This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2007

Ai người hẹn ngọc



I
Cuộc đời...!

Chàng Chung Văn Thái con của ông huyện hàm Chung Văn Công ở tại Gò Quao (thuộc về hạt Rạch Giá) năm nay chàng đặng 18 tuổi, học năm thứ ba ở trường Normal. Chung Văn Thái tánh nết hiền hậu vui vẻ, học trong trường thầy mến bạn ưa, ra đường có khuôn phép, hay thương kẻ nghèo hèn, hay giúp người thất nghiệp.

Ông Chung Văn Công năm nay tuổi độ năm mươi sáu, người ốm yếu, bà mất cách sáu năm nay, để lại ông một người con trai đáng quý là chàng Chung Văn Thái đó. Ông Chung Văn Công hồi còn trẻ có làm chức hương Cả trong quận Gò Quao, sau cáo lão nghỉ. Trong năm 1914 - 1918 ông có giúp tiền cho Chánh phủ Pháp đến hai chục ngàn đồng, nên khi Chánh phủ xét công ơn rất đáng nên ban chức Huyện hàm cho ông, thật vinh diệu thay.

Ngày 14 Juillet các trường đều bãi học (nghỉ hè), học sanh nam nữ lo thâu xếp đồ đạc đặng về thăm cha mẹ, viếng bà con, kẻ mua vật này người sắm vật nọ lăng xăng, Chung Văn Thái cũng xuống Chợ Cũ mua ít ký lô nho tươi và ít gói trà hoa cúc đem về cho cha. Chung Văn Thái hỏi người khách trú nho tươi bán bao nhiêu một ký lô, người khách trú nói ba đồng sáu một ký lô.

Chàng trả hai đồng rưởi, người khách kèo nài thêm ba cắc nữa, Văn Thái liền bảo cân ba ký lô, thoạt có tiếng nói sau lưng rằng:

- Thưa thầy, thầy mua lầm rồi, nho nầy mắc lắm chừng một đồng tư là nhiều, thầy muốn mua để em mua giùm cho.

Văn Thái day qua thấy một cô con gái mình mặc áo tiếm, quần trắng, đầu đội khăn màu hột gà, chơn đi giày cao gót, mặt trắng má bầu, chàng xem tướng mạo biết cô học ở Nữ Học Đường. Văn Thái mỉm cười nói rằng:

- Cám ơn cô, nếu cô không nói tôi mua lầm rồi.

- Thiệt vậy thầy à, khách thường trú hay thấy mấy thầy mua đồ ít hay trả giá nói thách cho cao đặng bán lợi cho nhiều.

Cô gái nói rồi đi lại quán khác trả mua có một đồng ba một ký lô, ba ký lô ba đồng chín. Văn Thái cám ơn rồi từ giã xách đồ về.

Sáng lối bốn giờ rưỡi Văn Thái dậy sắp đặt đồ rồi ra bến xe Rạch Giá đặng đi về nhà. Văn Thái đưa đồ lên xe xong thì có một cái xe kéo chạy lại trên xe một cô gái. Văn Thái xem kỹ là cô mua nho dùm chàng khi hôm. Văn Thái lấy làm lạ bước đến chào rằng: "Chào cô, cô cũng về Rạch Giá sao?".

- Thưa thầy, dạ em ở Long Mỹ, còn thầy cũng ở dưới phải không?

- Tôi ở Gò Quao.

- ủa, nếu vậy em cùng thầy ở một hạt mà không biết nhau.

Cả hai lên xe ngồi đâu mặt nhau, Văn Thái hỏi rằng: "Xin lỗi cô, cô ở tại chợ Long Mỹ hay là xa?"

- Dạ thưa em ở tại chợ, ông thân em là ông Hội đồng Trần Như Lân, còn danh hiệu em... thầy xem carte của em đây.

Cô vừa nói vừa mở bóp cầm tay đưa cho Văn Thái một tấm carte opaline, Văn Thái tiếp lấy xem có mấy hàng chữ như vầy:

Miss Trần Thị Loan Anh
2e Année Ecole des Jeunes Filles
SAIGON

Văn Thái xem rồi cười nói rằng:

- Cô con của bác Hội đồng mà tôi không biết, bác Hội đồng thường đến nhà tôi, và hay đi đá gà với ông thân tôi lắm.

- ủa, thầy nói chắc là bác Huyện phải hôn?

- Phải!

- ý, anh đây có phải Chung Văn Thái không?

- Phải.

Văn Thái nói phải xem sắc mặt cô Loan Anh có chiều e lệ. Đến đây cả hai sang qua việc học hành. Xe năm giờ sáng từ Sài Gòn chạy đến Long Mỹ bốn giờ chiều. Đến Long Mỹ, Loan Anh xuống xe từ giã Văn Thái rồi xuống đò qua chợ về nhà. Còn Văn Thái về đến Gò Quao lối năm giờ rưỡi.

Ông Chung Văn Công hôm nay ở nhà cũng trông con về, ông bảo mấy đứa ở bắt gà làm thịt nấu cà ri đặng Văn Thái về ăn. Văn Thái về đến nhà cha con tôi tớ xúm nhau mừng rỡ thật là vui vẻ. Văn Thái mừng cha xong đi đến bàn thờ mẹ thắp nhang lạy ba lạy, mặt buồn dàu dàu, còn ông Văn Công thì chảy nước mắt.

Văn Thái về ở nhà được hai tuần lễ, một hôm ông Văn Công kêu Văn Thái nói rằng:

- Con học còn một năm nữa ra trường, cha không cần thi đậu hay là rớt, cha cho con ăn học đặng biết làm người mà ở đời, chớ không phải cho ăn học đặng làm nô lệ cho cái bằng cấp. Con có trí chắc con không nghĩ như một vài hạng người mà con đã thấy họ đi con đường tối tăm kia... Này, mai nầy con đi cùng cha đặng coi vợ, con biết bác Hội đồng Trần Như Lân chớ, ảnh có một đứa con gái tên là Trần Thị Loan Anh hiện học tại Nữ Học Đường, hôm trước ảnh hứa gả con Loan Anh cho con, việc hôn nhơn này hồi mẹ con còn sanh tiền cũng có hứa với chị Hội đồng, lúc đó chúng bây còn nhỏ lắm.

Văn Thái lúc ban đầu nghe cha bảo đi nói vợ thì buồn, sau nghe nói cô Loan Anh lại vui vì chàng đã để ý rồi, Văn Thái cúi đầu dạ vâng lời.

Hôm sau ông Văn Công dắt Văn Thái đến nhà ông Hội đồng Lân, vợ chồng ông Hội đồng Lân rất vui vẻ, bà hội đồng tánh nết hiền đức, bà tên tộc là Nguyễn Thị út. Đôi bên gặp nhau chuyện trò một chập, ông Huyện nhắc việc hôn nhơn bà Hội đồng liền kêu Loan Anh bảo rót nước cho khách uống, kỳ thiệt bảo ra cho Văn Thái coi mắt.

Đôi bên đều bằng lòng kết sui gia, làm vợ chồng, nên tuần sau cậy ông cả Đức làm mai đến nói, hẹn khi đôi bên học mảng bốn năm khi ra trường sẽ cưới! Ông Huyện có mua cho dâu một đôi bông hột xoàn giá đến ba trăm hai.

Đến ngày tựu trường Văn Thái sửa soạn rồi từ giã ra ngã ba đón xe, khi xe chạy vô Long Mỹ, Văn Thái vái thầm cho Loan Anh đi một chuyến với chàng, dịp may xe vừa đến thấy Loan Anh đã chờ trước. Loan Anh lại lanh mắt thấy Văn Thái cúi đầu chào rồi kêu mấy người Contrôleur bảo để rương lên mui, còn Loan Anh phải ngồi kề bên Văn Thái, vì xe đã chen chật hết rồi.

Đôi bên ban đầu còn bợ ngợ, sau lại làm quen và yêu mến nhau lắm. Văn Thái hỏi:

- Em lên học, bữa chúa nhựt hoặc ngày lễ có ra trường không?

- Dạ có, chúa nhựt nào dì em cũng vô rước, anh biết dì em hôn?

- Không.

- Dì em là vợ của ông đốc Cẫn ở trong Normal, anh biết ông đốc Cẫn chớ.

- ủa, thầy của anh đa.

- Nhà ở đường Legrand de la Liraye số 962. Bữa chúa nhựt anh đến đó thì có em, mà anh cũng nên tỏ cho dượng em biết việc hôn nhơn thì mới để ra nhà.

Cả hai nói chuyện nầy qua việc nọ xe đã đến Sài Gòn, đồng cùng nhau xuống xe rồi chia tay kẻ vô Nữ Học Đường, người vào Normal.

Từ đây thường bữa chúa nhựt nào Văn Thái cũng đến nhà ông đốc Cẫn, mỗi lần đến thì gặp Loan Anh đã ra trường trước rồi, cả hai càng lân la nhau càng yêu mến nồng nàn nhau lắm, có bữa dắt nhau đi dạo vườn Bách Thú xem cỗ tàn - Viện Blanchard de la Brosse, có lúc xem chớp bóng Eden Cinéma hoặc ở Majestic.

Có một lần Văn Thái nói với Loan Anh rằng:

- Em Loan Anh, đôi ta thương nhau đây không phải theo hạng mèo mả gà đồng, mà là đôi bên cha mẹ khéo xe duyên cầm sắt, còn đôi ta từ ngày gần nhau, càng yêu vì nết càng say vì tình không rõ em có lòng thương anh thật chăng?

- Anh hỏi lạ, em cùng anh tuy chưa cưới hỏi nhau, song cũng tiếng vợ chồng, đã vào vòng chồng vợ không yêu làm sao mà ở đời được.

- Em à, cuộc đời thường hay có sự tai biến lạ lùng, rủi khi anh gặp hồi hoạn nạn khốn khó, chừng đó em có đoái đến anh không?

- Anh sao khéo lo những việc bao đồng, mà dầu anh có gặp lúc suy sụp thì em đây cũng quyết phận gái chữ tòng, đắng cay đồng chịu, há sờn lòng nhi nữ đâu. Chết đồng chết với nhau, sống đồng sống cùng nhau, vui chung vui với bạn, buồn chung buồn với phu quân ấy là phận làm vợ.

Văn Thái nghe Loan Anh nói chàng cảm động không cùng, cầm tay Loan Anh và nói:

- Nếu được như lời anh đây thật là người có phước lắm.

*
* *

Năm 19... quan Chánh Tham biện ở Rạch Giá trát cho nhân dân hay miếng rừng từ Sóc Ven chạy đến Đường Xuồng ai có đủ sức khai phá thì khẩn. Ông Chung Văn Công nghĩ tiền bạc cũng còn nhiều nếu để nằm tủ vô ích, chi bằng khẩn đất khai phá thành ruộng sau con nó nhờ, ông nghĩ thế liền khẩn hai ngàn mẫu, rồi xuất tiền mướn nhơn công đốn cây hạ gốc, công cuộc làm ăn thật lớn, ông thiếu tiền phải đến mượn của ông Hội đồng hai chục ngàn đồng hẹn mùa lúa tới góp lúa sẽ trả. Sự đâu tai biến bất ngờ, ông vừa hạ hết cây thì nước tràn lên khỏi đầu gối, nội vùng Gò Quao đến Ngã Năm làm cho lúa mới trổ đòng bị nước ngập thúi gốc chết hết. Đến mùa lúa ông Chung Văn Công không thâu đặng một giạ nào. Không phải một mình ông mà thôi, cho đến các điền chủ khác cũng khoanh tay chịu nghèo, song họ dễ thở là mới thất có một mùa thứ nhứt. Còn ông Chung Văn Công đã tốn trót tám chín chục ngàn khai phá đồn điền lại bị thất luôn làm cho ông thất chí sanh buồn, bởi vậy nên ông sanh bịnh.

Một hôm ông Hội đồng đến thăm thấy ông Văn Công nằm trầm trọng, ông Hội đồng rằng:

- Tôi biết ý anh vì công việc lở dở nửa chừng nên anh buồn, nếu không làm thì thôi, còn làm thì đi cho đến nơi đến chốn, kẻo để thiên hạ họ cười mình không đủ sức. Anh cũng nên lên Banque thế bán khoán vay ít chục ngàn đặng cho tá điền nó vay sửa sang ruộng nương lại, và khai phá cho thành khoảnh đồn điền của anh.

Ông Văn Công nghe ông Hội đồng Lân nói ông cả mừng, liền chịu thế bán khoán đất vay bạc. Té ra mùa tới cũng thất luôn, đúng kỳ hẹn Banque đòi ông không có trả, Banque đưa Thầy Kiện làm phát mãi cả nhà cửa điền sản của ông Văn Công. Ông phải lên Định Tường ở đậu nhà người em chú bác là Hương thân Thanh.

Năm nay Văn Thái đã được bốn năm trong trường Normal (4è Année) gần kỳ thi tốt nghiệp, thình lình chàng được một bức thơ của cha chàng lật đật xé ra xem có mấy hàng chữ như vầy:

"Con Văn Thái,

Nhà cửa tiêu tan, gia tài đi sạch, cũng bởi tai hoạ tự trời mà ra, con mau về lo công việc, kẻo cha buồn rầu ắt không thấy mặt con nay mai.

Hiện thời cha ngụ nơi nhà chú Thanh của con.

Ký tên: Văn Công"

Văn Thái xem rồi hỡi ôi! Chàng lật đật xin thôi học và tỏ hết việc cho thầy bề trên biết, ai ai cũng thương Văn Thái, cả đến anh em bạn học đều đưa chàng bằng giọt nước mắt thương tâm. Chàng về đến nhà chú Hương thân Thanh vào nhà cha con gặp nhau chỉ khóc mà thôi. Cách không mấy ngày ông Văn Công buồn rầu sanh bịnh, Văn Thái khi còn học chàng tằn tiện lắm, mỗi khi cha gởi tiền cho, chàng xài chút ít còn bao nhiêu để dành, bởi vậy trong 4 năm ở trường chàng dư được năm trăm ba mươi hai đồng, nhờ số tiền đó chàng mới có lo chạy thuốc men cho cha, ông Văn Thái bịnh trở đi trở lại trót nửa tháng trời rồi mới qua đời.

Ông Hội đồng Lân hay tin có đến đi điếu hai chục đồng bạc rồi về liền chớ không ở uống nước hoặc dùng cơm.

Văn Thái còn được ba trăm lo chôn cất cha xong, chàng buồn liền từ giã chú lên Sài Gòn kiếm công việc làm.

II
Thất chí - buồn tình

Văn Thái tuy nhỏ tuổi song cũng biết chút ít thế thái nhơn tình, vì chàng có đọc nhiều sách lắm, chàng thấy cách lạt lẽo của cha vợ thì đủ rõ nguội lạnh rồi, nên chàng không muốn ở tại xứ sở và đến e khi có điều không tốt, chàng nghĩ lại còn có một tấm lòng son sắt của Loan Anh mà thôi. Chàng lên Sài Gòn xin làm ở hãng bán hột xoàn là hãng: "Mai - Lê & Cie" ông chủ hãng là ông Lê Trung Trực biết thương kẻ mắc tai nạn lắm. Văn Thái làm Comptable lương bổng mỗi tháng đặng sáu chục đồng.

Từ ngày chàng lên Sài Gòn làm việc đến nay được bốn tháng, chàng có ý đón Loan Anh song không gặp, có lẽ tại chàng không muốn đến nhà ông đốc Cẫn, còn Loan Anh ít hay đi đâu chăng?

Năm nay Loan Anh cũng còn có một năm chót ra trường.

Một hôm, nhằm ngày chúa nhựt, lại đầu tháng, Văn Thái dậy sớm tính ra Salle de vente mua một cái tủ đứng về đựng quần áo. Chàng đi đến ngạn Xã Tây gặp ông Hội đồng Lân đi với một người thanh niên mặc đồ xẹt xám. Văn Thái cúi đầu chào rằng:

- Thưa cha mới lên.

Ông Hội đồng Lân gật đầu rồi hỏi:

- Thầy hai, bây giờ thầy làm việc chi ở trên này?

- Dạ thưa con làm ở hãng "Mai - Lê & Cie".

- Lương có đủ xài không?

- Thưa mỗi tháng được sáu chục, đủ xài.

Người thanh niên đi với ông Hội đồng Lân trề môi nói rằng:

- Thứ sáu chục đồng mà xài nỗi gì cho đến một tháng lận, tôi đi chơi điếm một đêm còn hơn.

Văn Thái không quen biết với người này lần nào, mà thình lình nghe nói mấy lời khi thị ấy thì chịu không nổi. Văn Thái liền nói rằng:

- Thầy giàu thì thầy ăn xài lãng phí trối kệ thầy sao thầy tự phụ và khi bạc người thái quá vậy.

Ông Hội đồng Lân binh người trai ấy nói với Văn Thái rằng:

- Thầy hai, thầy không kể tôi là gì nên nói cách vô lễ ấy, ai có động chạm tới thầy đâu mà.

Người trai đi với ông Hội đồng nói:

- Thằng chó chết, đồ làm tôi tớ cho người ta mà làm phách, động đến tao thì tao đập bể đầu cho mà biết mặt.

Văn Thái nghe nói nổi giận cung tay thoi vào mặt người trai ấy một thoi, người trai ấy cũng thoi lại, kế mấy thầy đi ngang qua xúm lại can ra và hỏi thăm tự sự. Văn Thái liền tỏ hết cho mấy thầy nghe, thoạt có người mặc đồ âu phục nỉ, đầu đội nón Borsalino, tay xách ba ton chen vô đánh trên đầu người trai đi với ông Hội đồng Lân một ba ton và mắng rằng:

- Tôi cho thầy một bài học, đừng có khi dễ người ta, chính tôi đây hay khi dễ những đứa vô lương tâm như thầy vậy.

Người trai ấy móc súng sáu ra muốn bắn, người mặc đồ nỉ nạt rằng:

- Thầy để cây súng xuống đất cho mau.

Người trai ấy riu ríu để cây súng xuống. Người mặc đồ nỉ bảo thầy quỳ gối khoanh tay lại. Người trai ấy cũng vâng theo.

Bây giờ xem rõ người mặc đồ nỉ là ông chủ hãng "Mai - Lê & Cie" là ông Lê Trung Trực. Còn người trai đi với ông Hội đồng là ai? Tên gì? ấy là Paul Lê Văn Khã, ở tại Bạc Liêu, người ta thường kêu là công tử Khã, hoặc cậu hai Khã, hay Paul Khã (dân tây).

Ông Hội đồng Lân đã gả Loan Anh cho Paul Khã rồi, còn lối năm tháng nữa sẽ cưới.

Nhắc lại ông Lê Trung Trực dùng thôi miên thuật bảo Paul Khã quỳ, ông chỉ ngay mặt mắng rằng:

- Thật thầy là loài thú vật chớ không phải người ta, thầy không biết thương kẻ đồng loại với thầy, lại dùng nhiều tiếng khi thị người ta thua một con đĩ, tội của thầy thật không còn chỗ nào hạn chế được, xã hội không dung thầy đâu. Tôi phụ thuộc vào có hai lẽ, một vì thầy là con vi trùng hôi thối của xã hội, tôi rửa dùm cho thầy, hai nữa thầy nhè người làm việc yêu mến của tôi thầy khi, sáu chục bạc lương của tôi phát không bằng thầy chơi điếm một đêm. Tiếng nói thật là ngu dại hết sức, sao thầy không nghĩ tiên tổ ông bà cha mẹ của thầy làm đổ mồ hôi xót con mắt, bán sanh bán tử đặng để lại cho thầy chơi điếm phải chăng? Tôi xem tướng mạo của thầy thật là một đứa đoản hậu của xã hội, sau nầy thầy không làm gì nên thân nên tôi tha thứ cho. Thôi đi đi.

Mấy lời nói của ông Lê Trung Trực làm cho mấy thầy đứng xung quanh vỗ tay lốp bốp như khen một vị Bác sĩ diễn thuyết phát minh được một món gì vậy. Còn ông Hội đồng Lân và Paul Khã nghe ông Trung Trực bảo đi thì đi mới đặng, cả hai hổ thẹn đi mất. Ông Trung Trực, Văn Thái cùng mấy thầy cũng giải tán.

Văn Thái tính đi mua tủ mà gặp việc gây gổ giữa đường làm cho chàng buồn lòng liền trở về. Lần lựa trót hai tuần lễ Văn Thái có ý kiếm giáp mặt Loan Anh đặng tỏ đôi lời. Một hôm nhằm ngày lễ ông Doumergue được bầu cử lên ngôi Tổng thống Pháp đình, Văn Thái được nghỉ một bữa, chàng thay đồ vào vườn Bách thú đặng đón Loan Anh. May sao chàng vừa đến chỗ hầm nuôi gấu, thấy Loan Anh đứng với cô ba Tuyết Lệ con của ông Đốc phủ Hoàng Ngọc Diệp, cô Tuyết Lệ học một lớp với Loan Anh và nhà ở gần ông đốc học Cẫn nên hai người thường lân la yêu mến nhau lắm. Cô ba Tuyết Lệ thấy Văn Thái liền kêu Loan Anh nói rằng:

- ý, anh hai kìa chị hai, cha chã mấy tháng nay sao ảnh không lại nhà bác đốc học chơi?

(Tuyết Lệ biết Văn Thái là vì trước Văn Thái hay lại nhà ông đốc Cẫn là dượng của Loan Anh và thường đi chơi với Loan Anh. Có một hai khi Tuyết Lệ cũng đi theo nữa).

Văn Thái nghe Tuyết Lệ hỏi chàng tỏ sắc buồn đáp rằng:

- Mấy tháng nay tôi có việc nhà nên không đi đâu được hết.

- Bác có mạnh hôn anh?

- Cám ơn cô ba, ông thân tôi đã qua đời cách ba bốn tháng nay.

- Huý...

Cả hai nói chuyện, còn Loan Anh ngó chỗ khác không hỏi điều chi hết, cho đến đổi nghe Văn Thái nói cha chết nàng cũng điềm nhiên. Văn Thái thấy cử chỉ của Loan Anh chàng cũng bất nhẫn trong lòng, mà Tuyết Lệ cũng dòm Loan Anh và lấy làm lạ cho nàng lắm. Bây giờ Loan Anh hỏi rằng:

- Anh đi đâu đây?

- Đi chơi.

- Anh thong thả dữ chớ, cha tôi có bảo tôi kiếm anh nhắc số tiền hai chục ngàn của bác mượn của cha tôi năm ngoái, anh phải trả lời cho cha tôi biết trả hay là không trả thì cha tôi không ăn lời, còn như không trả thì phải đến giáp mặt cha tôi xin một tiếng cha tôi cho liền.

Văn Thái nghe nói dường như ai cầm dao đâm vào dạ, mấy tiếng của Loan Anh vừa thoáng qua tai chàng, làm cho chàng vừa buồn vừa thẹn. Văn Thái vừa muốn trả lời thoạt Tuyết Lệ từ giã rằng:

- Em xin kiếu anh chị, sao thình lình nó bắt chóng mặt quá.

Tuyết Lệ nói rồi kêu xe kéo bắt chạy về. Tuyết Lệ đi rồi Văn Thái nói với Loan Anh rằng:

- Số tiền cô nói đó tôi không hay, vì khi ấy tôi còn học, việc nhà của tôi suy sụp cha tôi không cho tôi hay, để cho đến khoa học mất hết gia tài cha tôi thọ bịnh ở nhà người chú bà con, khi ấy mới gởi thơ cho tôi biết, tôi về gặp cha tôi đau trầm trọng kế mất...

- Bộ tính giựt của người ta sao chớ...

- Cô hai, xin cô nhẹ tiếng lại một chút, không phải tôi chạy chối rằng cha tôi không có mượn, tôi nói là tỏ ý cho cô biết cha tôi bị thất chí sanh bịnh nên nói cho tôi hay không kịp. Còn tôi bây giờ nghèo lắm. Song cũng phải làm thế nào có số bạc trả cho bác, chớ lẽ nào để cho cha tôi còn mang nợ ở dương gian sao đành.

- Thầy đi làm cho người ta mỗi tháng có mấy chục bạc lương làm sao mà trả? Thôi thầy phải đến năn nỉ với cha tôi, chớ tôi không cần biết việc lôi thôi nầy, xin kiếu thầy.

Loan Anh nói rồi ngoe ngoải bỏ đi, Văn Thái đứng ngó theo mà hai hàng nước mắt chảy ướt má. Chàng ngó khi Loan Anh đi khuất dạng mới lần bước trở về, trọn ngày nay mấy tiếng nói bạc bẽo của Loan Anh cứ văng vẳng bên tai chàng hoài, và làm cho chàng biếng ăn biếng ngủ.

III
Lại còn cuộc đời nữa

Ai là người rõ biết cuộc đời thì người ấy đã từng dạn gió dày sương nhuộm màu nâu sạm, đã từng lên bãi xuống gành vào sanh ra tử. Còn Văn Thái đây tuổi còn ấu xuân niên thiếu, có đọc được ba quyển sách đời, song cuộc phong ba chưa trải, nay thình lình gia biến bất kỳ, thói đời đen bạc thinh không làm chàng bầm gan tím ruột.

Trọn hai tháng sau Văn Thái tiếp được gần mười cái thơ của ông Hội đồng Lân gởi đòi tiền, chàng viết thơ năn nỉ. Bức thơ chót ông Hội đồng Lân lại đòi mướn kiện bắt giam thâu. Văn Thái buồn rầu chất chứa một hôm chàng đi làm việc về thay đồ xong đóng cửa ra đi, chàng lên vườn thú kiếm một cái băng khuất tịch ngồi mặt buồn dàu dàu, thỉnh thoảng thở ra một hơi dài rồi đôi giọt nước mắt đua nhau chảy xuống má. Thoạt chàng đứng dậy nói lên rằng:

- Thôi, còn sống mà làm chi nữa...

Chàng vừa nói vừa thọc tay vào túi lấy ra một con dao nhỏ toan đâm vào họng, thoạt có người nắm tay kéo lại nói rằng:

- Khoan, việc gì mà phải chết a anh hai.

Văn Thái giựt mình buông con dao dòm thấy cô ba Tuyết Lệ và đứa em trai cô là Hoàng Hồng Anh, tuổi lối mười hai. Văn Thái thấy Tuyết Lệ chàng hổ thẹn lắm, song gắng gượng nói rằng:

- Cô ba ôi! Tôi thật là một đứa vô ích cho xã hội, thà chết cho mát thân, chớ sống làm chi thêm một đứa vô tri vô giác trong xứ nầy nữa.

- Anh nói lạ, tại sao mà anh tự ái em cũng rõ rồi. Anh đừng buồn rầu mà làm chi, em gặp hoàn cảnh như anh vậy em không buồn mà vui, vui vì được một bài học xã hội luận, có giống bạc tình phụ nghĩa, ham sang phụ khó, mới rõ những người trọn tiết trọng tài, có người dở mới đỡ người hay, mà ở đời những loài vô nhơn đạo mà ta còn kể chúng nó ra gì. Anh không nghĩ đến mà mừng, anh cưới vợ chắc anh lo chọn hiền đức, biết yêu chồng thương con, nếu chí anh như vậy thì nên mừng, phải chi anh còn giàu có, anh sẽ cười lầm một người vợ vô nhơn đạo là cô Loan Anh kia rồi. Buồn mà chi, sầu mà chi, cái giống người ấy nó đâu có mãnh lực gì cho một đấng mày râu như anh phải tự tử. Nếu nói rằng vì gia biến hoá nghèo mà buồn, song lẽ đó lại càng phi lý lắm. ở đời mỗi người phải cần của phụ ấm, thì cái xứ sở đó phải tiêu diệt đi còn gì, ta làm người đừng ỷ lại vào ai cả, hai bàn tay trắng đủ tự lập nên sự nghiệp, sự nghiệp đó là sự nghiệp danh dự, đó là cái huy chương lộng lẫy của mình vậy. Em xin khuyên anh.

Văn Thái nghe mấy lời nói của Tuyết Lệ dường như một ánh sáng mới thoát qua trước mắt bao nhiêu những sa mù đều tiêu tan mất cả, chàng ngó Tuyết Lệ tạ ơn rằng:

- Đa tạ ơn lòng hạ cố, tôi đã quấy rồi thôi từ đây không vì một sự nhỏ mà phế cái công to sẽ bước đến. Cô ba, cô thật là ân sư của tôi đó.

- Em đâu dám... xin anh đừng buồn làm chi vô ích anh.

Đến đây trời đã tối đôi bên từ giã, ai về nhà nấy.

Từ đấy Văn Thái quên hết sự buồn, gắng làm việc và tiện tặn đặng lo cơ nghiệp về sau.

*
* *

Xung quanh những nước non nhà Trời Nam đất Việt quê ta xứ mình.

Cũng một buổi chiều, cũng trong vườn bách thú cũng tại cái băng xanh, cũng dưới cội tùng, mà cũng vẫn nơi Văn Thái toan quyên sinh rồi giác ngộ khi trước. Mà hôm nay cũng phong cảnh đó, trời đất này lại có một nàng con gái xuân xanh sắc sảo đang ngồi âu sầu buồn bực, tay cầm một bức thơ đọc rồi khóc, khóc rồi đọc, một bên nàng có một con chó nằm khoanh mặt cũng buồn giùm cho chủ nó vậy. Nàng ấy lấy khăn mouchoir chậm nước mắt rồi mở mảnh giấy đọc nho nhỏ lại rằng:

"Gởi cô Tuyết Lệ.

Thưa cô, tôi cùng cô trót yêu nhau đã năm sáu năm rồi, khi tôi sang Pháp du học có hứa thành tài về tỏ lại cho cha tôi rõ đặng cưới cô, nào dè khi về cha tôi đã có nói vợ cho tôi rồi. Bổn phận tôi làm con không lẽ cãi lời, vậy tôi gởi thơ này cho cô hay, hãy tiềm nơi hiền đức mà trao thân. Còn duyên của tôi cùng cô không còn gặp đặng nữa.

Đôi lời cho cô rõ.
Ký tên: Docteur Đắc Kế"

Cô Tuyết Lệ xem bức thơ rồi úp mắt dựa băng mà khóc. Cô ngồi đến chín giờ tối thấy vắng người lai vãng liền thò tay vào túi lấy ra một sợi dây bằng bốn sợi dây lưng nối lại, đi lại một nhành cây vói cột sợi dây rồi toan tròng vào cổ, thoạt con chó nhảy lại cắn ống quần cô lôi lại và tru cách thảm thiết. Tuyết Lệ thấy con chó Mi-nô còn biết yêu chủ mến tình, nàng khóc và nói rằng:

- Mi-nô ôi! Mi còn cản làm chi, để cho ta chết. Cha mẹ ôi! Con cam bất hiếu từ đây... thôi thôi!

Tuyết Lệ nói đến đây đút đầu vào vòng, con chó Mi-nô cắn quần trì và tru rất giữ, bây giờ có một người mặc âu phục chạy đến nắm tay Tuyết Lệ và gỡ xuống nói rằng:

- Khoan, việc gì mà phải tự tử vậy cô ba?

Tuyết Lệ mở mắt thấy Văn Thái nàng dùng một cái mạnh đứng xích ra nói rằng:

- Phải rồi, nào hay đâu tôi cùng anh...!

Văn Thái nghe nói lấy làm lạ đứng ngó sững. Tuyết Lệ bước lại kéo tay Văn Thái nói rằng:

- Chắc anh nghe em nói anh lấy làm lạ lắm phải hôn? Anh lại ngồi đằng băng cùng em rồi em sẽ tỏ hết cho anh nghe.

Văn Thái không nói lời gì, cứ đi theo Tuyết Lệ đến băng cả hai ngồi xuống rồi, Tuyết Lệ nói rằng:

- Xưa em gặp anh muốn tự tử em cứu cấp và phân những lời rất phải làm cho đến đỗi anh là người học thức rộng mà phải nghe theo và giác ngộ. Còn hôm nay em đi tự tử đây cũng lâm vào cái cảnh như anh vậy, nào dè anh kịp đến mà em vừa thấy anh lại sực nghĩ mấy lời trước rồi kịp tỉnh ngộ. Anh ôi! Anh cũng bị kẻ bội nghĩa, em gặp đứa phụ tình. Hai ta coi đời là nguội lạnh... Thôi thôi thiên ngôn vạn ngữ bất quá hồi thiệt, nếu anh chẳng chê em xin cùng nhau kết nghĩa trăm năm, vì ông lang trị bịnh Thầy Thuốc thật là quý, anh có bằng lòng không?

Đoạn nàng thuật hết việc nàng cho Văn Thái nghe. Văn Thái cũng cảm động và giận Docteur Đắc Kế lắm. Chàng ngó Tuyết Lệ đáp:

- Có chi hân hạnh bằng đài gương soi đến dấu bèo, song biết người trên có vui lòng ưng thuận không?

- Cha và mẹ em thương anh lắm, hằng tiếc anh hoài, em trộm nghe cha mẹ ước rằng phải chi anh sớm nói em thì cha mẹ em bao bọc anh cho đến cùng. Anh cứ cậy mai đến nói thì xong, nếu anh cậy được ông Lê Trung Trực hoặc bà Mai Tuyết Trinh thì tốt lắm.

Văn Thái cả mừng hứa chịu. Cả hai hẹn xong từ giã ra về.

Ba tháng sau một cái đám cưới tại Sài Gòn, ông Lê Trung Trực đứng làm chủ hôn và xuất tiền làm đám cưới rất long trọng, ấy là Văn Thái cưới Tuyết Lệ vậy.

Văn Thái cưới Tuyết Lệ xong, ông đốc Hoàng Ngọc Diệp cho tiền lập ra một cái tiệm bán đồ hàng vẽ tại đường Catinat một ngày một tấn phát.

Một hôm Văn Thái đang ngồi đếm tiền thoạt nghe tiếng la ó ngoài cửa tiệm, chàng thấy lạ đồng cùng vợ là Tuyết Lệ bước ra xem, thấy một người thanh niên mặc đồ tây bố trắng đang cung tay thoi lia lịa vào mặt một người đàn bà có chửa. Văn Thái thấy vậy trái mắt liền ra can ra, anh thanh niên thấy Văn Thái can thôi đánh rồi nói rằng:

- Ông nghĩ thử coi, vợ gì khốn nạn quá vậy, nó cứ theo mắng chưởi tôi hoài.

Người đàn bà nói:

- Vậy chớ mày cờ bạc cho gia tài tiêu sạch, lại làm giấy nợ giả hại cho cha tao bị tịch biên nhà cửa và bị giam thâu tao không chưởi mày sao đặng.

- Thằng cha mày vay tiền chà chớ tao sao? Mày nói nữa tao đánh chết cha cho biết mặt, đừng có ong óng họng, giữ hồn đa.

Thoạt nghe cô Tuyết Lệ nói rằng:

- ủa, chị có phải chị Loan Anh không?

Loan Anh và Paul Khã mắc lo gây nhau không nhìn rõ ai hết, khi nghe hỏi là hai người dòm thấy Văn Thái và Tuyết Lệ đứng gần nhau, Tuyết Lệ níu tay Văn Thái vừa hỏi mấy lời, làm cho cả hai hổ thẹn lắm.

Loan Anh gắng gượng đáp rằng:

- Dạ thưa phải, cô ở đây sao cô ba?

- Phải vợ chồng tôi lập tiệm đây.

Văn Thái nói:

- Thôi, việc vợ chồng lâu dài, người nhịn một chút tốt hơn. Xin mời thầy cô vào tiệm nghỉ và tôi có việc hỏi thăm.

Cả hai ríu ríu theo Văn Thái vào tiệm, Văn Thái và Tuyết Lệ mời ngồi rồi hỏi thăm việc nhà. Té ra Loan Anh thuật hết đầu đuôi tại Paul Khã xài phá gia tài hết sạch, mẹ nàng buồn rầu chết, Paul Khã lại rước thầy ngải bỏ cho ông Hội đồng Lân lên hỏi bạc chà hai chỗ, một chỗ năm chục ngàn, một chỗ ba chục ngàn. Chỗ năm chục ngàn đã kiện tịch biên gia sản, còn chỗ ba chục ngàn kiện giam thâu ông Hội đồng Lân. Văn Thái nghe nói ngó Tuyết Lệ nói rằng:

- Xưa cha tôi mất, ông Hội đồng và cô hai đây gặp tôi, nói cha tôi có mượn hai chục ngàn trót mấy năm nay, vậy mình cũng nên vui lòng cho tôi trả lại lời vốn ba chục ngàn cho cô hai đây trả nợ và chuộc cha cổ ra, mình nghĩ sao?

Tuyết Lệ cười rằng:

- Xưa rày tôi muốn nhắc mình việc đó, song thấy mình mắc lo công việc gởi thơ bên Tây mua hàng tôi sợ mình mệt nên chưa dám tỏ. Hôm nay sẵn đây mình cũng nên trả nợ đời cho rồi.

Tuyết Lệ nói dứt lời lấy chìa khoá đi lên lầu mở tủ sắt lấy xuống một nắm giấy săng và nói rằng:

- Còn có hai mươi bảy ngàn trong tủ, để tôi qua tiệm ông Bernard mượn đỡ ba ngàn về nhập đủ ba chục ngàn trao cho Loan Anh.

Loan Anh và Paul Khã cám ơn và cúi đầu chào cách cung kính rồi lui gót.

Paul Khã và Loan Anh đi rồi thì Tuyết Lệ ngó Văn Thái cách thương yêu nói rằng:

"Ai người hẹn ngọc" mà không nên đôi lứa, riêng tôi mình lại đặng phước trời cho thật là vui vẻ, phải hôn mình!

Văn Thái gật đầu cười một cách toại chí vô cùng.
122

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2007

Bán Con Vào Chùa



Hồi ký

Ba mẹ cho tôi biết, từ khi tôi được chào đời cho đến 4,5 tuổi thể chất ốm yếu, thường hay bị bệnh tật với đủ loại sốt, mụn nhọt, rối loạn tiêu hoá thật là khó nuôi dưỡng. Với ý nghĩ thời bấy giờ cho là có ma quỷ, vong nhân ám hại. Hơn nữa nền y dược cổ học, gia truyền chẩn lý thiếu thực nghiệm và hiệu ứng cấp thời.

Vì vậy ba mạ tôi tin nghĩ thần linh qua bùa chú thầy pháp rất cuồng nhiệt. Người nghe thầy pháp (thầy cúng) am, miếu nào linh thiêng thì bồng tôi đến đãy cúng cầu, từ ngày tháng nầy qua ngày tháng khác. Có nơi phải đi mất nữa ngày đường với đôi chân, lưng đìu tôi, từ những am thầy Trần ở làng Chuồn, miếu Ông ở Thuận an, gần nhất là am Ông Bạo tên đồi Dương Xuân, am Ông Búa ở làng An Ninh gần chùa Thiên mụ.

Sau cùng bồng dắt tôi lên Nam giao bán vào chùa Vạn-Phước. Nơi mà thân quyến và ba mạ tôi đã quy y. Ðến gần cổng chùa, sau khi ngồi nghỉ sức và sắp xếp lễ phẫm dưới gốc cây Bồ Ðề cổ thụ - Ba Mạ dắt tay tôi chậm rãi tiến vào khu nhà trù (tri khách) gặp Sư chấp sự kính lễ .

Ðộ khoảng 10 giờ, Sư chấp sự hướng dẫn Ba Mạ và tôi đến trình Hoà thượng trụ trì. Tiếp đó Sư hướng dẫn lên tiền đường, đến quỳ trước bàn Phật chờ đón Hòa thượng và chư tăng hành lễ .

Từ khi đến quỳ trước Phật, Ba mạ dặn bảo tôi không được khóc hay đứng dậy, cũng như nhìn bên ni bên tê mà Phật quở. Thật ra khi mới đến trước bàn thờ, với cảnh trí uy nghi đã cho tôi một cảm giác lo sợ, nên ngoan ngoãn quì ngồi rất khuôn phép như lời Ba mạ dặn bảo .

Sau một thời gian hành lễ tụng kinh, Ba mẹ đón nhận quần aó màu vàng có ấn son và chữ kệ chú do Hoà thượng trao. Ba mạ mặc vào cho tôi xong, Hoà thượng và chư tăng trở về hậu liêu. Thầy chấp sự hướng dẫn Ba mạ và tôi xuống nhà khách thọ trai .

Thọ trai xong, Ba mạ dắt tôi vào đảnh lễ Hoà thượng và xin phép ra về. Về đến nhà, ba mạ dẫn tôi đến trước bàn thờ tổ tiên chỉ dạy bái lễ và căn dặn tôi :

- Ba mạ bán con vào chùa rồi đó

- Từ nay con thuộc nhà chùa và luôn luôn mặc quần áo này.

- Áo quần này là của Phật, của Hòa thượng thí pháp độ mệnh cho con.

Tôi hỏi : - Vì răn ba mạ bán con rứa ? - Bán là răn rứa hả mạ ?

Ba mạ bảo bán đây là húy kiêng, mai mốt lớn lên con mới biết. Vì rứa nên con mặc quần áo này, để khỏi đau ốm ( lớn lên mới thấy rõ người lớn tuổi mới gọi là quy y, trẻ thơ gọi là bán theo lòng tin con khó nuôi ).

Từ đó trở đi tôi ngoan ngoãn mặc áo vặt hò màu vàng ( tương tự áo dài, nhưng ngắn gần đến đầu gối ) có dấu ấn son kệ chú, quần dài màu vàng và đeo dãi bùa ở cổ và chân.

Sự huyền diệu khó chứng minh giải thích (trần thế cho truyền hoặc mê tín ). Nhờ đó mỗi ngày bệnh hoạn tôi giảm bớt, ăn uống được bình thường và cơ thể cứng rắn dần. Gia đình nội ngoại và nhất là ba mạ tôi vô cùng tôn kính và vui mừng. Cho nên ba mạ thường dắt tôi lên chùa lễ Phật. Những ngày đại lễ hay trai đàn, luôn được dắt theo đi lễ khắp các chùa tại Huế. Ðến nay, tôi vẫn tín thành sự huyền diệu duyên sinh của tôi từ tấm bé được ba mạ thuật lại.

Năm lên sáu được đưa đến trường cấp Sơ-học ( cours élémentaire ). Một ngạc nhiên ngây ngô mới là tôi được mặc quần dài trắng thay màu vàng, vẫn áo vạt hò vàng như thường lệ, lại mặc thêm áo dài màu đen bên ngoài. Tôi khóc lóc không chịu mặc áo đen quần trắng. Ba mạ khuyên dụ mãi mới dẫn tôi đến được trường nhập học.

Ngày đầu tiên còn bẽn lẽn với các bạn bè cùng lớp, vài ngày sau quen dần, có bạn lớn hơn ở lớp khác tinh nghịch, trong giờ ra chơi đã chạy lại kéo vạt áo đen bên ngoài rồi chế diễu " Con thầy chùa mặc áo vàng ! Hắn có bùa !!! " Tan học về nhà tôi khóc lóc và kể lể lại câu chuyện bị chế diễu. Và thưa trình ngày mai đi học không chịu mặc áo vạt hò vàng.

Tối hôm ấy, ba mạ tôi khuyên dụ tôi vô kể, tôi vẫn không chịu. Ba mạ mới răn dọa là nếu không chịu mặc áo vạt hò vàng và đeo bùa dãi thì con sẽ bị đau ốm, ma quỉ theo dắt. Áo bùa là của Phật, của Hòa thượng, để giữ gìn con. Từ đó làm tôi sợ và ngoan ngoãn theo lời, dù cho bị bạn bè chế diễu .

Sau hết cấp Sơ học lên cấp Tiểu học ( Cours primaire complémentaire ), tôi vẫn còn mặc chiếc áo vạt hò , quần dài màu vàng ( đi học mặc quần trắng ). Năm 11 tuổi sau lễ xả phục mới thôi mặc và thôi đeo dãi bùa .

Năm 1940, lúc đó tôi đang học cấp Trung học (Lycée = D'instruction secondaine) thì tại vùng gia quyến tôi cư ngụ, khuôn - hội Phật học trực thuộc Hội An nam Phật học đang bắt đầu vận động hình thành Ban Ðồng Ấu do anh Viễn gia quyến cụ Nghè Ðường phụ trách.

Gia quyến cụ Nghè và Ông tôi là chỗ quen biết, nên Anh Viễn thường đi lại trình bày về Phật học và giải bày việc thành lập Ban Ðồng Ấu, cũng như ý nghĩa cách thức họp thành của Ðồng Ấu, ngoài phần học đạo, ca hát, vui chơi lành mạnh tương tự như hướng đạo. Ðồng thời xin phép cho tôi theo anh để lập Ban Ðồng Ấu địa phương và các Khuôn hội trong huyện anh phụ trách.

Theo lệnh Ông tôi, Ba mạ - nhất là mạ tôi thuận ngay. Từ đó cứ ngày thứ năm và ngày chủ nhật trong tuần ( thời ấy hai ngày này nghỉ học ) là tôi được anh phụ trách ( cách gọi lúc đó ) lại nhà dẫn tôi cùng đi lo việc đồng ấu. Thỉnh thoảng lại tháp tùng theo anh lên chùa Từ Ðàm dự cuộc gặp gỡ bàn việc Ðồng Ấu giữa Bác sĩ Lê Ðình Thám, vài vị thành viên của Hội An nam Phật học ( kỹ sư Tôn Thất Tùng, Nguyễn Khoa Toàn, Ni Sư Diệu Không... ) và một số anh cùng phụ trách như anh Viễn .

Nhờ đó, tôi biết những người phụ trách như anh Viễn được Hội An nam Phật học của Bác sĩ Tâm-Minh Lê Ðình Thám giao phó cho việc Ðồng Ấu như các anh Lê Bối, Tráng Thông, Sỹ , Quán ... về sau được biết danh Ðoàn Phật học Ðức dục bên báo Viên Âm có anh Cường.

Tổ chức Ðồng Ấu lúc ấy, rất đơn sơ ở thời kỳ phôi thai của một đoàn thể Phật học. Nội dung sinh hoạt có học kinh, tụng niệm, nghe giảng rất sơ đẳng về Phật học, rước lễ, hộ niệm, tập hát theo nhạc điệu Ðăng đàn cung, Kim tiền, Lưu thủy. Và một số bài hát theo nhạc điệu tân thời ( phần lớn dạy hát thuộc lòng, ít ai biết ký âm pháp, nhạc cụ hiếm, chỉ có Mandolin hay Banjo ), cùng những hình thức lửa trại, trò chơi, gút, morse, rập khuôn của Hướng đạo (do anh Tráng Thông, Lê Bối gốc hướng đạo ).

Trang phục áo đen dài, quần trắng học trò ( đi trại có áo cổ viền ngắn ). Về sau ( 1942 ?) mới có đồng phục chemise màu đà ( Hướng đạo màu nâu gụ ) quần dài đen lưng dây thun ( nông thôn chưa đồng bộ ).

Hệ thống điều hành lúc bấy giờ :

- Ban phụ trách Ðồng Ấu trực thuộc Hội An nam Phật học.

- Các khuôn h
ội Phật học là Ban Ðồng Ấu. Ban Ðồng Ấu phân chia thành các Ðội, Chúng.

Một tiêu biểu cho truyền thống huy hiệu HOA SEN bây giờ của GÐPT , lúc đó đã chuẩn lấy hoa sen 8 cánh làm tiêu biểu chung từng đội, chúng trong các Ban Ðồng Ấu với màu sắc khác nhau như :

- Ðội sen vàng hay Ðội sen xanh.

- Chúng sen đỏ hay Chúng sen trắng.

và bài hát khi hành lễ là bài " Lục cúng " sau đổi là " Trầm hương đốt ".

Từ đó Ban Ðồng Ấu phát triển với cường độ thuận lợi, tại thành phố và nhất là ở nông thôn, được tín hữu khuôn hội tán trợ, hơn nữa những hình thức hoạt động rất thiết thực hữu ích như hộ niệm, rước lễ, tư cách người đồng ấu học đạo, nhất là các kỳ đi trại. Bất cứ cắm trại tại địa phương nào, có hay không có khuôn hội, nội dung chính là làm Việc Thiện ( nay là xã hội ). Nghĩa là ngoài phần lễ Phật, lửa trại, trò chơi còn chỉ dẫn đồng bào về phương pháp vệ sinh, ngừa bệnh, thực hiện công tác quét dọn những khu phố rác rưởi, khơi mương rãnh. Quy tụ trẻ em trong khu phố cùng vui hát .

Vì vậy, những làng xã, phường xóm chưa có khuôn hội, nô nức vận động tín hữu thành lập khuôn hội, để có Ban Ðồng Ấu như là một sự ganh đua đầy hứng khởi .

Hạ bán niên 1945 hình bóng Ðồng Ấu ngừng vắng thời gian. Khoảng hai năm sau tổ chức Ðồng Ấu được phục hồi, do một số anh chị cũ và mới ( Anh Cường, Thầy Minh-Châu, chị Cúc, A Tuân ... , vắng bóng anh Viễn ), qua cuộc gặp gỡ đầu tiên tại biệt thự đường Nguyễn Hoàng ( thời trước là Rue Paul Bert ). Bắt đầu từ đây có sự canh tân lớn lao của tổ chức, về mọi mặt hình thức cũng như nội dung. Ban Ðồng Ấu trước đây cải đổi thành Gia Ðình Phật Hóa Phổ. Tiếp theo những thời gian sau (1950 ) đổi thành Gia Ðình Phật Tử.

Trong tuổi thanh xuân học trò, với bản tính trầm lặng, khiêm tốn gia phong và nhuốm máu tài tử ( amateur ) lại tiếp vào tuổi trưởng thành bước vào ngưỡng cửa cuộc đời của kiếp nhân sinh với mưu sinh, nên tôi chỉ là bạn đoàn tình lam. Từ bạn đoàn được các Trưởng tình lam, đại đức tôn kính Ủy viên Thanh niên, Giáo hội Tăng già Bắc Việt , cho đạt mời tham gia làm gia truởng, Ban viên Ban Hướng Dẫn thuộc Giáo hội Tăng Già Bắc Việt Tại Miền Nam.

Tiếp theo, do thiện duyên, người Ðồng Ấu, Bạn Ðoàn năm xưa lại được cử làm thành viên phái đoàn Huynh Trưởng GÐPT Bắc Việt dự đại hội GÐPT toàn quốc 1964. Sự hiện diện trong thành phần phái đoàn trở đi làm ngạc nhiên cho những áo lam quen hay lạ của các thế hệ cũ, mới đã hiện hữu từ Ðồng Ấu hay GÐPT, trong đôi mắt ngỡ ngàng với những dấu hỏi :

- Từ đâu ? Có phải Huynh trưởng ?

- Sao GÐPT Bắc Việt lại đưa vào Ban Hướng Dẫn ? v.v.. ? ( * )

Một đôi lần có vài Huynh trưởng ( đồng hương ) luống tuổi ( tương đương ) hoặc trung niên của thế hệ mới GÐPT cũng đặt những câu hỏi, gọi là tâm tình như vậy. Tôi chỉ lặng lẽ với tâm hồn và ngắn gọn là Ðồng ấu Phật học mà !

Thú vị thật Ðồng Ấu ! Mà cũng đúng và mến thương hai chữ Ðồng Ấu thuở nào ! và do Ðồng Ấu để được GÐPT Giáo hội Tăng già Bắc Việt quý mến gắn lên mình « Huynh Trưởng « ( thời Ðồng Ấu chưa có từ này ), và năm sau được tin GÐPT Trung Ương phong Huynh Trưởng Cấp Tấn.

Thiện duyên được "bán vào chùa" tôi được thọ hưởng hồng ân Tam Bảo độ trì trong duyên sinh, để thành người Ðồng Ấu - Huynh trưởng GÐPT.

Hình ảnh tinh hoa tươi mát khởi thuỷ từ thời Ðồng Ấu là :

- Con Phật và Tăng bảo.

- Học Phật về hạnh Từ bi - Vị tha, để trở thành người Phật tử thuần thành, tránh tham, sân, si đền đáp nghĩa tứ ân, nhầm tạo thiện nghiệp duyên mai hậu của kiếp nhân sinh.

Do đó, người Ðồng Ấu - Huynh trưởng của tôi với ý thức thuần lý :

- Phật, Pháp, Tăng bảo.

- Tình lam trong đạo Phật.

đúng theo giáo pháp và mục đích tinh hoa khởi thuỷ của Ðồng Ấu - GÐPT, nhằm tự giác, giác tha để thanh tịnh tâm hồn. Nên đồng cảm bài hát do Trưởng Minh Phương hướng dẫn tập hát trong dịp trại hành hương của Nam, Nữ Huynh Trưởng GÐPT Vĩnh Nghiêm tại chùa Hội Sơn - Thủ Ðức năm 1993 :

Gần nhau

Gần nhau trao nhau yêu thương tình loài người . Gần nhau trao cho nhau tin yêu đừng gian dối .
Gần nhau trao nhau ánh mắt nhân loại này. Tình yêu trao nhau xây đấp nên tình người .
Cho dù rừng hay lá xanh tươi .
Dù cho biển cạn, nước bao la
Ta vẫn yêu thương nhau mãi mãi ..
( có thể được xin thêm .. . trong ánh đạo vàng )


Mong rằng các Huynh trưởng GÐPT cũng đồng cảm tâm nguyện, để tinh hoa khởi thuỷ luôn viên dung với Ðạo .174

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2007

Cái Búng



     Năm ấy tôi vừa qua tuổi 16, và lần đầu tiên trong đời, tôi đang yêu. Yêu cô bạn học. Có phải là quá sớm không?

Nhưng dù vậy, dù rằng còn thơ dại cả hai bởi nỗi ở tuổi ấy cả hai nào đã biết gì đời, tôi và Hiền vẫn một lòng yêu thương nhau say đắm, say đắm mà trong lành.

Không thể nhận ra khoảnh khắc đầu tiên của mối tình. Chỉ biết rằng sau mấy năm cấp ba cùng một lớp với nhau tới một thời gian nào đó chúng tôi chợt nhận thấy là cuộc sống của chúng tôi thuộc cả về nhau. Có bao nhiêu là cô gái trong lớp, trong trường và trong cõi đời này nhưng tôi chỉ thấy có một, chỉ một ánh mắt, chỉ một giọng nói, điệu cười, một vóc dáng. Và tôi cũng cảm nhận được rằng tôi là duy nhất mà Hiền cần, rằng Hiền chỉ yêu tôi thôi, tôi là của Hiền. Để có thể trọn đời bên nhau, chúng tôi cùng nhau nộp đơn xin vào khoa Hoá của Đại học Tổng hợp, mặc dù chỉ có Hiền là thực sự yêu thích và học giỏi môn đó. Nhưng không sao cả, tôi sẽ gắng. Trái ước nguyện ngành nghề một chút, song sẽ không bao giờ phải xa Hiền.

Những tháng cuối cùng của đời học trò trôi qua tuyệt diệu. Cả một trời bao la những hứa hẹn tốt lành mở ra trước mắt.

Hôm đó chúng tôi vừa thi xong môn cuối cùng của kỳ thi tốt nghiệp phổ thông. Ai nấy thở phào. Chia tay nhau ở cổng trường, Hiền hẹn: "Tối nay chúng mình đi chơi đi anh. Em chắc là mẹ sẽ cho phép". Tôi sững sờ. Lần đầu tiên Hiền xưng em, gọi anh. Lần đầu Hiền hẹn hò buổi tối.

Tối ấy, chẳng những cho phép hai đứa đi với nhau, mẹ của Hiền còn thuận để hai đứa được cùng một xe đạp.

Trong niềm hạnh phúc lâng lâng, bổng bay, tôi đạp xe và tôi cảm thấy được không phải là sức nặng mà là sự mềm mại nhẹ nhõm, vẻ duyên dáng nhẹ nhàng của người con gái tôi yêu. Hẳn là bạn cũng biết đấy, ở cái tuổi 17 của chúng tôi hồi ấy người ta yêu nhau không hề gợn đục. Càng yêu nhau người ta lại càng trở nên không còn là những thân thể cụ thể đối với nhau.

Tuy nhiên, dường như chính sự thuần khiết ấy đã biến tình yêu ở tuổi đó thành mộng ảo, mong manh đến nỗi thường là không chịu đựng nổi dẫu chỉ là một cái búng thôi của sự đời.

Tối hôm ấy, giờ này qua giờ khác, hai đứa chúng tôi chở nhau lang thang trong thành phố. Đêm hè. Đường phố dần vắng lặng. Đèn đường rải rác, mập mờ bóng cây, bóng người. Dường như chỉ còn tiếng hai chúng tôi trò chuyện. Tôi nói với Hiền. Hiền nói với tôi, nghe tôi. Chúng tôi khẽ cười. Chúng tôi im lặng, rồi lại nho nhỏ cất tiếng.

Chợt, ngay đằng sau vang lên những giọng khàn khàn, những giọng rông rổng. Đang nói, Hiền lặng thinh. Tôi ngoái cổ lại. Gần chục chiếc xe đạp dàn hàng ngang đang áp theo chúng tôi. Những đốm lửa thuốc lá soi lên gồ ghề những bộ mặt. Tôi đạp mau, đám người đằng sau cũng đạp mau. Tôi chậm lại để họ vượt qua, họ liền chậm lại. Đường Hoàng Diệu vắng lặng, tối mờ và thật là dài. Còn xa mới tới ngã năm Cột Cờ.

Tôi chẳng biết xử trí ra sao. Cái lũ đang đeo dính chúng tôi không có ý đinh cà khịa, họ không gây sự, không giở trò côn đồ, họ coi như tôi không có, họ chỉ nhũng nhẵng theo Hiền. Họ ỡm ờ hỏi han những câu vớ vẩn, cợt nhả những lời trêu chòng trơ trẽn và không ngớt rộ lên cười khoái chí tán thưởng nhau.

Ngay cả những bậc lão luyện mà lâm cảnh này cũng phải cam lòng chịu nhẫn, huống hồ tôi. Đành im thin thít cắm cúi đạp. Hiền run rẩy nép vào tôi. Có lẽ cũng như tôi, Hiền đang thở không ra hơi. Sợ hãi và hổ thẹn tê điếng cả người.

Tuy nhiên chúng tôi không phải chịu đựng lâu. Đám anh chị nhanh chóng mất hứng trước sự im lặng nhẫn nhục của đôi thiếu niên con nhà lành. Bực mình và chán ngấy, họ bỏ cuộc, tất cả dừng xe lại.

Tôi vội đạp dấn lên. Tim nện thùm thùm. Được một quãng xa, đạp chậm lại, tôi gắng trấn tĩnh, lấy lại hơi thở và băn khoăn tìm lời an ủi Hiền. Không ngờ lại có tiếng đạp rào rào đuổi lướt tới. Nhưng lần này chỉ một tên trong bọn rượt theo chúng tôi. Lên ngang xe tôi, y áp cà vào. Một gã to con, vai rộng, quần soóc bò, áo phông, đầu húi cua, xe đạp đua. Tôi nén sợ, đạp từ từ, thủ thế.

- Ê! - Gã nọ ghé mặt vào sát mặt tôi. Tuổi gã chừng ba mươi hơn, gò má cao, hàm rắn câng, râu quai nón, giọng rất trầm - con bé của mày nom ngon quá. Thịt thơm và chắc phải biết, đúng không?

- Gã nói từ tốn, đủ nghe.

Tôi tái người.

- Này! - Gã vỗ vai tôi - thế hai đứa chúng mày đã... nhau chưa?

Uốn lưỡi, nhả hết liều lượng của cái động từ động đực ấy vào mặt chúng tôi, gã đàng hoàng lượn xe lại, phóng đi.

Xây xẩm mặt mày, chỉ chút nữa là tôi đánh đổ xe. Tôi và Hiền đứng lặng đi rất lâu trong khúc đường tối, không nhúc nhích, không nhìn nhau, không nói nổi với nhau nửa lời.

Khi về đến trước nhà, Hiền xuống xe, lý nhí nói gì đó, rồi lùi lũi đi vào cổng. Tôi quay xe, đạp nhanh về nhà.

Mối tình từ đó rơi hẫng. Chúng tôi tránh mặt nhau. Tôi thi và đỗ vào Tổng hợp Hoá. Còn Hiền, Hiền rút đơn, không thi vào Tổng hợp nữa mà thi vào trường khác.

Thậm chí nhiều năm sau gặp lại ở ngày hội lớp, chúng tôi vẫn tránh ánh mắt của nhau. Hiền mỉm cười gượng gạo. Tôi thì vội nhìn lảng đi, thái độ trở nên ngượng ngập khó chịu, bởi vì không thể nào khác được tôi lại nhớ đến cái động từ ghê tởm đêm ấy, và tôi biết rằng nó cũng đang dội lên trong tâm trí Hiền.

Chuyện như vậy chắc là bạn thấy khó tin? Nhưng tôi như thế thật đấy. Và tôi nghĩ chẳng riêng tôi, bạn cũng vậy thôi, thỉnh thoảng bạn vẫn vướng phải những chuyện mà người khác chẳng buồn để tâm nhưng bạn lại xúc động sâu xa, bạn không thể quên, như là một vết tự thương cứa sâu vào lòng, khó bề chữa khỏi. Ấy là những nỗi đau vô cớ, những bất hạnh mơ hồ, những đắng cay chua xót không đâu, những nỗi nhục, những mặc cảm không có duyên do, không tài nào ai hiểu nổi vẫn thường đầy rẫy trong cuộc đời mỗi người.
130

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2007

Ăn mừng



Bữa nay cụ Phán Uyên, đã được hiểu rõ cái gì là cái vinh quang, những đồ mừng quý giá, những tấm câu đối đỏ treo la liệt khắp tường, đã đủ an ủi về số tiền bỏ ra. Cái cảnh "ăn uống ầm ầm" hai hôm nay không khiến cụ sốt ruột nữa. Đọc những chữ chúc mừng rất văn chương bằng dạ đen trên nền đỏ, cụ mới khám phá ra rằng: chao ôi thì ra mình xưa nay vẫn có nhiều đức tính mà chính mình không biết, để mà sướng như một kẻ chết được lắm câu đối khóc có thể được thỏa cái vong hồn... Thật là linh đình, và vui vẻ. Thật là vinh dự cho tổ tiên.

Trong hai ngày ăn uống thì hôm qua để cho họ hàng và con cháu trong nhà. Chính hôm nay mới là để mời khách ở tỉnh. Đây, bàn các bạn đồng sự của cụ, phần nhiều là nhà nho, số đông đã có nhiều phẩm hàm, huy chương. Tô điểm cho dăm đám người ấy có một quan Bố và một quan Phủ, họ bên nhà vợ của cụ, và đã làm cho cụ tăng thêm sĩ diện. Kia là bàn các ông cũng tai to mặt nhớn thuộc tân học, bạn hữu của "anh tham" nghĩa là vào hàng con cháu cụ mà thôi. ở buồng xép bên cạnh thì các cô đốc, cô giáo, bạn hữu của con gái cụ vậy. Ai cũng về dự tiệc vui vẻ và đông đủ. Thì phải biết cái cách xử thế xưa nay cụ là tròn trĩnh thế nào! Một khi cụ đã về làng thì cũng phải thế nào cho đẹp mặt với người làng! Khách tỉnh về tới tấp hết lượt này đến lượt khác, phần nhiều bằng xe nhà, và có cả hai chiếc xe hơi đỗ ngoài cửa đình nữa! Nghĩ như thế, cụ lại kiêu ngạo như một đứa bé con...

- Chúng mày đâu cả rồi! Rõ thế đấy! Ngần ấy con người để sai bảo mà gọi lấy thêm có một ít dấm nữa cũng không đứa nào đi lấy được đấy!

Lời gắt của cụ lẫn lộn mất vào tiếng đàn, tiếng trống, tiếng hát, tiếng phách... Cụ nhìn trước nhìn sau, lắc đầu thở dài... Vì có ba tên người nhà thì hai đứa đương bưng những bát cỗ mới hâm cho những bàn ở xa, còn một đứa thì đương chới với, buộc bánh pháo dài vào ống máng. Cụ toan tiến bước xuống phía nhà bếp thì chợt một bàn tay nắm cụ lại, trước một câu nói sốt sắng thế này:

- Cụ ơi, cụ hãy vào đây với con!

Đó là một khách trẻ tuổi, mà cụ không nhớ rõ tên, âu phục chải chuốt khiến cụ kính nể lắm.

- Con tấp tểnh cũng làm được một bài hát để mừng cụ, chẳng biết hay dở như thế nào, xong cũng xin mạn phép các quan khách đây một phen...

Người ấy mời cụ ngồi xuống ghế, đưa ra một bài thơ bằng mực đen giấy trắng, lại nhét luôn cả cái dùi trống vào tay cụ nữa, nói tiếp:

- Bài hát mừng cụ thì xin cụ thưởng thức mấy tiếng trống cho chúng con cùng nghe.

Thẹn quýnh cả người, cụ Phán Uyên đẩy cái trống ra, ấp úng:

- Văn chương của ông... thì xin... để phần ông, vì thật tình, tôi cũng không biết đánh trống cô đầu.

Rồi cụ giương mục kỉnh lên đọc bài hát nói ấy; xong mỗi câu lại thấy mặt cụ vui tươi thêm lên. Sau cùng, cũng không biết bình phẩm dài lời, cụ chỉ đưa trả tác giả bài hát với cái dùi trống và từ chối:

- Hay lắm! Nhưng mà tiếc rằng tôi không biết đánh trống, để xin ông cho nghe... Văn hay lắm!

Khi đưa cho đào nương mảnh giấy, cụ rất hổ thẹn, thấy rằng mình quê mùa một cách đáng giận, và thú ả đào quả thật là một thứ văn chương tao nhã thật, chứ không phải chỉ là những trò bậy bạ như người ta vẫn nói xưa nay.

Cố nhiên, tác giả những câu hát nói kia nhất quyết chối từ. Cuối cùng, danh dự thưởng văn về tay người cao chức nhất bàn tiệc, là quan Bố Chánh, ông anh họ nhà vợ của cụ chủ. Quan Bố gọi cụ Phán đến ngồi bên mình, rót một cốc rượu nhỏ để trước mặt cụ, giao hẹn bằng một thứ tiếng đồng sang sảng, nghiêm nghị và đáng sợ như những lệnh ban ra giữa công đường:

- Đây, cứ mỗi tiếng chát thì ông lại cạn một cốc rượu, vì mỗi tiếng chát của tôi không những là thưởng một câu văn mà thôi, nhưng còn đồng ý với tác giả để ca tụng cái cảnh phú quý, an nhàn của ông nữa.

Mọi người vỗ tay, rồi có đến hàng mấy chục người nữa vỗ tay theo. Bên buồng xép ở tận trong kia, đám phụ nữ cũng bỏ đũa bát để đứng thấp thoáng trong mành nhìn ra, chú ý đến cái đại sự ấy nó làm tăng phần trang trọng cho cuộc vui tuy vậy trước vẫn tẻ ngắt. Cụ Phán Uyên xoa tay xin lỗi một cách hiền lành đáng tức cười:

- Bẩm, mỗi tiếng chát lại một cốc rượu thì có lẽ cũng nhiều quá, vậy xin cho xong bài thì hãy cho một cốc.

Tuy có một vài cụ phản đối lại cụ phán để về bè với quan Bố nhưng sau cùng các quý khách cũng biết nể cái sức khỏe của mái tóc hoa râm. Rồi thì cô đào e hèm dọn giọng, rồi bác kép vặn lại dây đàn, rồi quan Bố tom tom tom cho khách ngừng đũa lắng tai nghe để trở nên một cử toạ nghiêm chỉnh.

Cành mai hạc đậu thêm xinh,
Bốn mươi năm nữa, khang ninh còn dài,
Ngày xuân cảnh thế tươi cười,
Đào nguyên há để riêng người ngày xưa!
Gia nhân chinh cát,
Trên tiệc đào kẻ trước dắt người sau...
Cuộc trăm năm trời có hẹn ai đâu?
Con hạc trắng bấy lâu về bến Nhuệ,
Mai cốt cách mai già mai vẫn thế
Đào nhởn nhơ đào thắm vẻ thêm xuân.
Lắng tai nghe tiếng chúc lẫn cung đàn,
Cất chén cúc mừng người trên thọ tịch,
Khách bạch ốc nào ai tiên trích
Xin dang tay "giật phịch" quả đào tiên...
Cõi trần cũng có Đào nguyên.

Quan Bố ngất ngưởng đánh luôn: tom tom tom chát tom!

Đoạn cụ gật gù nói rõ to:

- Hay thật đấy chứ! Văn chương như thế mới gọi là tân thời... "Xin dang tay giật phịch quả đào tiên". Thế có lẳng lơ không? Chuyến này thì cụ phán nhà tôi sẽ vì câu thơ ấy mà cải lão hoàn đồng!

Quan Bố ngừng một lát, trông trước nhìn sau, rồi vẫy tay gọi một cô trong bốn cô đào rượu mải tiếp cho các quan khác gần đấy:

- Này, cô kia! Cô áo đỏ kia! Lại đây đỡ hộ chén rượu cho chủ nhân cạn hộ đi.

Khi cô đào trẻ tuổi đến đứng bên cụ phán, bẽn lẽn nâng cốc rượu thì nhanh như cắt, quan Bố đã nắm lấy một bên cánh tay cụ phán mà quệt một cái vào ngực cô ả, để rồi cười nức nở cắt nghĩa:

- Này thì đây: xin dang tay giật phịch quả đào tiên! Các ngài đã thấy chưa?

Lúc ấy cụ Phán Uyên đương mải hớp chén rượu, cho nên khi cụ vội lôi được tay ra, cái cử chỉ bó buộc kia cũng đã xong hoàn toàn. Cụ thẹn đỏ cả mặt, sung sướng, đến ứa nước mắt, vì lúc ấy, cử toạ khen cụ sốt sắng như khi họ đi xem đá bóng mà gặp lúc có quả vừa sút vào gôn. Cụ vội vàng đứng lên chạy tuy không biết định chạy đi đâu, như người muốn đi trốn. Sau cùng, cụ đánh trống lảng bằng cách gọi đầy tớ ra mà mắng:

- Lấy thêm ít dấm tây vào bàn này! Sao mày đốn thế, mày để tao gào rát cả cổ!

Tuy nhiên giọng gắt của cụ thật tình lúc ấy cũng không dữ tợn là mấy, vì cụ vẫn còn thấy rõ cái cảm giác dịu dàng về một bên ngực cô đào trẻ nó chưa tiêu tan hẳn mà lại còn như đọng quyện lại ở cả năm đầu ngón tay già nua đã mấy chục năm rồi chẳng còn biết gì là mùi xuân.

Chợt thấy quan Phủ gọi cụ rồi nói một hồi dài:

- Này chủ nhân ơi! Nhà nho là thâm lắm đấy nhé! Thôi xin các ngài cũng đừng ai nỡ ép duyên ông anh tôi nữa. Ông anh tôi đã trình bày cái cảnh ngộ éo le, khó xử, của ông anh tôi, ra với thiên hạ rồi! Đấy các cụ xem: quan Bố tôi vừa mới ép duyên xong thì ông anh tôi tức khắc gọi người nhà lấy thêm dấm. Chao ôi, thế thì ông anh tôi đã đủ thâm trầm hay chưa? Vì rằng trong Kiều có câu: Dấm chua lại tội bằng ba lửa nồng!

Rất nhiều người lại vỗ tay ran, cười to đến vỡ nhà vỡ cửa. Một cụ bảo cô đào non áo đỏ:

- Này em ơi, thôi thế thì em cứ cam chịu ở trầm luân khổ hải thôi chứ người quân tử chẳng vớt em đâu!

Một người trẻ tuổi đứng lên nói:

- Thưa các cụ trăm điều chẳng qua chỉ tại tác giả cái bài hát nói ấy.

Ông khách âu phục trẻ tuổi từ nãy ngồi lặng im vừa thẹn vừa kiêu ngạo về cái bài văn của mình, đương lắng tai nghe xem có ai thì thào chỉ trích gì không, bấy giờ đành phải đứng lên, đón đỡ:

- Bẩm các cụ, chúng tôi không ngờ rằng cụ Bố tôi đây ngài lại hiểu bài văn ấy một cách kỹ đến thế để mà đem lý thuyết thực hành ngay như thế.

Quan Bố cười khà khà, lên râu bảo thiếu niên:

- Thế thì đôi ta tri kỷ lắm chứ còn gì nữa! à quên, xin các cụ thưởng một cốc cho tác giả bài văn hữu tình. Chị áo đỏ đâu, chị lại mời ông ấy cho tôi một cốc nữa.

Lại vỗ tay...

Nhưng chợt một ông khác, cũng trẻ tuổi, mặt đỏ nhất tất cả, đứng lên trịnh trọng nói:

- Bẩm trên các cụ, dưới các ông...

Mọi người giật mình lắng tai nghe biết là sắp có chuyện. Ông kia tiếp:

- Quan Bố chánh thưởng tác giả bài hát nói ấy cốc rượu là vì nó có tính cách hữu tình. Tôi cũng xin hoan nghênh. Nhưng mà xong rồi thì tôi xin các cụ và các ông cho tôi phạt nhà thi sĩ ấy ba chén vì đó là một nhà thi sĩ tham lam! Vì sao? Vì cụ phán nhà tôi đây bữa nay chỉ có khánh thành nhà mới thôi, vậy mà bài hát mừng có câu mừng cả tiệc thượng thọ nữa, thì, cái lối "tiện dịp" như thế là có hại cho tôi, vì sang năm đúng sáu mươi mà cụ phán tôi không khao thượng thọ nữa thì là lỗi ở nhà thi sĩ ấy. Vậy thì phải phạt.

Tác giả bài hát nhìn quanh một lượt thấy trong dăm chục quan khách có một số đông gật gù biểu đồng tình với ông phản đối kia, thì rất lấy làm lo, bèn cãi:

- Tôi xin uống ba chén rượu ông phạt! Nhưng nếu sang năm cụ Phán tôi lại khao thượng thọ nữa, thì ông sẽ đáp tôi ra sao? Và có lẽ ông chưa nghe kỹ bài hát!

Ông kia gân cổ lên, hùng hồn chẳng kém:

- Tôi cho ông phạt trước tôi ba chén nữa, sau khi ông uống ba chén mà các cụ phạt ông!

Nhiều người lên tiếng xôn xao, không chịu nhận trách nhiệm về ba chén rượu phạt ấy, ông kia lại nói:

- Sao tôi lại chưa nghe kỹ! Ông chả có câu: "Cất chén chúc mừng người trên thọ tịch" là gì! Vậy ông thử đọc tất cả câu đối đây xem có ai mừng thọ tịch không?

Có một người cãi hộ:

- Nhưng mà thọ tịch ở đây là ý phụ không phải ý chính!

Tham Châu vỗ vai ông kia, khẽ gắt:

- Thôi đi, tôi van ông nữa, ông đừng gây sự thế! Ông say lắm rồi! Và ông uống ít chứ!

- Thưa chú, tôi chưa say, và trước mặt công chúng thế này, xin chú đừng mắng tôi! Chú còn là đàn em biết chưa!

Ông ấy vừa nói được có thế thì đã đưa tay lên giữ cổ, khòm lưng xuống, rồi nôn ồng ộc ngay ra đấy như một cái ống máng! Thiên hạ ghê tởm quay nhìn đi chỗ khác và nhà thi sĩ thì khẽ so vai một cái hả hê. Đầy tớ mau quét dọn, trong khi Tham Châu nhăn nhó ôm xốc ông quý khách ấy vào bàn đèn thuốc phiện:

- Các ông mau tiêm cho ông ấy một điếu cho giã rượu... Rõ khổ quá, cứ uống như một cái phễu!133

Thứ Tư, 27 tháng 6, 2007

Anh, tôi và máy tính



Ngày hẹn gặp nhau, trời không nắng cũng không mưa. Tôi đến sớm nên nhìn thấy anh trước. Tôi nhắm mắt lại rồi mở mắt ra, hy vọng chỉ là ảo giác...

Ngày mới quen nhau, tôi đã nửa đùa nửa thật: "Anh giống hệt chiếc máy vi tính. Ðầu là CPU, gương mặt là màn hình, cái miệng là bàn phím, còn trái tim là con chuột". Anh gí ngón tay vào trán tôi, cười to: "Em chỉ khéo tưởng tượng, làm sao giống được, bởi anh biết yêu em. Anh chỉ giống máy vi tính ở chỗ biết xử lý rất nhanh mọi tình huống". Ðến lượt tôi phì cười nhớ lại buổi đầu gặp anh, với một kiểu tỏ tình quái lạ chẳng giống ai.

Hôm ấy, mới nộp đơn xin việc xong, vừa hồi hộp vừa lo, tôi ghé một quán nước gần trường cũ, gọi ly cà phê uống trấn tĩnh. Ðang ngồi thẫn thờ, tôi cảm thấy nong nóng sau gáy, quay lại thì bắt gặp một ánh mắt. Chúng tôi nhìn nhau thật lâu, nửa như muốn thi gan, nửa như trêu đùa. Anh đột ngột đứng phắt dậy, tiến đến bàn tôi rồi nói một mạch: "Anh là Minh, kỹ sư tin học. Anh muốn biết tên và địa chỉ của em!". Lúc ấy, như bị thôi miên, tôi ngoan ngoãn xé vội mảnh giấy, ghi tên và số điện thoại rồi đưa cho anh.

Tối đó, anh gọi điện đến thật. Nói chuyện với nhau gần hai tiếng đồng hồ, "nấu cháo điện thoại" như tôi hay nói đùa. Ba ngày sau, anh xuất hiện trước cửa nhà tôi, tay ôm một bó hoa hồng...

Bạn bè khen: "Chúng mày đẹp đôi!" và trầm trồ về mối tình lãng mạn, tưởng chỉ có trong phim hay tiểu thuyết. Chẳng ai biết rằng, tôi và anh khác nhau như nước với lửa, như mặt trăng với mặt trời. Anh trầm ngâm ít nói, tôi liến thoắng luôn miệng. Anh có thể ngồi suốt ngày bên cạnh chiếc máy vi tính, cũng như tôi ngồi suốt ngày với mấy quyển sách.

Có khi, mấy tuần liền, tôi không thấy mặt anh. Những lời thăm hỏi qua điện thoại, lúc đầu làm tôi vui vui, nhưng sau đó làm tôi thấy tủi thân. Sau nữa là buồn, trống vắng và cuối cùng là cảm giác bực bội, chán nản.

Có lần, tôi trách anh chỉ biết sống hết mình cho công việc mà không biết hết mình cho tình yêu. Cho là tôi ích kỷ, anh bảo: "Ghen tị với con người chứ ai lại ghen tị với máy vi tính". Gặp nhau, anh tiếp tục say sưa nói toàn chuyện tin học, kể về những người bạn mới quen được trên mạng. Tôi tập thói quen im lặng bên anh, nghĩ ngợi chuyện văn chương. Ðôi khi tôi cũng tự hỏi, phải chăng đó là người mình yêu.

Chúng tôi chia tay nhau, sau một lần tôi ốm nặng. Cô bạn thân đến tìm anh báo tin, anh vẫn dán mắt vào màn hình máy tính. Ðúng ba hôm sau, anh mới đến bệnh viện với nụ cười hối lỗi vụng về.

Ngày chia tay nhau trời không nắng, không mưa, chẳng có mây đen mù mịt, mà cũng chẳng có giông tố đầy trời... Tóm lại là không lãng mạn chút nào.

Thỉnh thoảng, anh khuấy động tôi bằng những tiếng chuông điện thoại. Lần nào cũng vậy, nhận ra giọng anh, tôi lặng lẽ gác máy. Bạn bè bảo: "Mày bướng bỉnh, cố chấp quá". Tôi lắc đầu, cười mà ứa nước mắt.

Tôi cắt tóc ngắn, trở lại thói quen ngồi quán cà phê một mình, dạo phố lang thang một mình, thức khuya hơn, nhưng đọc sách ít hơn và bắt đầu tin là có số phận.

Bạn bè giới thiệu liền mấy chàng để tôi làm quen, nhưng không ai... giống anh cả. Nga, cô bạn thân đến kéo tôi ra khỏi trạng thái "trầm uất" bằng cách rủ tôi đi học thêm tin học. Tôi đồng ý vì muốn biết nhiều hơn về thế giới của anh, thế giới đã biến anh trở nên y hệt một chiếc computer lạnh lùng, không hồn.

Ðến lượt tôi suốt ngày ngồi bên máy vi tính. Tôi vào mạng Internet, tìm thêm những thông tin cho nghề nghiệp. Và rồi tôi cũng thấy thinh thích chuyện gẫu với những người bạn không biết mặt.

Ðang lúc tôi bắt đầu tin trong ký ức con người có phím delete như máy vi tính, thì một người khác xuất hiện. Chúng tôi quen nhau qua mạng Internet. Lúc đầu, tôi bị ấn tượng bởi cái tên rất lạ: Downcome, thế là tán gẫu thử. Trò chuyện mấy lần mới biết anh chàng cũng là một kỹ sư tin học. "Downcome nghĩa là thất bại, sao anh lại chọn tên ấy?" "Bởi vì tôi thích và vì tôi cũng đã từng thất bại. Còn em sao lại chọn tên Soundless". "Vì hồi trước nói nhiều quá, nên bây giờ muốn im lặng" "Chúng ta có thể là bạn được không?".

Tôi thở hắt ra, cảm thấy thời gian dường như trôi ngược lại, bất chấp các định luật vật lý. Tôi trả lời: "yes, sir".

Hầu như ngày nào chúng tôi cũng vào mạng trò chuyện với nhau. Lũ bạn ngạc nhiên: "Mày điên rồi, tìm quên hả?". "ừ thì điên, mà có lẽ cũng sắp quên được rồi". Tôi mạnh miệng, nhưng lại giật mình tự hỏi, quên một con người nhanh chóng không biết là điều tốt hay điều xấu.

Downcome bảo: "Nói chuyện với Soundless thật vui. Soundless làm tôi vừa nhớ lại vừa quên một người". "Tôi cũng có cảm giác giống y như vậy". "Nếu ngày xưa tôi được gặp Soundless thì có lẽ tôi không thành Downcome". "Vì không gặp Downcome nên tôi mới thành Soundless". "Vậy thì cho xin địa chỉ nhà nhé!".

Tôi chợt rùng mình: "Không, không, chuyện gẫu là đủ, biết nhiều không khéo lại khổ nhiều". "Sao bi quan thế!". "Ðó mới là lạc quan". "Ðừng bắt chước Hămlet suy tư gặp gỡ hay không gặp gỡ, mà phải bắt chước Juliet hỏi Romeo ai đưa lối cho chàng đến đây".

Tôi tập làm Hămlet, suy tư mất mấy ngày liền. Chuông điện thoại lại reo, lần này tôi ngồi im, đếm được mười ba tiếng thì nó im bặt, bỗng thấy nhẹ lòng.

Mấy ngày sau, Downcome lại rủ gặp nhau. Tôi vẫn phân vân: "Gặp nhau biết đâu thêm buồn". "Thì hai người buồn cùng đi tìm một niềm vui". "Triết lý hơi bị xoàng". "Nghề nghiệp có dính đến văn chương phải không?". Tôi chợt run: "Sao anh biết" "Ðã từng có một người bạn gái có lẽ cũng giống như Soundless". "Không giữ được à?". "Tuột khỏi tay mất rồi". "Cảm giác thế nào?". "Tiếc và buồn. Nhưng đừng nói nữa, để gặp nhau nói nhiều hơn".

Tôi tò mò: "ừ thì gặp. Cà phê Văn khoa nhé!". "Có cần ám hiệu gì không? Tôi mặc quần xanh, áo đỏ, đội nón trắng, xách cặp đen...". Tôi cười phá lên trước máy vi tính: "Nên mặc đồ đen như Hămlet". "Nói chuyện nghiêm chỉnh đi, làm sao để nhận ra Soundless?". "Tóc ngắn, mắt to, miệng rộng, mũi hếch, quần jean, áo xanh". "Còn tôi cũng tóc ngắn, mắt vừa vừa, miệng rộng, mũi không hếch, quần Jeans, áo sọc xanh. à này, tôi nói một điều rất quan trọng, rất thật lòng: Tôi yêu em".

Tôi mở to mắt nhìn dòng chữ trên màn hình, thấy nhói tim. Sao trên đời này có những người giống nhau đến thế.

Ngày hẹn gặp nhau trời lại không nắng cũng không mưa. Tôi đến sớm nên nhìn thấy anh trước. Tôi nhắm mắt lại rồi mở mắt ra, hy vọng chỉ là ảo giác, rằng Downcome và anh Minh ngày xưa của tôi không thể cùng là một người. Anh tháo kính, đưa tay dụi mắt, rồi đeo kính vào và quả quyết tiến đến bàn tôi ngồi. Chúng tôi im lặng, nhìn nhau rất lâu rồi cùng cười phá lên.

Bây giờ tôi và anh nói chuyện v142

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2007

Bán thân



1. Hắn vốn là người siêng năng, nhưng số phận hắn - như người ta hay nói - đen như mõm chó. Nợ nần lút đầu. Thân thể hắn gầy nhom, nước da xanh mét, mắt lờ đờ. Bộ mặt lúc thì cau có, gắt gỏng, lúc thì im ỉm như đưa đám, trông bệ rạc chẳng khác cái nhà của hắn - nếu có thể gọi là “nhà” bởi vẻ lụp xụp tối tăm, ẩm thấp của nó.
Bữa nọ, đi đâu về trông hắn tươi tỉnh hẳn. Vợ hắn thấy lo, bởi khi nào trông hắn vui vẻ là sắp có "chuyện lớn", ít nhất cũng là đi khất nợ hoặc mượn nợ để mua rượu đổ vào mồm hắn.
Thế nhưng sự việc lại ngoài dự đoán. Hắn nói với vợ: “Nếu cảnh này cứ tiếp tục, cả nhà mình cũng sẽ chết thôi. Tao nghĩ, cách hay hơn hết, mẹ mày nên cho thuê cái thân mẹ mày đi!”, “Gì? Bán cái xác của tôi à?”. Người vợ đang cho đứa con trai mới lên 3 tuổi ngậm vú thảng thốt nói với giọng run rẩy. Căn chòi tranh im lặng hoàn toàn. Sau khi đã thở ra một hơi dài thật nặng nề, người đàn ông nói tiếp: "Hôm qua tao gặp bà Lưu. Bà ấy bảo, có lão Triệu đã ngoài lục tuần rồi mà chưa có con. Ông ấy muốn mua thêm một tì thiếp, nhưng mụ vợ không chịu. Mụ vợ chỉ bằng lòng cho lão ấy thuê một nàng hầu trong vòng vài ba năm thôi. Lão đã nhờ tìm cho một người đàn bà khoảng ngoài 30, đã qua sinh nở đôi lần, nhưng phải thành thực và siêng năng làm việc, nhất là phải biết phục tùng, lễ phép với bà vợ cả. Họ sẽ trả năm trăm lượng. Nếu trong thời gian đó đẻ được cho họ một đứa con trai thì họ sẽ tăng gấp đôi số tiền. Tao thấy vợ mày được lắm. Mày tính sao? Ôi, một ngàn lượng bạc! Cả gia tài đấy mẹ mày ạ. Có nó nhà mình sẽ đổi đời. Tao đã nhận lời bà Lưu rồi. Mẹ mày chịu thiệt vậy!".
Người đàn bà nghe chồng kể nín thinh chẳng nói lời nào. Tâm trí của chị như bị tê tiệt. Chị đau đớn hỏi chồng: “Tại sao không cho tôi biết trước?", “Cần gì, mẹ mày nghĩ coi, nếu không cho thuê mẹ mày đi, cả nhà này chỉ còn chờ chết đói. Giờ chỉ còn chờ ký tên vào giấy giao kèo thôi. Mà mẹ mày sao vậy, tao là chồng mà còn chịu được, mẹ mày có gì mà sợ !", "Trời ơi, sao tôi khổ thế này. Cha mày có nghĩ gì đến thằng cu Chít nhà này không? Nó mới lên 3 tuổi. Không có mẹ nó sống sao được?". Cu Chít là tên thằng bé trai mà chị đang ẵm trong lòng - nó là đứa con trai duy nhất của chị.
"Trời ơi, số phận tôi sao mà cay đắng thế này!?". Đột nhiên chị rên lên khiến thằng cu Chít ngạc nhiên nhả vú ra và kêu: "Mẹ! Mẹ!"...


2. Đêm trước ngày phải rời chồng con, chị ngồi im một mình trong một góc nhà. Chiếc đèn dầu leo lét treo trên bếp, tỏa một đốm ánh sáng yếu ớt như con đom đóm. Chị ẵm thằng cu Chít trong lòng và cúi gục đầu trên tóc của nó. Trong lúc ấy đầu óc của chị phiêu diêu tận đâu đâu. Nhưng hơi thở của đứa trẻ đã kéo chị về với thực tại. Chị khẽ gọi tên con một cách trìu mến: “Cu Chít của mẹ ơi, mai mẹ phải đi xa rồi con!".
Thằng nhỏ ậm ừ không trả lời, chỉ cố rúc đầu vào sâu trong ngực mẹ. Dường như nó chẳng hiểu gì lời mẹ nó vừa than thở. “Mẹ đi lâu lắm. Mẹ đi mãi 3 năm sau mẹ mới trở về con ạ!”. Chị vừa nói với con vừa gạt nước mắt. Thằng bé ậm ừ có vẻ không bằng lòng, rồi lại gục đầu vào ngậm vú mẹ. Chị cố nuốt nước mắt dặn dò tiếp: "Con phải ở nhà với cha. Cha sẽ lo cho con. Cha sẽ ngủ với con và đưa con đi chơi. Con phải ngoan ngoãn nghe lời cha...". "Cha đánh con!” - thằng bé làu bàu. "Cha sẽ không đánh con nữa đâu” - chị dỗ dành con. Nhưng mắt chị không rời cái sẹo nhỏ còn in rõ nét bên má phải của đứa bé. Đó là dấu vết của trận đòn mà chồng chị đánh con khi đang say rượu.
Chị còn muốn nói với con nhiều hơn nữa, nhưng chồng chị đã đẩy cửa bước vào. Hắn ta đi thẳng đến chỗ chị ngồi,
thảy ra bọc giấy nhỏ và nói: "Tao đã nhận được một nửa số tiền rồi. Số còn lại người ta sẽ trả nốt khi mẹ mày đến nơi. Thôi, cứ yên tâm, việc nhà đã có tao lo”. Không khí im lặng hoàn toàn.


3. Vừa bước vào nhà mới, chị biết cuộc đời của chị kể từ nay sẽ không phải đói rét nữa, ít nhất cũng được vài năm. Nhà cửa và ngay cả người đàn ông đã thuê chị về làm tì thiếp cũng đều hơn hẳn những gì chị vừa bỏ đi. Ông Triệu rõ ra là một người đàn ông đàng hoàng, nói năng từ tốn, khoan thai. Còn bà vợ thì cũng tỏ ra là một người đàn bà không đến nỗi độc ác lắm. Ngay buổi đầu tiên bà đã đem kể hết chuyện gia đình của bà cho chị nghe. Bà kể chuyện từ ngày hai vợ chồng mới lấy nhau, từ cái đám cưới linh đình, trọng thể cho đến nay đã 30 năm... cho chị nghe.
15 năm về trước, bà ta đã cho ông một đứa con trai rất kháu khỉnh dễ thương, nhưng chẳng may khi đứa trẻ mới đầy năm thì nó chết. Kể từ ngày đó, bà không còn sinh nở gì nữa. Chính vì vậy bà rất lo sợ. Bà sợ ông sẽ cưới vợ khác
để có con nối dõi tông đường. Mãi đến thời gian gần đây ông vẫn không tỏ ý muốn lấy vợ khác. Có thể ông còn yêu bà hay là thế nào thì bà cũng không biết rõ. Nhưng có điều chắc chắn là ông rất nóng lòng sớm được có con. Bởi thế bà phải lo tìm người sinh con đẻ cái, nối dõi tông đường cho ông và làm cho ông vui lòng không nghĩ đến chuyện lấy vợ khác...
Chị nghe bà vợ cả kể chuyện thì cũng cảm thấy vui vui trong lòng, vì dù sao mình cũng đang đóng một vai trò cần thiết trong cái gia đình này. Cuối cùng, bà vợ cả nói toạc ngay ước vọng của bà với chị, khiến chị không khỏi đỏ mặt ngượng ngùng: "Dù sao cô cũng đã sinh nở vài lần rồi, chắc chắn là cô kinh nghiệm về đường sinh nở hơn tôi”. Nói xong câu ấy bà ta bỏ đi chỗ khác.
Đêm hôm đó ông chủ nhà cũng kể nhiều chuyện về gia đình cho chị nghe. Chị ngồi bên cái rương gỗ sơn đỏ dành riêng cho chị đựng đồ đạc, một vật mà trong đời chị từ nhỏ đến lớn chưa từng dám một lần mơ ước đến. Chị đã mở to đôi mắt để nhìn cho rõ, để ngắm nghía cho thỏa lòng ưa thích cái vật quý báu ấy. Ông chủ nhà đến ngồi bên chị và hỏi: “Cô tên gì?”. Chị bẽn lẽn ngượng ngùng, lắp bắp trả lời không rõ ràng và đứng lên đi về phía chiếc giường. Ông ta cũng bước theo và vừa cười vừa hỏi: "Cô ngượng ngùng à? Hay là cô cứ xem tôi như chồng cô!". Giọng nói của ông dịu dàng và ông ta kéo chị vào lòng: “Cô cũng đừng buồn. Tôi... tôi...”. Ông ta đã không nói thêm, bỏ lửng câu nói, tủm tỉm cười và bắt đầu cởi quần áo... Ngay lúc ấy chị nghe bên ngoài có tiếng bà chủ nhà đang lớn tiếng chửi mắng một người nào đó...". Lại đây cô, mình đi ngủ!" nằm sẵn trên giường ông chủ gọi chị đến.


4. Nửa năm sau, chị c179

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2007

Ba thằng xích lô



Cứ mỗi sáng, khi đi học bước ra cổng nhìn sang bên kia đường tôi lại thấy... ba chiếc xích lô với ba thằng: thằng cao, thằng mụn, thằng ria mép. Chúng say sưa nhậu nhẹt bên chiếc bàn gỗ và vài ba cái ghế đẩu. Khi mọi người bắt đầu một ngày mới, với bao điều lo nghĩ, thì chúng xà vào bàn nhậu... Tranh luận và kể lể những chuyến chở mối buổi sáng và những gì diễn ra trong mắt chúng. Có lẽ chưa có chuyện gì xảy ra trên đời mà chưa qua môi miệng của chúng, đôi khi cao hứng chúng lại văng ra những tiếng chửi thề và những nụ cười thỏa mãn... Thằng mụn lại nói:
- Sáng nay bà Bảy nghỉ chợ làm tao mất cả mối!
Thằng cao tròn xoe mắt hỏi: Sao thế? bả bệnh à?
- Bả đánh đề cụt mẹ vốn rồi! Bả chơi dữ lắm, nghe đâu thiếu tiền đứng cũng mấy triệu.
Thằng ria mép xen vào: Bả ngu bỏ mẹ! toàn đi kiếm đám ma vào xin số. Như tao để tiền nhậu sướng hơn!

Rồi cả bọn lại phá lên cười, một câu truyện lại trôi qua... Cái chum nhỏ lại truyền tay, những giọng cười lại phá lên. Bà Tư bán bún bò đi đánh ghen, thằng Phương con ông Tám hút xì ke bị công an bắt đi cai nghiện... Có khi chúng còn bàn cả chuyện chính trị: về Nam Tư, về các nước Trung Đông. Những tình hình nóng bỏng mà báo chí nước ngoài đưa tin mà báo ta in lại!!!. Câu chuyện lại càng hứng thú hơn, một việc mà cái xóm lao động của nó trở nên nhộn nhịp và sôi nổi. Bé Hai sau những đêm say khướt ở vũ trường, đã vớ được một anh chàng Đài Loan: Đám cưới tổ chức ở nhà hàng sang trọng! Ngày hôm đó trông ba thằng thật ngộ ngĩnh, cũng quần, cũng áo, cũng giầy: giống như ba thằng lật đật trong chốn phồn hoa. Với ánh mắt nhạc nhiên, chúng nhìn ngắm tất cả... Những vật dụng, cách trang trí với những ánh đèn rực rỡ. Bà Chín bán hột vịt lộn trong bộ đầm lòi những sớ thịt với nước da đen sạm vì nắng, khuôn mặt trộn lẫn mồ hôi và son phấn mà bà mượn ở đâu đó. Và một cô dâu tả tơi được khoác lên bộ áo cưới tuyệt vời, bên cạnh một gã mập phệ mà nhìn thật kỹ chúng mới thấy đôi mắt của chàng rể... Rồi chúng lại tiếp tục câu chuyện.

-Thằng mụn lên tiếng: bữa đó uống đã thật! tao quất 12 chai Tiger luôn... Rồi nó lại ực một chum rượu đế cay xè, bỏ vào mồm một miếng dưa chua được trộn lẫn với vài trái cóc xanh.
- Đời tao không gặp thời! Thằng cao vuốt tóc, chua xót: Mẹ! mai mốt cho con út nhà tao lấy Đài Loan... Cả đời sướng!!!

Đột nhiên, chúng đang cao hứng thì vợ thằng ria mép từ trong hẻm vọt ra chửi:
- Mẹ mày! mày chỉ tối ngày lo nhậu, còn tiền học của con Thơm thì đ... lo!
Nó nhếch ria mép và trỏ tay về con vợ: chắc nó mới thua tứ sắc!!
Thế là đôi vợ chồng nó gân cổ lên cãi nhau, vung tay múa chân. Có lẽ thằng ria mép xóc óc trước những câu nói của vợ. Nó lại muốn chứng tỏ nó là thằng đàn ông bằng cách đánh con vợ túi bụi, con vợ nó chẳng kém vừa cấu xé vừa kêu gào. Mọi người can ngăn một lúc rồi chúng mới buông nhau ra. Con vợ có vẻ yếu thế và bị đau sau trận thư hùng nên lủi vào hẻm mất! Còn nó lại cười hề hề bước vào bàn nhậu, lại bàn luận về các đức tính của người say rượu đang gián đoạn.
- Ực! Thằng cao nói: đức tính thứ nhất! Can đảm. Vì ta biết rượu độc, hại mà ta vẫn uống
- Đức tính thứ hai: thật thà! Trong lòng ta có gì ta nói h..ế..t! Thằng mụn cao hứng.
- Đức tính thứ ba: dũng cảm! Gì ta cũng dám làm.. kể cả đánh vợ. Thằng ria mép lè nhè.
- Thứ tư: giản dị!! Đâu cũng là gường ngủ... đâu cũng là n...h...à!!! thằngcao khề khà!

Rồi cả bọn phá lên cười!!!...

Ấy thế mà dạo này tôi không gặp bọn nó! Có lẽ chúng cũng say mê trái bóng lăn !!!? Tôi nghĩ và thương cho ba thằng. Vì dòng đời vẫn cứ trôi ...

Cuộc đời như những bậc thang của kim tự tháp. Đứng dưới đất ta nhìn được xung quanh... Vài bậc thang, ta nhìn ra xa được một tí... ở chóp mũi ta thấy rằng: vũ trụ này thật bao la!! ... Ai ơi!! biết vượt qua được số phận??!!166