứa con gái ở tập thể cứ sáng vào catíu tít rồng rắn nhau theo triền đê để đi làm, đi nhiều, lâu dần cỏdạt thành đường, thành rãnh.
Phân xưởng tiện có ba mươi người toàn nữ, chỉ có một mình Sinh là nam, quản đốc kiêm tổ trưởng công đoàn. Là kỹ sư cơ khí mà trông anh như một thầy giáo: nước da trắng trẻo, dáng người cao, mái tóc lúc nào cũng vào nếp. Không hiểu nó tự nhiên hay anh thường chăm chút, mà từng sợi luôn lề lối như tính tình của anh vậy.
Tập thể nữ nhiều cô xinh, đẹp người đẹp nết, sao Sinh chẳng màng ai mà cứ theo đuổi cô gái có má lúm đồng tiền một bên, hàm răng khi cười trắng loá là Tuyền. Tuyền cũng không biết tình cảm của mình nữa. Người như anh thì ưng quá đi rồi. Nhưng khi gần Sinh, Tuyền chẳng thấy gì, không thấy có cái cảm giác mà mấy đứa đã có người yêu kể lại. Từ khi cô còn là công nhân học việc mới ra trường cơ. Sinh chăm chút kèm cặp từng ly từng tí, chỉ bảo cặn kẽ như một người thầy, người anh và những ngày đó Tuyền luôn xem Sinh như vậy. Có lúc Sinh còn bị cô bắt nạt. Nghĩ lại Tuyền thấy mình quá đáng, quá đáng kiểu con gái biết có chút nhan sắc muốn làm khổ người khác một tý và tỏ ra vô tình với những gì mình có được. Cô lý lắc, trẻ trung mà đâu có để ý tới tình cảm của anh. Các buổi tối Sinh thường đến phòng Tuyền chơi. Anh cũng ở tập thể.
Mấy cô gái gọi anh là hộ độc thân vì Sinh đã ngoài ba mươi tuổi, cái tuổi đáng nhẽ yên bề gia thất lâu rồi... vậy mà. Những hôm trăng sáng, Sinh cùng mọi người kéo nhau lên đê hóng mát, rồi nhìn xuống dòng sông trắng bạc. Mặt sông ánh lên đẹp vô cùng. Các cô gái... tha hồ mà mơ mộng.
Yêu, Sinh ướm hỏi nhưng Tuyền chưa nhận lời. Cũng chẳng hiểu vì sao nữa. ở anh cái gì cũng hoàn hảo, hoàn hảo từ công việc đến tính cách, hoàn hảo từng câu nói. Giá kể anh thiếu hụt điều gì, giá kể anh xấu người một tý thì có lẽ Tuyền đã bằng lòng ngay mà không phải để anh theo đuổi ba bốn năm trời.
Vào một ngày thứ bẩy khi tạo điều kiện để cho cái Mận, cái Oanh về quê thăm mẹ, Sinh chính thức đặt vấn đề với Tuyền: "Anh không nói chắc em cũng hiểu. Mong em suy nghĩ kỹ, chưa trả lời anh vội. Anh yêu em và định chọn em làm vợ". Tuyền nghe rõ từng lời của Sinh mà không hiểu sao nó chẳng đọng lại điều gì. Cô mường tượng đến cái máng hứng nước mưa của thầy cô ở quê. Nước rót vào miệng máng rồi rơi ngay xuống bể, chẳng kịp đọng lại thành dòng. Cô bật cười với ý nghĩ của mình. Rồi lặng im, Tuyền kéo tay Sinh sang hội trường nhà máy để xem phim.
Lần thứ hai cũng vậy, cô tìm cách khoả lấp và tránh né. Tuyền chẳng biết nói sao cho anh hiểu, từ chối thì không muốn, bằng lòng cũng chẳng xong. Thế rồi ngày tháng qua đi. Bọn con gái ở tập thể dần dần đứa nào cũng có người yêu và lần lượt lấy chồng. Cái Mận cái Oanh tổ chức đám cưới cùng một tháng. Gian phòng ba đứa giờ còn lại mình Tuyền. Mỗi lần tề tịu... rúc rích với nhau, xong, cái Mận, cái Oanh lại trách cô: "Chẳng hiểu mày còn mong gì hơn nữa. Chúng tao nằm mơ cũng không có được người như ông Sinh. Cẩn thận rồi già kén kẹn hom". Tuyền có già kén gì đâu, cô chỉ nghĩ: chưa gặp được người mình mong muốn mà thôi. Mẹ Tuyền cũng lo lắng, mỗi lần về nhà bà lại rầu rĩ "Con gái có thì. Con xem con cái Dung (em gái Tuyền) đã lớn thế mà mày vẫn chưa có chốn có nơi". Thày thì tặc lưỡi, bảo: "Nó cao số".
Sinh vẫn kiên trì chờ đợi và quan tâm chăm sóc Tuyền như xưa. Cái tính đỏng đảnh lí lắc của cô cũng giảm dần. Rồi, Tuyền cũng phải nghiêm túc nghĩ lại tình cảm của mình đối với anh. Cô cứ muốn bằng lòng nhưng mọi điều trong cô dường như chẳng rõ ràng. Cái Mận, cái Oanh chừng cũng hiểu. Chúng nó bảo: "Mày thử đi xa một chuyến xem có nhớ ông ấy không, nếu có thì về đồng ý phắt cho rồi". Tuyền nghĩ: Cũng có khi phải làm như vậy? Thế là cô xin nghỉ phép, cùng mẹ vào Đà Lạt thăm bà thím với ý định một công... đôi việc.
Không thể ngờ được lần đi xa đó lại đem đến cho cô nhiều mối tơ vò, lại là bước ngoặt tình cảm của cuộc đời cô. Bắt đầu từ chuyến tàu. Chuyến tàu cho Tuyền nhiều niềm vui, nỗi buồn... không dứt.
Khoang ghế cô ngồi, hai bên toàn là phụ nữ. Một chị có cháu nhỏ, cậu bé Quỳnh nghịch luôn tay. Anh bộ đội tên Nam, trẻ trung, rắn rỏi, ngồi ở ghế bên có đôi mắt thật là đẹp, trong, sâu thẳm, ánh nhìn mạnh mẽ như những con sóng. Lần đầu bắt gặp ánh mắt anh, cô thấy mình bối rối. Cứ nghĩ, có lẽ vì gặp chàng trai lạ. Nhưng sau này, mỗi khi Nam nhìn cô chăm chú, cô lại có cảm giác như vậy. Cả khi nghĩ đến anh thì đôi mắt ấy cũng làm cô nhột nhạt và bối rối.
Cầm quyền sách: "Đến bến bờ mới" của nhà văn Nga mà cả ngày Tuyền chỉ đọc được vài trang. Thỉnh thoảng liếc nhìn sang, cô lại bắt gặp anh nhìn mình. Tối đến anh không ngủ vì phải trông đồ đạc cho mọi người, còn Tuyền muốn mẹ nghỉ trên ghế nên cô thức, ngồi thu lu bên cạnh.
Anh chủ động bắt chuyện.
- Mẹ em nói em nhỏ hơn anh hai tuổi.
(Lém lỉnh thật, không biết hỏi mẹ cô lúc nào? Chắc anh chàng này ở miền Nam lâu nên ngôn từ pha lẫn lộn).
- Mẹ em nói đùa đấy. Anh vào Sài Gòn rồi còn đi đâu nữa?
- Còn phải đi hai trăm cây số. Anh là bộ đội tình nguyện mà.
- Tình nguyện mấy năm hay tình nguyện... ở luôn!
- Sao mà luôn được, anh nghiền dân ca quan họ Bắc Ninh nên không thể nào... xa được.
(Khiếp, lưỡi thật là nhọn). Quê Tuyền ở Bắc Ninh. Anh chàng này láu thật.
Khuya. Mọi người ngủ hết. Trong toa thật im ắng. Con tàu vẫn miệt mài lao đi trong đêm, thỉnh thoảng lại vặn mình răng rắc...
Anh kể cho cô nghe nhiều chuyện. Chuyện quê anh, chuyện thời chăn trâu của anh. Chuyện chiến trường ác liệt với những trận đánh chống quân phiến loạn, đến chuyện ngủ rừng gối đầu lên lưng con trăn đất mà không biết. Chuyện sốt rét với những ngày buồn nhớ nhà da diết. Chuyện sáu tháng mùa mưa, mưa đổ cây, mưa thối đất. Giọng anh ấm, đều đều. Cô chăm chú nghe, chốc chốc lại vén mấy lọn tóc xoà xuống bên má lúm đồng tiền. Chuyện về anh, chuyện đời thường mà cô như như đắm chìm, ngơ ngẩn. Đêm dường như... ngắn lại.
Quê Nam ở một vùng chiêm trũng, quanh làng là năm bảy cái đầm sen nối nhau ngát hương thơm. Bà mẹ hiền tần tảo. Ông bố là thương binh, quanh năm quanh quẩn với cái vó bè. Mấy đứa em ngoan học giỏi. Anh là con lớn trong nhà, siêng năng vất vả nhưng cũng nghịch ngợm nhất làng. Hồi bé có lần đi xem văn công về khuya anh giả làm tiếng gà gáy thế là gà trống cả làng thi nhau gáy. Mọi người lục tục dậy, chấp cơm chuẩn bị ra đồng... mãi trời không sáng. Mẹ bảo chăn trâu thì giấu nhà quấn ba cái thừng vào bụng, nối với nhau buộc giữa bãi. Con trâu cứ199

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2009

Âm Thanh Im Lặng



Cuối giờ, vị giáo sư đi xuống hàng ghế sinh viên, giọng không phải để giảng bài: Tôi có một cuộc chơi, trò nào muốn chơi thì ghi tên.

Cuộc chơi của thầy dạy môn Tự động hoá là "khám" sức khoẻ của máy bằng cách "nghe" tiếng máy chạy.

Thật hấp dẫn.

Với lũ trò quỷ sứ tuổi chưa đủ mười chín, nghe đến "chơi" đã muốn nhảy vào, lúc đầu người thầy già có được một danh sách tên trò phiến âm dài dằng dặc.

Nhưng rồi đám học trò dần dần bỏ thầy lại cùng với cuộc "chơi" ù đầu, mờ mắt sau nhũng buổi học đã kéo dài đến tám chín tiếng đồng hồ.

Thầy có vẻ không vui. Ông buồn rầu nói với chúng tôi: "Nghe" máy khó lắm các em ạ.


********


Chúng tôi đã trả xong bài thi cuối cùng của thời sinh viên.

Chúng tôi đến từ biệt thầy giữa lúc ông đang mải mê "nghe " máy....


********


Chúng tôi về nước. Thời điểm đó ngành tự động hoá chưa được quan tâm, thế là đành phân tán, mỗi người một nghề trái tay, nhưng các bạn tôi ít nhiều đều "dính" đến máy.

Riêng tôi "phiêu bạt" sang một nghề khác hẳn: Nghề viết... Tôi cũng chẳng hiểu sao ...

Người ta thường nói đó là số phận.

Tôi cũng đành biết thế. Vì tôi chưa gặp mặt số phận một lần nào để có thể nhận diện được nó.


********


Là học trò thầy nên tôi dám chắc thầy đã không bằng lòng khi biết tôi bỏ nghề, cái nghề mà thầy đã dầy công dìu dắt chúng tôi. Có lẽ thầy cho là tôi đang theo một nghề quá mơ hồ, quá dễ dàng so với bộ môn khoa học chính xác mà tôi đã yêu và đã được dạy dỗ.

Tôi đã phụ công thầy.

Sau lá thư tôi báo với thầy tôi đã chuyển sang nghề viết, thầy không trả lời thư tôi nữa....


********


Quá trình tập "nghe" máy đã giúp tôi rất nhiều trong nghiệp viết. Sự tập trung tinh thần và giác quan cao độ khi "nghe" máy đã tạo cho tôi một thói quen rất cần thiết trong khi lắng nghe cỗ máy tâm hồn con người.

Và có lẽ thầy cũng khó ngờ rằng chính thời gian gần máy đã đóng góp rất nhiều cho việc ra đời những truyện mini của tôi.

Và cũng không hiểu sao tôi cứ nghĩ là mình vẫn đang tiếp tục cuộc "chơi" của thầy....

Tôi đã nghe, lắng nghe rất nhiều. Càng ngày, qua nhiều thất bại, tôi càng hiểu ra rằng việc "nghe" người còn khó khăn hơn "nghe" máy hàng nghìn vạn lần.

Máy cũng có thể nhiễu nhưng chúng thật thà và không biết nói dối.

Rồi tôi bắt đầu tập nghe "âm thanh", thứ "âm thanh" mà tự vị quen gọi là sự im lặng.

Một cỗ máy im lặng là một cỗ máy chết.

Nhưng âm thanh im lặng của con người hình như nhiều khi còn "sống động", còn "nói" được nhiều hơn lời nói.

Ðã mấy lần trong cuộc đời người mẹ nói được thành lời tình mẫu tử đại dương mênh mông của mình?

Có bao nhiêu cặp tình nhân đến lúc xuôi tay vẫn chỉ nói yêu nhau bằng lời mắt?

Và sự khinh bỉ tột cùng nhiều khi cũng chỉ có thể nói bằng âm thanh của lặng im....

Sau nhiều năm không nhận được tin thầy, tôi bỗng thấy cần phải viết thư cho người thầy già năm xưa.

Thầy còn sống hay đã mất?
Thầy còn ở địa chỉ cũ?
Tôi không cần biết.
Tôi chỉ biết cần phải viết cho thầy.


********


Rồi tôi nhận được một bức thư vẫn với nét chữ quen thuộc nhưng như run rẩy hơn, xót xa hơn: "Thầy cảm ơn em vẫn nghĩ đến thầy. Em đã giúp thầy hiểu thêm nhiều điều. Thầy rất tâm đắc với nhận xét của em: Thật ra không có sự im lặng. Chỉ có những âm thanh ở những tần số đặc biệt mà do những điều kiện hạn chế nhất định mình không "nghe" thấy được. Ðó là bi kịch của con người..."


********


Gần đây tôi mới biết thầy hiện sống cô độc sau cuộc chia tay với người vợ mấy chục năm im lặng sống bên người chồng chỉ biết đến giảng đường và phòng thí nghiệm.

Không hiểu có phải vì thầy đã không "bắt" được tần số âm thanh im lặng của người đàn bà ấy????
126

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2008

Bàn tay đã mất



Xưa, có một chàng trai lên đường thi hành nghĩa vụ quân sự. Giặc tan, chàng trở về và bỏ lại một bàn tay ở chiến trường.

Từ dạo đó, trong những đêm hôm khuya khoắt chàng mơ hồ cảm thấy mình đau nhứt dữ dội ở bàn tay đã mất. Cơn đau ngày càng gia tăng, bệnh tưởng đã thành bệnh thật, chàng tìm đến một y sĩ. Y sĩ hỏi:

- Anh đau ra sao?

- Thưa tôi bị nhức nhối ở bàn tay mặt nhất là khi về đêm.

Y sĩ mỉm cười:

- Anh đưa bàn tay đau cho tôi xem nào.

Bệnh nhân sửng sốt hồi lâu ấp úng:

- Thưa bác sĩ, bàn tay mặt của tôi không có ạ!

- Thế thì tôi đã chữa bệnh cho anh rồi.

Bệnh nhân liền ra về với một nụ cười. Hóa ra lâu nay chàng mắc loại bệnh tưởng.

Ít lâu sau thanh niên cùng đến thăm y sĩ với một thanh niên bạn, người bạn này cũng mắc một chứng bệnh tương tự để nhờ y sĩ chữa giùm. Lần lần bệnh nhân tự bảo:

- Thưa bác sĩ, dù rằng đã biết bàn tay mình không có nhưng trong giấc ngủ chập chờn tôi lại thấy đau nhức dữ dội ở bàn tay đã mất xin bác sĩ chữa bệnh cho tôi.

Y sĩ liền hí hoái biên toa, xong căn dặn:

- Toa thuốc này có hai loại, một để uống và một để thoa lên vết thương. Anh về điều trị tuần sau khám lại.

Bệnh nhân thứ hai y lời về mua thuốc, nhưng chàng không biết bôi thuốc vào đâu, vì bàn tay đã không còn thì làm gì có vết thương. Loay hoay tìm kiếm hồi lâu anh bật cười bảo:

- Lão bác sĩ này gạt mình thật!

Từ dạo đó anh lành bệnh. Hai anh bệnh nhân đã lành bệnh trên, về sau lại gặp một người bạn cũng mang chứng bệnh tương tự. Cả hai đều trổ hết kinh nghiệm và sở trường của mình điều trị song cơn đau vẫn không thuyên giảm. Bệnh nhân liền được đưa đến phòng mạch. Y sĩ hỏi:

- Những lúc nào anh bị đau nhức?

- Thưa, tôi bị đau nhức liên tu bất tận.

- Thế không có lúc nào ngừng đau à?

- Thưa có, những lúc nào tôi say mê đọc sách hay nghe nhạc thì cơn đau dường như không còn nữa.

- Thế thì… toa thuốc của anh đấy, khi nào thấy đau đớn hãy lấy sách báo đọc hoặc là nghe nhạc…

Bệnh nhân y lời, bệnh tình ngày một thuyên giảm.



Em thân mến!

Có phải chúng ta tất cả đều mang một chứng bệnh tưởng như ba anh chàng trên đây không?

Chúng ta cứ than van suốt ngày “Tôi buồn, tôi khổ, tôi mệt mỏi, tôi chán nản, tôi tuyệt vọng…” Và nếu có ai hỏi “cái tôi” ấy ở đâu thì chúng ta không khỏi giật mình. Thấu đáo cho rõ CÁI TÔI này thì căn bệnh mới chữa tận gốc. Tôi là thân hay tâm?

Thông thường, chúng ta cho cái suy nghĩ phân biệt, thương ghét, buồn giận đó là tôi. Và cái tôi này quả là loạn động, rối bời, xao xuyến. Chúng ta nghe cuộc gặp gỡ giữa hai người y sĩ Bồ Đề Đạt Ma và bệnh nhân Huệ Khả như sau:

Bệnh nhân thưa:

- Tâm con bất an, xin Ngài dạy con phương pháp an tâm.

Y sĩ mỉm cười bảo:

- Đưa tâm ra đây ta xem!

Bệnh nhân lúng túng:

- Con tìm tâm không ra

Y sĩ:

- Vậy thì ta đã chữa bệnh an tâm cho ông rồi.

Huệ Khả liền đại ngộ, tức là hết bất an, hết kêu than là khổ sở, đau đớn quá nữa.

Trường hợp của Tổ Huệ Khả tương tự như trường hợp anh thương binh thứ nhất, sau một lần đến phòng mạch là lành bệnh.

Trường hợp bệnh nhân thứ hai là những hành giả phải gia công quán chiếu tu trị những tâm thức vọng động của mình bằng các phương pháp trị tâm hay tu tâm. Cho đến bao giờ hành giả chợt thấy rằng “năm uẩn đều không” thì “vượt qua tất cả khổ ách” Đây là lúc anh chàng thương binh đang loay hoay tìm cách rịt thuốc lên vết thương thì bỗng khám phá ra bàn tay mình không có, vết thương cũng không luôn nên vứt gói thuốc đi và lành bệnh.

Trường hợp thứ ba, chỉ những lúc hì hục tu hành, say mê hạ thủ, tụng kinh lễ bái, niệm Phật trì chú… hành giả mới cảm thấy vơi sầu, bớt khổ não, tâm dần an định… giống như anh chàng thương binh thứ ba, khi nghe nhạc hoặc đọc sách thì không thấy đau đớn gì cả.

Ba chàng thương binh trên đây mang bệnh tưởng vì ngờ rằng bàn tay có thật, bàn tay có thật nên sự đau nhức cũng có thật, sự đau đớn có thật nên thưốc chữa cũng có thật:

“Có thì tự mảy may”

(Tác hữu trần sa hữu)

Bệnh của họ được chữa lành khi họ khám phá ra rằng bàn tay không có, bàn tay không có nên bệnh cũng không, bệnh không nên thuốc cũng không.

“Không thì cả thế gian này cũng không.”

(Vi không nhất thiết không)

Chúng ta cũng thế, bao nhiêu khổ đau rắc rối đều thành hình khi ta ngỡ rằng mình là một cái này, một cái nọ… Do có “ta” nên có cái “của tạ” Và hỷ, nộ, ái, ố… cũng bắt đầu từ đó. Hành giả chỉ hết khổ khi thấu hiểu được rằng “cái ta không có.” Chỗ này, Lục Tổ bảo rằng: “Bản lai vô nhất vật” vậy!

Thầy thuốc xem bệnh nhân bình đẳng như nhau, nhưng tùy theo tình chấp của mỗi người mà cách chữa trị có khác. Các pháp môn tu của Phật cũng thế, tùy theo tình chấp của chúng sanh mà có thiên sai vạn biệt. Chúng ta không thể nói rằng pháp môn này cao pháp môn kia thấp… mà chỉ có thể nói rằng: “Cố chấp của tôi nhiều, tình chấp của anh ít hơn mà thôi.”

Em có thấy như thế không?

178

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2008

Bầu Trời Của Người Cha



     Bữa cơm tối của người cha tàn tật thường kéo dài đến hai tiếng đồng hồ. My vừa cho cha ăn vừa dỗ dành ông như dỗ một đứa trẻ ốm yếu.

Trong chiếc ghế mây rách có lót một cái ruột gối cũ, ông run rẩy như một con chim non mới mọc lông măng. Người cha trệu trạo nhai từng thìa cơm. Trán, cổ và hai thái dương trắng xanh của ông túa mồ hôi. Đôi môi ông vất vả ngậm thìa cơm như con chim non phải giữ con mồi khỏe bằng cặp mỏ mềm của mình. Thời gian đầu, cứ mỗi khi bón cơm cho cha My lại khóc. Người cha cũng khóc không thành tiếng.

Hai năm trở lại đây cô không khóc nữa. Thay vào đó, cô nhí nhảnh kể cho cha cô nghe những chuyện đại loại như cây hoa trà ông trồng giờ đang trổ nụ, những chậu xương rồng nhiều loại của ông mọc thêm rất nhiều nhánh, hay buổi sáng nào đó trong vườn nhà xuất hiện một con chim lạ, giọng con chim rất trong và mảnh như tơ nhện. Cô cứ kể những chuyện như thế cho tới khi người cha ăn xong thìa cơm cuối cùng.

Đặt cái bát sang một bên, và lúc nào ngay sau đó cô cũng nói với người cha: "Ba đã hoàn thành nhiệm vụ. Con quyết định tặng huân chương cho ba". Người cha cố ngước mắt nhìn con và cười. Và chỉ có cô mới biết là ông đang cười.

Ngày nào cũng vậy, bữa ăn thường kết thúc vào lúc những tia nắng cuối cùng trong ngày tan biến trong vòm lá bên cửa sổ. Và mảnh trời nhỏ nhìn qua ô cửa sổ ngả sang mầu dâu chín. Hai cha con My ngồi im lặng bên nhau. Cô đặt những ngón tay gầy và hơi lành lạnh của người cha trong bàn tay nhỏ nhắn của cô. Cả hai cha con cô ngồi như bất động nhìn về phía mảnh trời nơi có những ngôi sao bé bỏng và ướt át thường hiện lên rất sớm vào những đêm không mây.

Bóng tối của đêm thường bắt đầu ùa kín những góc nhà, rồi sau đó lan vào gầm giường và gầm bàn ghế. Khi bóng tối đã ùa kín căn phòng thì là lúc hình như hai cha con nghe rõ hơn tiếng gió đi qua những tán cây ngoài vườn. Trong bóng đêm rộng lớn và bí ẩn trùm xuống, những tiếng xào xạc quen thuộc bỗng trở lên huyền bí như từ những ngôi sao xa xăm vọng về. Cũng lúc ấy, My thấy những ngón tay của người cha ấm dần lên. My khẽ ngước mắt nhìn cha. Trên gương mặt bệnh tật của ông hắt mờ mờ một thứ ánh sáng từ đâu đó. My nhận thấy đôi mắt cha cô như tối hơn và cũng như rạng rỡ hơn. Những giây phút như thế cô không dám thở mạnh. Cô biết cha cô đang bước từng bước mê dại trong ý nghĩ lạ lùng về phía vòm trời kia. Rồi ông khóc. Và chỉ có My mới biết được cha mình đang khóc.

"Ba đi nghỉ đi ba. Ba ngồi lâu quá rồi". Cô nói và đứng dậy bật đèn. ánh sáng tràn ngập căn phòng. Đâu đó trên tường có bóng một con gián thấy ánh sáng vội chạy vào một khoảng tối gần đó. My đỡ người cha lên giường và bắt đầu bài xoa bóp chân tay cho cha theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Khoảng chín giờ tối cô buông màn cho cha. "Con chúc ba ngủ ngon", cô nói và hôn lên trán người cha lúc nào cũng như lấp dấp mồ hôi. Sau đó cô tắt đèn và đứng một hồi lâu trong bóng tối bên giường cha. Khi cô quay ra cửa thì giật mình nhận ra có người đang đứng tựa vào một bên cánh cửa.

"Mẹ đây", bóng người nói.

"Mời mẹ sang phòng bên", My nói sau một lát im lặng.

"Mẹ vội. Mẹ muốn nói chuyện với con một chút", người đàn bà nói.

"Có chuyện gì không mẹ?", My hỏi, giọng cô như quá mệt mỏi.

"Mẹ đến chỉ để nói với con chuyện công việc của con thôi. Mẹ đã xin cho con làm họa sĩ trình bày ở một tờ báo đang thịnh hành, lương khởi điểm khoảng dăm trăm ngàn. Như thế... sẽ đỡ cho con. Ý con thế nào?".

"Con vẫn dạy vẽ và tiếng Anh cho bọn trẻ con cùng phố. Tiền thu nhập cũng đủ chi tiêu. Vả lại... ba con con cũng không đòi hỏi gì nhiều lắm".

"Nhưng còn công việc của con, còn tương lai của con", bà mẹ ngập ngừng.

"Tương lai của con ư? - My khẽ bật cười - Cái đó thì mẹ khỏi lo. Còn công việc... con cũng đang làm việc đấy chứ".

"Không, con phải đi làm. Mẹ đã tốn khá nhiều tiền để xin chỗ làm cho con".

"Mẹ làm thế để làm gì - My chau mày - Nếu con đi làm thì ai trông coi ba".

"Đấy cũng là điều mẹ muốn nói với con - Giọng bà mẹ chợt hồ hởi - mẹ sẽ bỏ tiền ra thuê người chăm sóc cho ông ấy, con đừng lo".

"Chẳng ai có thể chăm sóc ba con bằng con cả - My nói và thở dài - không ai có thể hiểu được ba, ngay cả...".

Cô định nói: "Ngay cả chính mẹ", nhưng cô lại thôi.

"Sao lại không có ai chăm sóc được ông ấy. Chỉ cần trả công khá một tí là khối kẻ tranh việc, mà có phức tạp gì đâu. Mỗi ngày cho ăn hai bữa, đổ bô vài lần và giặt một bộ quần áo mỏng".

Trong bóng tối hiên nhà, My nhìn mẹ cô im lặng, mãi lâu sau cô mới nói: "Mẹ về đi, hôm nay con mệt lắm". Nói xong, cô bước xuống chiếc sân nhỏ. Bà mẹ lặng lẽ bước theo. My mở cổng và có ý để bà mẹ đi về.

Bước đến cổng, mẹ cô dừng lại trước mặt cô và nói: "Con phải suy nghĩ cho kỹ đi. Mẹ lo cho con". "Cảm ơn mẹ", My nói và lại bật cười khe khẽ. Cô đóng cửa và vội vã đi vào trong nhà.

Hơn một tháng trở lại đây, mẹ cô thường đến thăm cô vào buổi tối. Bà thường đứng ngoài cửa buồng cha cô và lặng lẽ nhìn vào. Bà đứng đó đợi My cho đến khi My đã buông màn cho người cha đi ngủ. Lần nào bà cũng nói đến chuyện công việc của cô. Và lần nào My cũng chỉ đứng trong hiên nhà trong bóng tối mệt mỏi nói chuyện với mẹ cô. Cuối cùng lúc nào cô cũng nói với mẹ cô câu: "Con mệt lắm, mẹ về đi", rồi bước ra mở cổng.

Có tiếng xe máy nổ và xa dần. My chậm rãi bước vào nhà. Căn phòng nhỏ của cô chưa bật đèn và đầy mùi thuốc vẽ. Ở góc phòng cạnh cửa sổ mở ra vườn, tấm toan trắng hắt sáng mờ mờ. My lần từng bước trong bóng tối đến trước giá vẽ và ngồi xuống. Cô đưa những ngón tay nhỏ chạm khẽ lên mặt toan. Hơn một năm nay cô đã đợi chờ những mảnh mầu kỳ diệu từ đâu đó sau tấm toan hiện về. Nhưng mỗi lần vẽ xong cô lại càng thấy thất vọng hơn. Cô đã điên khùng rạch nát không biết bao nhiêu tấm toan. Và cũng đã bao nhiêu lần cô gục khóc trên giá vẽ. Cô khóc không phải vì sự thất bại trong nghệ thuật. Nói đúng hơn, chưa bao giờ cô đeo đuổi một thành công nào đó trong nghệ thuật. Cô chỉ vẽ như cô cần phải vẽ. Cô khóc về sự bất lực trong tình yêu của cô đối với người cha bệnh tật.

Cha cô vốn là một phi công lái máy bay quân sự trong chiến tranh. Sau giải phóng ông chuyển sang lái máy bay dân sự. Sau mỗi chuyến bay trở về, ông say đắm kể cho mẹ con cô nghe về những vùng trời ông đã đi qua. Ông quen thuộc những vùng trời tưởng như vô định ấy như mảnh vườn nhỏ của gia đình ông, hoặc như làng quê ông bên bờ sông Hàn. Nhiều đêm, những câu chuyện của người cha đã đưa cô đến những vùng trời ấy trong giấc mơ. Cô gặp những đứa bé trong suốt vừa bay vừa hát bên những bông hoa lạ.

"Hoa này là hoa gì, bạn nhỉ?", cô hỏi.

"Hoa Anh My", những đứa bé đồng thanh nói như hát.

"Ôi! Cùng tên với mình đấy - Cô thích thú kêu lên

- Thế những con chim vàng óng kia là chim gì?".

"Chim Tao Linh đấy".

"Tao Linh à, mình chưa bao giờ nghe nói đến loài chim này - Cô hơi nghiêng đầu và nhíu mày. Rồi cô nhoẻn miệng cười và nói - Ba mình cũng hay bay qua đây, các bạn có biết không?".

"Ba của bạn à? - Những đứa bé hỏi và nhìn nhau - à, chúng mình nhớ rồi. Ba của bạn cười giống bạn lắm. Ông đến đây và thường quỳ trước những bông Anh My. Mặt ông hơi ngửa lên, đôi mắt khép nhẹ và say đắm trong tiếng hót của bầy Tao Linh. Nhưng ông đã...".

Lũ trẻ nói đến đó chợt im lặng và nhìn nhau khác thường.

"Ba bạn đã... đã mang hương hoa Anh My và tiếng hót Tao Linh về mặt đất. Lẽ ra lúc này thì chưa nên, nhưng không sao đâu, bạn đừng lo", lũ trẻ an ủi My.

"Thế ba mình...", My định hỏi tiếp một câu thì chợt nghe một tiếng nổ. Những đứa bé vụt biến mất. My tỉnh giấc.

Ngọn đèn ngủ vẫn tỏa ánh xanh nhạt trong nhà.

Qua màn, My nhìn thấy ba mẹ cô đang ngồi quay ra cửa. Trên nền nhà có những mảnh cốc vỡ.

"Tôi không chịu nổi cuộc sống như thế này nữa rồi", mẹ cô tức tưởi nói.

"Anh chưa làm một điều gì xúc phạm đến em cả. Anh không hiểu vì sao lâu nay em luôn luôn cảm thấy khó chịu khi anh về".

"Anh không hề nghĩ đến cái gia đình này. Anh cần những vùng trời của anh. Anh mang về cho mẹ con tôi những gì từ đấy. Những mây, sao, gió máy của anh không thể bán lấy tiền được".

"Anh nghĩ gia đình mình rất hạnh phúc. Sinh hoạt cũng không thiếu thốn lắm".

"Hạnh phúc - Mẹ cô bĩu môi - Anh đến nhà đồng nghiệp anh mà anh không thấy ngượng à. Họ cũng bay như anh. Sau những chuyến bay họ mang về cho vợ con họ những thứ cụ thể. Còn anh chỉ thấy mang về cho vợ con anh những thứ ngớ ngẩn, hão huyền, hết sức vô dụng".

"Em im đi. Em khác xưa quá nhiều rồi đấy".

"Tôi không khác gì xưa cả. Chẳng qua anh không nhận ra sự thật của cuộc đời này mà thôi".

Mẹ cô nói và đứng phắt dậy đi sang phòng bên. Ba cô lắc đầu và đốt thuốc hút.

Sau lần ấy, sau mỗi chuyến bay trở về, ba cô lặng lẽ và hay thở dài. Ông không còn háo hức kể về những chuyến bay của ông như trước nữa. Một hôm cô hỏi người cha.

"Sao ba không kể cho con nghe về chuyến bay của ba?".

Người cha cúi xuống nhìn cô. Rồi như quên hết mọi phiền muộn, ông lại say sưa kể cho cô nghe về một vùng trời nào đó của ông. Phòng bên cạnh, mẹ cô vứt mạnh những vật gì đó và mắng chửi cay nghiệt con mèo hoa tội nghiệp. Người cha ngừng câu chuyện đang kể cho cô con gái của ông. Ông bước sang phòng mẹ cô. Và cô nghe thấy tiếng ba cô rất nhỏ.

"Em làm gì thế? Em có biết anh đang nói chuyện với con không?".

"Con My lớn rồi. Nó sắp ra trường và phải đi làm. Cần phải giáo dục cho nó biết những điều cụ thể của cuộc đời mà nó sẽ đón nhận, chứ không phải những điều lảm nhảm vô bổ".

"Chính cô đang phá hoại tâm hồn của con, cô biết không. Trước hết con người phải có một tâm hồn đẹp, rộng lượng và biết tha thứ, chứ không phải là một con người tham lam ích kỷ hay thù vặt".

"Vâng, tôi tham lam, tôi ích kỷ và hay thù vặt. Nhưng thưa anh, tôi còn biết lo toan trước mỗi bữa ăn của con, còn anh, anh viển vông và điên rồ quá rồi".

"Như vậy - Cha tôi chợt im lặng rất lâu - như vậy chẳng còn gì cho chúng ta có thể nói chuyện với nhau được nữa".

Nói xong ba cô bỏ đi ra khỏi nhà, mãi khuya ông mới trở về.

Một buổi sáng ít ngày sau đó, người cha phờ phạc nói với cô: "Ba và mẹ đã quyết định chia tay nhau. Chắc con cũng tự biết trước điều này". My nấc lên khi nghe người cha nói vậy. Cô bỗng thấy hoảng sợ và cô đơn khủng khiếp. Buổi tối đó, cô đến trước mẹ cô. Cô ngồi xuống trước mẹ rất lâu và nói.

"Mẹ nghĩ lại đi, mẹ ạ".

"Con ranh con - Mẹ cô trừng mắt giận dữ - Mày cũng nhiễm cái thói mơ mộng vô bổ của ba mày rồi đấy. Cuộc đời sẽ dạy cho mày biết".

Rồi ba mẹ cô ra tòa và lặng lẽ chia tay nhau. Mẹ cô về ở với bà ngoại cô và lấy một người đàn ông khác sau đó năm tháng.

My ở lại với người cha và gấp rút chuẩn bị cho năm học cuối cùng ở trường Mỹ thuật. Người cha vẫn thỉnh thoảng xa nhà với những chuyến baỵ Ông ít kể về những chuyến bay của ông. Nhưng vào những buổi hoàng hôn, ông thường ngồi im lặng trên chiếc ghế bành bọc vải nhung nhìn qua cửa sổ.

Khi My vừa kết thúc năm học cuối cùng thì cha cô bị tai nạn giao thông và bị liệt nửa người. Biết bệnh tình của người cha khó có thể hồi phục. My quyết định ngừng xin việc làm. Cô mở lớp dạy vẽ và tiếng Anh cho bọn trẻ con cùng phố để kiếm tiền sinh sống và tiện có thời gian chăm sóc cha. Đêm đêm cô thường phải thức giấc nhiều lần để trở mình cho cha và giúp ông tiểu tiện, và ngày ngày, khi hoàng hôn từ từ buông xuống, ông lại yêu cầu cô đỡ ông ngồi vào chiếc ghế bành bọc vải nhung để nhìn về phía vòm trời nho nhỏ qua ô cửa sổ. Khi bóng tối đã trùm kín căn phòng thì người cha thì thầm: "Vùng trời... vùng trời, cha muốn trở lại... vùng trời". Những lúc ấy, giọng người cha lạ lùng và xa xăm. Cô cảm thấy rùng mình và thương cha vô hạn.

Một đêm trong căn phòng của cô đầy mùi thuốc vẽ, trong đầu cô lóe lên ý nghĩ mang lại cho người cha vùng trời của ông về trên toan. Sau ý nghĩ ấy, cô lao vào giá vẽ. Cô vẽ trong sự hoảng sợ mộng mị và mơ hồ về người cha. Và suốt hơn một năm qua cô đã vẽ, đã thất vọng và đã khóc.

Đêm đêm, cô đứng lặng hàng tiếng đồng hồ bên cửa sổ nhìn mãi vào vùng trời có những ngôi sao bé bỏng, ướt át và đầy bí ẩn kia. Cô như thoáng nghe thấy tiếng nói thì thầm của những ngôi sao và những vầng mây bạc trong những đêm sáng trăng. Cô nghe thấy cả tiếng bầy kiến gọi nhau trên những song cửa sổ trong cuộc hành trình muôn đời không ngủ của bầy kiến. Cô nghe thấy cả tiếng con chuột lơ đễnh rơi từ giàn gấc xuống vườn. Một cảm giác lãng đãng và bạc trắng lan tỏa khắp cơ thể cô. Cô lao vào giá vẽ và vẽ cho đến khi tưởng chừng như kiệt sức. Để rồi sáng sau tỉnh giấc, cô lại khóc cho những mảng mầu lạnh lẽo và bất động.

Mấy ngày trước, vào một buổi sáng có nắng, cô mang chiếc valy đựng những đồ lặt vặt của người cha ra phơi. Trong valy cô thấy cuốn nhật ký của người cha. Cô cầm cuốn nhật ký bước vào hiên nhà ngồi xuống và đọc.

"Đêm qua mình tỉnh giấc mà Lan (tên mẹ cô) không hay biết gì. Hình như chưa bao giờ Lan mất ngủ. Lan vẫn đẹp và đầy sức sống như ngày mới cưới. Và... Lan chưa bao giờ hiểu mình. Sao những đêm tỉnh giấc mình hay nghe thấy những tiếng gì đó mơ hồ gọi mình. Mình thấy cô đơn".

"Mình đã sống một tuổi thơ đầy cô đơn và ốm yếu. Không quên nổi những chiều mưa mờ mịt bên bờ sông Hàn. Ba đi thuyền chưa về. Má cũng đi chợ xa bán cá. Ngôi nhà lá nhỏ bên sông lúc nào cũng tối và đầy mùi ẩm ướt của mùa mưa. Mình ngồi thu lu trong góc nhà. Đói và tủi. Rồi ba má mất sớm, mình theo một người bác đi thuyền. Đã bao nhiêu buổi chiều mình ngồi khóc nức nở trong mưa trên mui thuyền".

"Cái mình cần là hơi ấm của con người. Nhưng đời sống càng đầy đủ thì con người càng xa nhau. Cái mà những người đang sống quanh mình tìm kiếm là đồng tiền. Đồng tiền hết sức cần thiết. Nhưng vì nó mà con người lao vào như rồ dại, cắn xé lẫn nhau, nghi ngờ nhau và căm thù nhau".

"Sao từ ngày cưới nhau đến giờ, Lan chưa một lần thức dậy trong đêm và thì thầm những điều gì đấy với mình. Lan giày vò mình vì những chuyện gia đình như sắm sửa, xây cất. Lan bực tức với những người giàu hơn và tỏ vẻ khinh bỉ những người đói kém. Mình đã từng đói khát và tủi nhục. Nhưng mình không thể sống được khi chỉ nghĩ đến cái dạ dày căng tròn và lầy nhầy".

"Những lần bay qua những vùng trời vô tận, sao mình cứ ước được bước ra khỏi khoang lái. Tất cả những gì trong khoảng mênh mông của vũ trụ mà mình cảm nhận được lại làm cho mình yên tâm tin mình khi đi trên mặt đất. Những cơn mê làm mình hạnh phúc và muốn khóc. Mình thèm khát được ngồi im lặng trong hoàng hôn và vùi bàn tay trong mái tóc đẹp lạ lùng của Lan. Lan không bao giờ ý thức được trong bóng tối. Lan quá rành rọt với những thứ mà có thể đếm được dưới ánh sáng đơn giản".

Đêm nay hình như trời trong hơn. Có lẽ cũng đã khuya. My áp mặt vào những song gỗ cửa sổ. Bỗng cô nghe thấy tiếng cha gọi. Cô vội vã đẩy cửa bước sang phòng người cha.

"Có con rắn... đang quấn... chân ba".

Nghe người cha nói, My hốt hoảng lật chiếc chăn dạ mỏng và sờ soạng đôi ống chân người chạ "Không có gì đâu ba ạ. Chắc ba mê ngủ đấy", My nói và ngồi xuống mép giường bóp chân cho cha. "Nó bò đi rồi hả con?" - người cha thì thào.

My không nói được. Cô gật đầu, khi người cha trở lại giấc ngủ, cô đứng dậy tắt đèn và trở lại phòng mình. Cô bước trang nghiêm và quyết liệt đến bên giá vẽ. Cô nhìn xuống và nhìn ra cửa sổ. Những ngôi sao như đang bay về. Hình như đêm nay có trăng non. Những song gỗ cửa sổ ánh lên. Cô ngửi thấy hương Anh My, tiếng hót của bầy Tao Linh, tiếng ríu rít của bầy trẻ trong suốt như pha lê. Cô thấy đôi mắt người cha căng lên như hai tấm toan chờ đợi.

"Con, My đâu... con... " - người cha gọi.

My lảo đảo bước sang phòng cha. Cô bật đèn.

"Ba gọi con ư?".

"Ba thấy người nóng quá. Hôm nay mẹ con có đến không?"

"Có ba ạ" - Cô trả lời sau một thoáng lưỡng lự.

"Mẹ bảo gì con không?".

"Mẹ đến thăm ba" - Cô cố gắng nói.

"Có bao giờ con thấy mẹ khóc không?".

"Dạ...".

"Ba thấy... nóng quá, mà, mà lạ lắm. Mẹ có khóc hả con? Mẹ đến thăm ba sao không nói cho ba hay. Lan... có khóc... ".

"Ba ngủ đi ba. Mai con sẽ mượn cái xe đẩy để đưa ba ra Hồ Tây".

My kéo tấm chăn dạ mỏng đắp ngực người cha. Rồi cô trở về phòng mình và ngồi xuống trước giá vẽ. Cô thấy người nóng lên ghê gớm. Cô cầm lấy bút vẽ. Cô bật hai ngọn đèn dùng để vẽ đêm mà ba cô đã mua cho cô.

Đến gần trưa hôm sau My mới tỉnh dậy. Khi vẽ xong cô kiệt sức và gục xuống sàn nhà. Cô mở mắt ngơ ngác. Nắng tràn ngập ô cửa sổ phòng cô. Cô nhìn vào bức tranh và kinh ngạc. Cô nhận thấy có bóng cha cô trong suốt đang bay trong đó. Cô nhớ đến cha. Cô vội chạy sang phòng cha. Người cha nằm yên lặng. Gương mặt ông như đang trôi trong vô tận.

Người cha đã trút hơi thở cuối cùng khi My vẽ xong nét vẽ cuối cùng.

My quỵ xuống bên mép giường. Hình như cô nghe thấy người cha hổn hển hỏi: "Có bao giờ con nghe thấy mẹ khóc không?". Đôi môi cô mấp máy như trả lời: "Mẹ sẽ khóc, ba ạ".

121

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2008

Bài Toán Ðố Cuối Năm



Chiều hai mươi tết, tôi đem một xấp vải về nhà khoe vợ.

Sau khi mở gói giấy báo, vợ tôi trầm trồ:

- Chà đẹp quá! Ở đâu ra vậy?

Tôi ưỡn ngực:

- Quà tết của cơ quan anh đấy!

Hai vợ chồng trải xấp vải ra bàn, ngắm nghía, xuýt xoa. Ðột nhiên vợ tôi hỏi:

- Mấy thước vậy, anh?

- Ba thước.

Trong khi trả lời, tôi nhìn thẳng mặt vợ và cảm thấy cô ta thoáng vẻ nghĩ ngợi.

Quả vậy, vợ tôi chép miệng:

- Ba thước chỉ may được cho một đứa. Còn mấy đứa kia...

Sự lo lắng của vợ kéo tôi về với thực tế. Vợ chồng tôi có tất cả năm đứa con. Con Nhạn lớn nhất, mười bốn tuổi. Kế đến là thằng Luân, con Nga, thằng Quang và cuối cùng là thằng Ðạt, đứa út, ba tuổi. Với đàn con như vậy, tết nhứt hai vợ chồng tôi chỉ lo ăn cũng đủ mệt, cách chi nghĩ đến chuyện may sắm. Bây giờ với xấp vải cơ quan cho, cũng chỉ may được một bộ đồ thôi. Nhưng mà nên may cho đứa nào? Ðứa có đứa không, chúng tranh nhau cũng khổ. Phải làm sao cho chúng khỏi so bì mới được! Hai vợ chồng tính tới tính lui, cuối cùng tôi cũng nghĩ ra được một giải pháp.

Tối đó, sau khi ăn cơm xong, tôi tuyên bố:

- Các con ngồi quây lại đây nghe ba nói...

Tôi chưa dứt lời, thằng Luân đã vỗ tay lốp bốp:

- A, ba kể chuyện! Hoan hô!

Vợ tôi trừng mắt:

- Con để yên nghe ba nói nào!

- Không phải kể chuyện! – Tôi đính chính – Ba đố các con cái này...

Nghe tới đó, con Nga lắc đầu nguây nguẩy:

- Thôi, thôi, tụi con biết rồi! Ba lại đố cái gì không sơn mà đỏ, không gõ mà kêu nữa chứ gì?

Tôi cười:

- Không phải! Cái này mới toanh, chưa đố lần nào. Các con nghe kỹ nè. Có năm người đang đi trên đường, bỗng nhiên họ gặp một cái bánh, đố các con họ phải chia làm sao để khỏi cãi nhau?

Thằng Quang ngơ ngác:

- Bánh sao lại nằm giữa đường hả ba? Bộ ai làm rớt hả?

Cái thằng quỷ con này! Tôi rủa thầm trong bụng và trả lời cho qua:

- Ừ, có người làm rớt. Vậy phải chia như thế nào?

Con Nhạn vọt miệng:

- Câu dễ ợt mà ba cũng đố! Thì mỗi người cắn một miếng, cắn hoài cho đến khi nào hết thôi!

Tôi bối rối đưa tay gãi đầu trong khi bọn nhóc nhao nhao:

- Phải vậy không ba? Chị Hai nói đúng không?

Tôi gật đầu kia:

- Phải, phải! Các con giỏi lắm! Giờ nghe ba đố câu khác nè. Có năm người đi trên đường, giả dụ là năm đứa con đi...

- Cũng gặp bánh nữa hả ba? – Con Nga vụt hỏi.

- Không! Lần này không gặp bánh. Các con gặp một chiếc xe đạp bỏ không, vậy chiếc xe đạp thuộc về ai?

- Vậy chủ nó đâu? - Thằng Quang lại hỏi.

- Chủ chiếc xe đạp hả? – Tôi nhíu mày - Chiếc xe không có chủ. Nhưng con đừng hỏi nữa. Trả lời đi! Chiếc xe thuộc về ai?

Con Nga nheo mắt:

- Thì đứa nào biết chạy xe đứa đó lấy!

Con Nhạn và thằng Quang hùa theo:

- Ðúng rồi! Ðúng rồi!

Chỉ có thằng Luân là sửng cồ phản đối:

- Thôi đi! Tụi mày đừng có khôn!

Rồi nó quay sang con Nga, trừng mắt:

- Mày tính bắt tao chở mày đi học chứ gì?

Chả là trong năm đứa chỉ có mỗi thằng Luân biết đi xe đạp. Con Nhạn tập chạy xe trước thằng em nhưng con gái nhát gan nên đến giờ vẫn chưa đi được.

Nghe thằng Luân nạt, con Nga chu miệng:

- Xí! Ai mà thèm ngồi cho anh chở! Anh chạy ẩu có ngày té lọi giò...

- Tao chạy ẩu hồi nào? Ðừng có xạo!

Thấy tụi nhỏ cứ sa đà vào những “tiểu tiết” mà không chịu đi vào “trọng tâm” vấn đề, tôi đập bàn, gắt:

- Thôi, đừng cãi nhau nữa! Không có xe đạp xe điếc gì hết! Bây giờ các con sẽ gặp một bộ đồ...

Lần này, đứa nhanh miệng nhất cũng là con Nga. Nó cắt ngang lời tôi:

- Ðứa nào mặt vừa đứa đó lấy!

Tôi ngớ người ra và đưa mắt nhìn vợ. Tới nước này thì vở kịch của tôi không thể nào diễn tiếp được nữa. Hiểu rõ ý nghĩa cầu cứu trong mắt tôi, vợ tôi liền hắng giọng:

- Thôi, các con im lặng đi, nghe má nói nè!

Tụi nhỏ đang huyên náo lập tức im bặt. Rõ ràng chúng coi trọng má hơn ba.

- Nói thật với các con như thế này, ba con vừa được cơ quan cho ba thước vải. Ba thước vải chỉ may được một bộ đồ hoặc hai cái áo, mà các con những năm đứa. Do đó, ba má muốn hỏi ý kiến của các con, là nên may cho ai kỳ tết này. Kỳ sau sẽ tới những đứa khác.

Thấy câu chuyện không còn ở dạng đố chơi nữa mà trở nên quan trọng, tụi nhỏ đâm ra đứng đắn hẳn.

Sau một thoáng nghĩ ngợi, con Nhạn đề nghị:

- Thôi ba má may cho thằng Quang với thằng Ðạt đi. Thằng Quang được cái áo, thằng Ðạt còn nhỏ chắc may được một bộ.

Ý kiến thằng Luân hơi khác:

- Thằng Ðạt còn nhỏ cần quái gì đồ mới. Má may cho con Nga với thằng Quang đi.

Thằng Quang hùa theo thằng anh:

- Ðúng đó má, con một cái, chị Nga một cái.

Nhưng con Nga không chịu:

- Con không mặc đâu! Má may cho chị Nhạn với anh Luân đi! Tết năm ngoái con đã có áo mới rồi.

Tới lượt con Nhạn lắc đầu:

- Tao không mặc đâu!

Cứ vậy, mỗi đứa một ý, không ai chịu ai. Ðứa nào cũng muốn nhường cho đứa khác. Ðiều đó khiến tôi ngạc nhiên một cách thích thú. Nhưng tình thế quả thật khó xử. Cuối cùng vợ tôi phải đóng vai trọng tài:

- Các con đã có ý kiến rồi, bây giờ tới má.

Nghe vậy, tụi nhỏ im liền.

- Má ủng hộ đề nghị của Nga! - Vợ tôi thong thả - Bởi vì Nhạn với Luân đã lớn rồi, tết nhứt phải đi theo ba má thăm hỏi bà con họ hàng, do đó cần ăn mặc tươm tất một chút...

Rồi vợ tôi quay sang thằng Quang:

- Còn con, con có nghe câu “cũ người mới ta” bao giờ chưa?

- Dạ chưa! “Cũ người mới ta” là sao má?

- Tức là có những cái tuy cũ với người khác nhưng đối với mình vẫn là mới! - Nói tới đây, vợ tôi hơi ngập ngừng – Ví dụ những cái áo của anh Luân dù là cũ nhưng vì con chưa mặc qua lần nào, do đó đối với con vẫn là áo mới phải không?

Thằng Quang không hiểu ất giáp gì, nó vỗ tay hét toáng:

- Phải rồi, mới, mới! Má định cho con cái áo ca rô của anh Luân phải không? Con khoái cái áo đó lắm!

Vợ tôi thở phào:

- Ừ, má cho con cái áo ca rô. Còn Nga thì sửa lại cái áo tím than của Nhạn mà mặc, cái áo đó ngó vậy ma còn tốt lắm, con chịu không?

Con Nga lặng lẽ gật đầu, không biết nó buồn hay vui. Nhưng dù sao câu chuyện may mặc vẫn diễn ra tốt đẹp, không rắc rối như tôi tưởng. Thật là một gia đình hạnh phúc!

oOo

Chiều mồng một tết, hai vợ chồng tôi đang dọn dẹp trong phòng thì bỗng nghe ở ngoài hiên tiếng con Nga méc với con Nhạn:

- Cái áo của chị chỉ mục hết trọi mà má kêu tốt. Em vừa thở ra c
ó một cái mà hai hột nút bay đi đâu mất tiêu.

Con Nhạn rầy:

- Ðứt nút là chuyện thường, có gì mà mày la hoảng như vậy. Ðem kim chỉ lại đây tao đơm giùm cho!

Rồi tôi nghe tiếng nó thở dài:

- Thiệt ra tao đâu có ham áo mới, nhưng kẹt phải đi đây đi đó với ba má thành ra phải may. Ít bữa hết tết, tao nói má sửa lại cho mày mặc, đừng lo!

Thiệt con nhỏ ngoan hết biết! Tôi mới khen thầm trong bụng thì đã nghe tiếng thằng Quang – Nó chơi đâu ở ngoài sân mới chạy vô:

- Chị Hai ơi! Cái áo ca rô của em rách rồi!

- Rách ở đâu? – con Nhạn tỏ vẻ lo lắng.

- Ở trên vai đây nè! Em vừa cúi xuống chưa kịp lượm viên bi đã nghe một cái “rẹt”.

- Ðâu? Ðưa tao coi nào! Chậc, rách có chút xíu à! Cởi ra tao mạng lại cho, lát nữa mặc!

Thằng Quang phụng phịu:

- Thôi, em không mặc cái áo “cũ người mới ta” này nữa đâu! Em thích mặc áo mới như anh Luân kìa!

Con Nhạn dỗ em:

- Mặc áo mới cực thấy mồ, sướng ích gì mà ham! Mỏi lưng không dám tựa, buồn ngủ không dám nằm, lúc nào cũng phải giữ cho thiệt sạch. Còn áo cũ thì tha hồ!

Nhưng thằng em không màng nghe lý lẽ của con chị, nó buồn bã “triết lý”:

- Nhà mình không bằng một góc nhà chú Kiệt. Thằng Thảo và con Sương đứa nào cũng có áo mới, chẳng như nhà mình năm nào cũng “cũ người mới ta” hoài!

- Thằng này lãng xẹt! - Con Nhạn nạt – Nhà người ta chỉ có hai anh em trong khi nhà mình tới năm đứa, bì sao được mà bì!

Thấy chị gắt, thằng Quang im re. Một hồi lâu, cũng chẳng nghe nó nói gì. Hình như nó đang lặng lẽ cởi áo. Con Nhạn nói đúng thiệt! - Tôi chua xót nghĩ - Nếu hồi đó mình quyết tâm chỉ có hai đứa thì bây giờ mọi sự tốt đẹp biết mấy! Bất gíác, tôi quay sang vợ và bắt gặp ánh mắt của cô ta. Ánh mắt nói: “Phải chi hồi đó...”171